Tài Liệu Tham Khảo

1. Đại Trí Độ Luận - Bồ Tát Long Thọ. Hán dịch: Tam Tạng Cưu Ma La Thập, Việt dịch: Ni Trưởng TN Diệu Không. Truy cập từ https://thuvienhoasen.org/a33719/dai-tri-do-luan
2. Kinh Kalama. Truy cập từ https://phatgiao.org.vn/duc-phat-day-10-dieu-cho-voi-tin-d54733.html
3. Kinh Pháp Bảo Đàn - Lục Tổ Huệ Năng. Việt dịch: Thích nữ Trí Hải. Truy cập từ https://www.daophatngaynay.com/vn/kinh-dien/dai-thua/3289-kinh-phap-bao-dan
03-pham-thu-hai-bat-nha.html
4. Kinh Tạp A-Hàm Số 2, Quyển 32, tr. 583. Sa Môn Thích Tịnh Hạnh dịch, 2000.
5. Kinh Tạp A-hàm, kinh số 299. Việt dịch:Thích Đức Thắng. Truy cập từ https://thuvienhoasen.org/images/file/yEYerJ1G0QgQAEIR/kinh-tap-a-ham-thich-duc-thang-dich.pdf
6. Kinh Thắng Man Phu Nhân Hội. Hán dịch: Lưu Chí, Việt dịch: Chân Hiền Tâm. Truy cập từ https://thuvienhoasen.org/p17a1154/kinh-thang-man-phu-nhan-hoi
7. Kinh Trung A-hàm, kinh số 221 – Kinh Tiễn Dụ. Việt dịch & hiệu chú: Thích Tuệ Sỹ. Truy cập từ: https://www.budsas.org/uni/u-kinh-hamtrung/trungaham221.htm
8. Kinh Trung Bộ, kinh số 152 – Kinh Căn Tu Tập. Việt dịch: Hoà Thượng Thích Minh Châu. Truy cập từ https://phatphapungdung.com/phap-bao/kinh-trung-bo-152-kinh-can-tu-tap-111047.html
9. Kinh Trung Bộ, kinh số 71 - Kinh Dạy Vacchagotta về Tam Minh. Việt dịch: Hòa thượng Thích Minh Châu. Truy cập từ https://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung71.htm
10. Kinh Trường A-hàm số 1. Việt dịch: Thích Tuệ Sỹ. Truy cập từ https://www.tuvienquangduc.com.au/kinhdien/223truongaham10.html?utm_source=chatgpt.com
11. Kinh Tương Ưng Bộ, kinh số 27.1, Chương VI: Tương ưng phiền não. Việt dịch: Hoà thượng Thích Minh Châu. Truy cập từ https://thuvienhoasen.org/a696/27-chuong-vi-tuong-ung-phien-nao
12. Kinh Tương Ưng Bộ, Quyển 3, Phẩm Tham Luyến, Chương VII, trang 125-129.
13. Kinh Viên Giác. Việt dịch: Hoà thượng Thích Trí Quang Truy cập từ https://thuvienhoasen.org/a21627/kinh-vien-giac
14. Lý Tứ. Chuyện Chi Đây. NXB Hà Nội, 2021. Tr250-254.
15. Lý Tứ. Tâm Tông Và Trò Chơi Trí Tuệ. NXB Dân Trí, 2022.
16. Nguyễn Đức Sinh. Lục tổ Huệ Năng là người Việt Nam? Website Tạp trí nghiên cứu phật học, 2021. Truy cập từ https://tapchinghiencuuphathoc.vn/luc-to-hue-nang-la-nguoi-viet-nam.html
17. Thích Mãn Giác. Lục Tổ Huệ Năng là người Việt Nam. 2016. Truy cập từ: https://phatgiao.org.vn/luc-to-hue-nang-la-nguoi-viet-nam-d23313.html
18. Thích nữ Liên Thảo. Vấn đề “siêu hình” trong kinh tạng A Hàm. Website Tạp trí nghiên cứu phật học, 2021. Truy cập từ https://www.tapchinghiencuuphathoc.vn/van-de-sieu-hinh-trong-kinh-tang-a-ham.html
19. Thuý Hằng. Thờ cúng tổ tiên – Nét đẹp văn hóa của người Việt Nam. Truy cập từ https://melinh.hanoi.gov.vn/tho-cung-to-tien-net-dep-van-hoa-cua-nguoi-viet
nam-173220130195045071.htm
CBL.64.8 - Tứ Chánh Cần, Sức Sáng Tạo Vô Tận Của Thiện Trí
Hy vọng một ngày, có HĐ nào đó đọc đến đây, “trực nhận ra điều gì”, sẽ thay mình viết tiếp hai chương cuối của bài tiểu luận này. Và khi viết, phải để đoạn kinh được trích phía dưới thay lời kết luận.

Các bạn!
Sáng nay (28/09/2016), đang ngồi sửa các bài viết cũ để hoàn thành cuốn Anh lạc luận. Đến bài luận này, dự tính viết tiếp những gì còn dang dở.
Nhưng mình chợt nghĩ: Viết nửa chừng rồi tạm dừng, nhất định phải có nhân duyên trong Phật đạo, chứ chẳng phải vô cớ! Tại sao không để hai chương này cho người đi sau viết tiếp?
Nghĩ đến đây, trong lòng thật hoan hỷ! Hy vọng một ngày, có HĐ nào đó đọc đến đây, “trực nhận ra điều gì”, sẽ thay mình viết tiếp hai chương cuối của bài tiểu luận này. Và khi viết, phải để đoạn kinh được trích phía dưới thay lời kết luận. Rất cảm ơn!
“Thiện Hiện! Bồ Tát nên tu nghiêm tịnh cõi Phật như thế, nghĩa là trong cõi kia hằng chẳng nghe có ba thứ ác thú, cũng chẳng nghe có các ác kiến thú, cũng chẳng nghe có độc tham sân si, cũng chẳng nghe có hình tướng nam nữ, cũng chẳng nghe có Thanh văn Độc giác, cũng chẳng nghe có vô thường khổ thảy các việc bất như ý, cũng chẳng nghe có nhiếp nhận của vật, cũng chẳng nghe có chấp ngã ngã sở, cũng chẳng nghe có ngủ nghỉ trói buộc, cũng chẳng nghe có chấp trước điên đảo, cũng chẳng nghe có thi thiết hữu tình quả vị sai khác.
Duy chỉ nghe tiếng nói không, vô tướng, vô nguyện, vô sanh, vô diệt, vô tánh thảy. Nghĩa là theo ý muốn sai khác của hữu tình ở trong cây rừng thảy các vật trong ngoài thường có gió nhẹ khua động lẫn nhau phát khởi các thứ tiếng tăm vi diệu. Trong các thứ tiếng tăm ấy nói tất cả pháp đều vô tự tánh. Vì vô tự tánh nên không. Vì không nên vô tướng. Vì vô tướng nên vô nguyện. Vì vô nguyện nên vô sanh. Vì vô sanh nên vô diệt. Bởi đây các pháp bản lai vắng lặng, tự tánh Niết bàn. Như Lai ra đời hoặc chẳng ra đời, các pháp pháp tánh lẽ vậy thường trú, nghĩa là tất cả pháp vô tánh không thảy. Các loại hữu tình trong cõi Phật kia hoặc ngày hoặc đêm, hoặc đứng hoặc đi, hoặc nằm hoặc ngồi thường nghe tiếng tăm diệu pháp như thế.
Thiện Hiện phải biết: Chúng các Bồ tát Ma ha tát đây mỗi trụ chỗ ở cõi Phật nghiêm tịnh, khi chứng được Vô thượng Chánh đẳng giác, các Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác mười phương đều đồng khen ngợi danh mỗi Phật kia. Nếu các hữu tình được danh các Phật ấy, tất đối Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề được chẳng quay lui.
Chúng các Bồ tát Ma ha tát này mỗi trụ chỗ ở cõi Phật nghiêm tịnh, khi chứng được Vô thượng Chánh đẳng giác, vì các hữu tình tuyên nói Chánh pháp. Hữu tình nghe rồi định chẳng sanh nghi rằng vì là pháp hay phi pháp thảy. Sở dĩ vì sao? Vì loại hữu tình kia đạt tất cả pháp đều tức chơn như, pháp giới, pháp tánh tất cả là pháp không phi pháp thảy.
Như vậy, Thiện Hiện! Chúng các Bồ tát Ma ha tát này đều năng nghiêm tịnh được cõi Phật như thế.
Lại nữa, Thiện Hiện! Chúng các Bồ tát Ma ha tát này giáo hóa bao nhiêu hữu tình đủ căn bất thiện, chưa đối chư Phật, Bồ tát, Độc giác và Thanh văn thảy trồng các căn lành, nên bị bạn ác tri thức thu nhận. Vì xa lìa bạn lành nên chẳng nghe Chánh pháp, thường bị các thứ kiến chấp ngã, hữu tình và bị các kiến thú thu giấu, rơi tại chấp lệch lạc hai bên đoạn thường. Loại hữu tình kia tự khởi tà chấp, cũng thường dạy người khiến khởi tà chấp. Đối phi Tam Bảo khởi tưởng Tam Bảo, đối trong Tam Bảo bảo phi Tam Bảo. Hủy báng Chánh Pháp, khen ngợi tà pháp. Bởi nhân duyên này thân hoại mạng chung đọa ba ác thú, chịu nhiều thứ khổ.
Chúng các Bồ tát Ma ha tát này đều trụ cõi mình chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, thấy các hữu tình lộn quanh sanh tử chịu vô lượng khổ, đem sức thần thông phương tiện hóa đạo khiến xả ác kiến trụ trong chánh kiến. Từ ác thú ra sanh trong đạo người, lại dùng các thứ thần thông phương tiện hóa đạo khiến trụ trong nhóm chánh định, rốt ráo chẳng đọa lại các ác thú. Lại khiến tu tập căn lành thù thắng, mạng chung được sanh cõi Phật nghiêm tịnh, thọ dụng Đại thừa pháp lạc cõi tịnh.
Như vậy, Thiện Hiện! Chúng các Bồ tát Ma ha tát này đều năng nghiêm tịnh được cõi Phật như thế. Nhờ cõi chỗ ở cực thanh tịnh nên sanh hữu tình kia đối với tất cả pháp chẳng khởi hư vọng phân biệt do dự rằng đây là pháp thiện, đây là pháp phi thiện, đây là pháp hữu ký, đây là pháp vô ký, đây là pháp thế gian, đây là pháp xuất thế gian, đây là pháp hữu lậu, đây là pháp vô lậu, đây là pháp hữu vi, đây là pháp vô vi. Các phân biệt do dự như thế thảy rốt ráo chẳng sanh. Do nhân duyên đây loại hữu tình kia định được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, quay xe diệu pháp độ chúng hữu tình.
Thiện Hiện phải biết: Đấy là tướng công đức nghiêm tịnh cõi Phật Bồ tát Ma ha tát lợi ích an vui tất cả hữu tình...”[ ]
20-02-2016
LÝ TỨ
CBL.64.7.2 - Những Quan Niệm Sai Khác Về Thiện Ác
Nói đến Tứ Chánh Cần là nói đến thiện ác. Và thiện ác của Tứ Chánh Cần như những mũi tên dẫn đường xuyên suốt chiều dài của Giáo Pháp. Giáo Pháp lại có nhiều tầng bậc tu hành, nên thiện ác của Tứ Chánh Cần cũng theo đó mà hình thành những quan điểm sai khác.

Tiểu Luận: Vai Trò Của Tứ Chánh Cần Trong Hệ Thống Giáo Pháp, Và Làm Thế Nào Để Xác Định Đâu Là Thiện, Đâu Là Ác Đối Với Các Tầng Bậc Tu Hành
7. Bản Chất Của Thiện Ác Và Các Quan Niệm Sai Khác Về Hai Pháp Này
7.2. Các Quan Niệm Sai Khác Về Hai Pháp Này
Nói đến Tứ Chánh Cần là nói đến thiện ác. Và thiện ác của Tứ Chánh Cần như những mũi tên dẫn đường xuyên suốt chiều dài của Giáo Pháp. Giáo Pháp lại có nhiều tầng bậc tu hành, nên thiện ác của Tứ Chánh Cần cũng theo đó mà hình thành những quan điểm sai khác.
Trong Phật Đạo, từ sơ phát tâm cho đến quả vị cuối cùng tuy có nhiều địa vị, nhưng tựu trung có ba giai đoạn người tu hành phải vượt qua để thành tựu cứu cánh cao nhất. Thiện ác của Tứ Chánh Cần cũng tòng theo đó mà phát sinh những ý nghĩa sai khác. Chỉ đến khi nào, người tu hành thành tựu đạo quả cao nhất, thì bây giờ ý nghĩa thiện ác mới không còn thay đổi nữa.
Ba quan niệm thiện ác của Tứ Chánh Cần gồm có: Thiện ác thế gian, thiện ác xuất thế gian và thiện ác xuất thế gian thượng thượng.
7.2.1. Thiện ác thế gian.
Thiện ác thế gian là những quan niệm thiện ác thuộc về ba cõi. Đây là hai pháp đối đãi, tuỳ vào phong tục, tập quán, văn hoá, văn minh, nghiệp quả mà hình thành. Vì thế nó thuộc về tương đối, vì tương đối nên chỉ đúng với nơi này, không đúng với nơi kia, phù hợp với văn hoá này, không phù hợp với văn hoá khác.
Cùng một hành động xảy ra, có khi với một nền văn minh hay loài này là thiện, lại ác với một nền văn minh hay loài khác. Tuỳ vào quan niệm, tuỳ vào mục tiêu để phân chia thiện ác, sự phân chia này không căn cứ vào chân lý, vì thế nó không có chân lý. Vì không có chân lý, nên thiện ác thế gian chỉ là hai mặt của một vấn đề, cho nên ở đâu có thiện sinh, ở đó cũng có ác sinh. Giống như mảnh đất nào lúa mọc được, thì cỏ dại cũng mọc được!
Nếu người tu hành chỉ dừng lại ở việc soi xét thiện ác thế gian, coi đây như là cứu cánh, không mong cầu bức phá để ra khỏi vòng luẩn quẩn của hai pháp này, địa vị cao nhất trong sự soi chiếu này chỉ hạn chế ở nhân thiên thừa. Người tu hành bằng lòng với các thành tựu của nhân thiên thừa, không tinh tấn ra khỏi ba cõi, đối với Phật Đạo, sự dừng lại này là một ác pháp!
7.2.2. Thiện ác xuất thế gian.
Trong đạo xuất thế, thiện ác lại có ý nghĩa khác hơn. Đạo xuất thế ra ngoài đối đãi nhị nguyên, vượt lên khỏi cặp phạm trù thiện ác thế gian, nên tên gọi thiện ác thì có, mà thực thể lại không, như sừng thỏ lông rùa. Vì rằng bản chất của xuất thế gian chính là Niết bàn, mà Niết bàn vô sở hữu, vô sở đắc, cho nên thiện ác cũng vô sở hữu, vô sở đắc. Vì thế, vô sở hữu, vô sở đắc chính là thiện pháp xuất thế. Sở hữu, sở đắc đối với xuất thế chính là ác pháp.
7.2.3. Thiện ác xuất thế gian thượng thượng.
Xuất thế gian thượng thượng thuộc về đạo Nhất thừa. Ý nghĩa thiện ác của đạo Nhất thừa không giống thế gian và xuất thế gian.
Đạo Nhất thừa căn cứ vào trí tuệ và việc giáo hoá chúng sanh làm cơ sở đánh giá thiện ác. Điều gì có lợi cho chúng sanh trên con đường đạo pháp, điều đó được coi là thiện. Ngược lại, những điều nào không nhằm giúp chúng sanh thành tựu đạo nghiệp, đó chính là ác pháp.
Trong ý nghĩa này, đạo Nhất thừa không dựa vào hiện tượng để đánh giá, mà xem xét động cơ của một pháp để kết luận pháp đó là thiện hay ác. Vì thế có nhiều chuyện kinh kể lại, vượt khỏi suy lường thiện ác của thế gian hay xuất thế.
Tóm lại, việc nhận định thiện ác và thành tựu thiện đạo của ba cấp độ tu hành được nêu ở trên không đồng nhất. Vì thế, ý nghĩa Tứ Chánh Cần cũng không giống nhau. Tuy không giống nhau về quan điểm thiện ác, nhưng lại nhất quán trên con đường tiến về Vô Thượng quả. Chính sự nhất quán này, làm cho Giáo Pháp trở nên phong phú và sinh động. Đây là nét đặc thù của Phật Pháp, thiết nghĩ ngoài Phật Pháp, không thể có một Giáo Pháp nào khác có được sự linh hoạt này. Và cũng chính điều này, tạng luận của Phật Giáo ngày một nhiều hơn, đồ sộ hơn!
Đoạn luận sau của Bồ Tát Long Thọ nói về sai biệt giữa thiện ác xuất thế gian (A La Hán) và Thiện trí của Phật (xuất thế gian thượng thượng).
“Hết thảy thân nghiệp, hết thảy khẩu nghiệp, hết thảy ý nghiệp, hành theo trí tuệ: Phật hết thảy thân, khẩu, ý nghiệp trước biết rồi sau theo chỗ biết mà hành. Thân, khẩu, ý nghiệp của chư Phật, mọi hành động đều lợi ích chúng sanh, cho nên gọi là trước biết rồi sau theo trí tuệ mà hành.
Như trong Kinh nói: chư Phật cho đến thở vào thở ra còn lợi ích chúng sanh, huống gì thân, khẩu, ý nghiệp cố làm mà không lợi ích? Các chúng sanh oán ác nghe hương khí hơi thở ra vào của Phật, đều được tín tâm thanh tịnh, ưa vui nơi Phật: Chư thiên nghe hương khí hơi thở của Phật cũng đều bỏ năm dục, mà phát tâm tu thiện. Do vậy, nói thân, khẩu, ý nghiệp hành theo trí tuệ.
Thanh văn, Bích chi Phật không có việc ấy. Tâm cố làm thiện rồi sau thân, khẩu nghiệp mới thiện, mà ý nghiệp có khi vô ký, không theo trí tuệ mà tự sanh, huống gì người khác, như Tỳ kheo Kiều phạm ba đề tuy chứng được A la hán mà tự nhả đồ ăn rồi nhai lại; nghiệp ấy không theo trí tuệ...” (Trích Đại Trí Độ Luận)
(còn nữa)
CBL.64.7.1 - Bản Chất Của Thiện Ác
Cũng giống như tất cả các pháp, thiện và ác là hai pháp, mà các pháp tự bản chất của nó không tánh, nên hai pháp thiện ác cũng không tánh.

Tiểu Luận: Vai Trò Của Tứ Chánh Cần Trong Hệ Thống Giáo Pháp, Và Làm Thế Nào Để Xác Định Đâu Là Thiện, Đâu Là Ác Đối Với Các Tầng Bậc Tu Hành
7. Bản Chất Của Thiện Ác Và Các Quan Niệm Sai Khác Về Hai Pháp Này
7.1 Bản Chất Của Thiện Ác
Cũng giống như tất cả các pháp, thiện và ác là hai pháp, mà các pháp tự bản chất của nó không tánh, nên hai pháp thiện ác cũng không tánh. Có nghĩa rằng, trong một pháp được cho là thiện, pháp này tự nó không có tánh thiện. Đối với một pháp được coi là ác, pháp này tự nó không có tánh ác.
Chính các pháp không tánh, và thiện ác cũng không tánh, nên thiện và ác có thể thay đổi liên tục qua từng quả vị. Sự thay đổi này, tùy vào quan niệm hay mục tiêu đặt ra mà pháp ấy được cho là thiện hay ác.
Như vậy, một pháp như thế nào mới được gọi là tối thượng thiện?
Gọi là tối thượng thiện, có nghĩa rằng pháp này đủ năng lực đưa người tu hành đạt đến chân thật trí tuệ. Vì rằng, chỉ khi nào đạt đến chân thật trí tuệ, vị hữu tình mới thấy được “thật tướng của hai pháp thiện và ác”, khi thấy thật tướng của hai pháp thiện ác, vị ấy mới trực nhận ra rằng, thiện ác chẳng thể được (bất khả đắc). Thiện ác chẳng thể được chính là tối thượng thiện. Gọi là tối thượng thiện vì chân lý này không còn thay đổi được nữa, vì thế trong kinh Đại Niết bàn Phật dạy Bồ Tát quán pháp “thiện chẳng thể được, bất thiện chẳng thể được”.
Để minh hoạ cho ý nghĩa (bản chất) các pháp chẳng thể được (bất khả đắc), nên thiện ác cũng chẳng thể được. Vì thiện ác chẳng thể được, nên Tứ Chánh Cần cũng chẳng thể được. Vì Tứ Chánh Cần chẳng thể được, mới gọi là Đại Bồ Tát thành tựu Đại Thừa (tối thượng thiện). Đoạn kinh sau nói lên điều này:
“Phật bảo ngài Tu Bồ Đề: Có Đại Bồ Tát Đại thừa, chính là Tứ Chánh Cần. Những gì là bốn? Đại Bồ Tát đối với những pháp ác bất thiện chưa phát sanh, vì làm cho pháp ác chẳng sanh nên muốn có tâm siêng tinh tấn mà nhứt tâm hành đạo. Đối với pháp ác bất thiện đã phát sanh, vì dứt trừ nên muốn có tâm siêng tinh tấn mà nhứt tâm hành đạo. Đối với pháp thiện chưa phát sanh, vì phát sanh nên muốn có tâm siêng tinh tấn mà nhiếp tâm hành đạo. Đối với pháp thiện đã phát sanh, vì làm cho còn mãi để tu tập đến được đầy đủ rộng lớn, nên muốn có tâm siêng tinh tấn mà nhiếp tâm hành đạo, vì bất khả đắc vậy. Đây gọi là đại Bồ Tát Đại thừa...” [ ]
Nếu bảo rằng, thiện chẳng thể được, bất thiện chẳng thể được, thì vai trò của Tứ Chánh Cần xuất hiện trong Giáo Pháp có ích lợi gì?
Nói thiện chẳng thể được, bất thiện chẳng thể được, là nói đến cứu cánh tối hậu của Giáo Pháp. Khi người tu hành chưa thể thành tựu cứu cánh tối hậu này, thì thiện ác vẫn phải đóng vai trò của chiếc gậy tinh tấn giúp người tu hành leo lên đỉnh của ngọn núi Giáo Pháp.
Điều này Phật dạy trong bốn câu kệ được coi là kim chỉ nam của sự tinh tấn. Bốn câu kệ đó là:
”Chư ác mạc tát.
Chúng thiện phụng hành.
Tự tịnh kỳ ý.
Thị chư Phật giáo”.
Bốn câu này có nghĩa rằng, không làm các việc ác, chỉ làm những điều lành, (cho đến khi nào tâm) ý tự thanh tịnh, thì đây mới là lời Phật dạy. Theo tinh thần bốn câu trên, ta thấy rất rõ tính chất phương tiện trong chiếc gậy thiện ác, đến khi thấy được cứu cánh rốt ráo tâm ý thanh tịnh, thì cứu cánh lại vượt ra ngoài hai phạm trù nói trên.
Điều này cũng giống như người dùng gậy leo núi, khi lên đến đỉnh núi, cây gậy trở thành vô dụng. Cũng chính cứu cánh tối hậu vượt thoát ra khỏi quan niệm thiện ác, kinh Pháp Cú Phật lại dạy:
“Người sống ở đời này.
Không nhiễm cả thiện ác.
Không sầu, sạch không bụi.
Ta gọi Bà La Môn”...
Hoặc lời dạy sau:
“Ai vượt qua thiện ác.
Chuyên sống đời Phạm Hạnh.
Lặng lẽ quan sát đời.
Mới xứng danh Tỳ Kheo”...
(còn nữa)
CBL.64.6.2 - Các Phương Thức Chế Ác, Tăng Thiện
Chúng ta thấy rằng bốn phương thức đoạn ác, tăng thiện đi dần từ thấp lên cao, từ thế gian cho đến xuất thế.

Tiểu Luận: Vai Trò Của Tứ Chánh Cần Trong Hệ Thống Giáo Pháp, Và Làm Thế Nào Để Xác Định Đâu Là Thiện, Đâu Là Ác Đối Với Các Tầng Bậc Tu Hành
6. Xác Lập Thiện - Ác Trong Phật Đạo
6.2. Các phương thức chế ác, tăng thiện
Phật dạy, có bốn phương cách để một người tu hành hướng thiện đoạn ác, bốn phương cách đó là: Đoạn Đoạn, Luật Nghi Đoạn, Tuỳ Hộ Đoạn và Tu Đoạn. Đoạn kinh sau, Phật giải thích ý nghĩa của bốn cách đoạn trừ:
“Một thời Ðức Thế Tôn bảo chư tỳ kheo. Có bốn điều chân chánh đoạn trừ, những gì là bốn, một là Ðoạn Ðoạn, hai là Luật Nghi Ðoạn, ba là Tùy Hộ Ðoạn, bốn là Tu Ðoạn, bốn điều này cần phải tu tập.
• Thế nào gọi là Ðoạn Ðoạn, chư Tỳ kheo những ác bất thiện pháp đã sanh khởi phải đoạn trừ, phương tiện tinh cần nhiếp thọ những ác bất thiện pháp chưa sanh. Phương tiện nhiếp thọ những thiện pháp chưa sanh làm cho chúng sanh khởi; phương tiện tinh cần nhiếp thọ những điều thiện đã sanh làm cho chúng tăng trưởng, như thế gọi là Ðoạn Ðoạn.
• Thế nào gọi là Luật Nghi Ðoạn? Chư Tỳ kheo phải khéo hộ trì nhãn căn, cẩn thận điều phục, nhĩ, tỷ, thiệt, thân. Ý căn cũng phải cẩn thận điều phục, khéo hộ niệm, như thế gọi là Luật Nghi Ðoạn.
• Thế nào gọi là Tùy Hộ Ðoạn? Nếu Tỳ kheo đạt được chân thật tam muội tướng, khéo giữ gìn và hộ trì. Do đó các tướng xấu về thân đều được đoạn trừ, khéo tu tập, hộ niệm làm cho chúng không thối chuyển, nên gọi là Tùy Hộ Ðoạn.
• Thế nào gọi là Tu Ðoạn? Nếu vị Tỳ kheo tu tập Tứ Niệm Xứ được gọi là Tu Ðoạn”.
Theo những gì Phật giải thích ở đoạn kinh trên, chúng ta thấy rằng bốn phương thức đoạn ác, tăng thiện đi dần từ thấp lên cao, từ thế gian cho đến xuất thế. Điều này có nghĩa rằng, Tứ Chánh Cần là tư tưởng chủ đạo xuyên suốt quá trình tu tập, thiện ác và bất thiện pháp có mặt trong từng cảnh giới. Ta có thể hiểu bốn phương thức hay bốn giai đoạn chế ác, tăng thiện có thứ lớp như sau:
6.2.1. Đoạn Đoạn.
Đây là phương thức đoạn trừ đầu tiên, thuộc về thiện ác thế gian. Tức là người tu hành phải đề cao cảnh giác với các ác bất thiện pháp chưa sanh, hay đã sanh khởi trong lòng.
Việc làm này, nhằm dứt trừ những thói quen ở đời, giúp người tu hành nhất tâm tăng trưởng thiện đạo, kinh Thủ Lăng Nghiêm gọi là “làm trái hiện nghiệp”. Nó giống như người ta thuần dưỡng một con thú hoang, điều đầu tiên con thú đó phải được tách ra khỏi bầy đàn, và bắt con thú quên dần các hành động hoang dã, tập làm quen với những hành động mới phù hợp với các kỹ thuật huấn luyện sau này.
Con người khi tu tập cũng như thế, các thói quen thuộc về bản năng và cá tánh, nếu không kiên quyết đoạn trừ ở giai đoạn sơ khởi, tâm thức luân chuyển theo dòng đời của một phàm phu, sẽ rất khó tiếp nhận thánh pháp sau này.
6.2.2. Luật Nghi Đoạn.
Đây là bước thứ hai, sau khi các ác bất thiện pháp thế gian như tật đố, ganh ghét, tỵ hiềm, tham ăn, tham ngủ, đấu tranh, bàn chuyện thị phi đã được đoạn trừ ở giai đoạn một. Người tu hành tiếp tục chế ngự các ác bất thiện pháp được sanh khởi từ sáu thức do sáu căn quen thói dong ruổi theo tiền trần.
Việc làm này nhằm hạn chế đến mức thấp nhất nhu cầu sinh tâm bởi nội pháp hay ngoại pháp, chuẩn bị tiếp nhận cảnh giới cao hơn của thiền định. Đây được coi như hành trang cần thiết để người tu hành đặt một chân vào Thiện xứ. Việc làm này, giống như một người đang ở trong ngôi nhà bị cháy, nỗ lực thoát ra khỏi đám cháy là cần thiết, tất cả những thứ tốt đẹp nhất trong căn nhà đó, cho dù có được yêu thích đến mức nào, cũng phải đoạn tuyệt trong lòng, nếu lưu luyến, không quyết tâm từ bỏ, không quay lưng, nhất định sẽ không thể thoát thân.
Luật Nghi Đoạn là hình thức của Tam Ma Đề, kết quả sẽ đưa người tu hành vào cảnh giới “bất cộng phàm phu pháp”. Đây là cảnh giới cuối cùng của ba cõi. Giống như một người đứng trên núi cao, toàn thân trong hư không, nhưng da bàn chân hãy còn dính vào đỉnh núi.
6.2.3. Tuỳ Hộ Đoạn.
Vị tu hành đã vào được Thiện xứ, các lạc thú thiền định hay những tướng xấu ác do Nhị thừa dựng lập để thành tựu tâm năng quán sẽ sanh khởi. Sau khi làm cho các lạc thú thiền định sung mãn hoặc các tướng xấu ác năng quán thành tựu, phải quyết tâm xả bỏ.
Nếu không làm cho sung mãn và xả bỏ, bây giờ các lạc thú hoặc các tướng năng quán trở thành ác bất thiện pháp, ngăn chặn con đường giải thoát, gọi là không thể đắc Tam Muội chân thật. Tam Muội chân thật là một cách nói khác của Thiền Giải Thoát. Câu “Các tướng xấu về thân” trong đoạn kinh, nhằm ám chỉ cho các thiền thú, hoặc các tướng mạo do pháp năng quán hình thành. Trong Thiện xứ người tu hành lấy thiền định làm thân, làm đời sống gọi là “Tam Muội Lạc Chánh Thọ Ý Sanh Thân”. Ta thường hay nghe nói, đại chúng ở các Phật quốc “thân do hoá sanh”, lấy thiền định hay tướng năng quán làm thân là một trong những hình thức hoá sanh. Ta có thể tạm chia ra có ba loại thân hoá sanh trong các Thiện xứ: Một, thân do tưởng sanh, như các cõi Cực Lạc, Tứ thiền. Hai, thân do giải thoát sanh như cảnh giới của Phật Vô Động. Ba, thân do trí sanh như cảnh giới của Diệu Trang Nghiêm.
Hình thức xả bỏ các lạc thú thiền định trong Tuỳ Hộ Đoạn, giống như một người nhà quê nghèo khổ, được đến sinh sống ở chốn thị thành sung túc. Với họ, ở đó cái gì cũng tốt, cái gì cũng đẹp, mọi thứ chung quanh đều làm cho thoả thích. Nếu không biết dừng lại, không biết từ bỏ thích thú để chuyên tâm làm ăn, người này sẽ trở thành kẻ nghèo đói ở chốn phồn vinh. Nghèo đói ngay nơi chốn phồn vinh là một thứ ác pháp!
6.2.4. Tu Đoạn.
Đây là giai đoạn quyết liệt để người tu hành chính thức trở thành “công dân thực thụ” của Thiện xứ. Đoạn kinh trên Phật dạy: “Thế nào gọi là Tu Ðoạn? Nếu vị Tỳ kheo tu tập Tứ Niệm Xứ được gọi là Tu Ðoạn”. Chỉ một câu nói đơn giản, nhưng câu này hàm chứa hết thảy Phật Pháp.
Như mọi người đều biết, Tứ Niệm Xứ tuỳ mức độ tu tập, cho ra hết thảy các quả vị trong Phật Đạo, từ dứt Tập đến chứng Diệt và hoàn thành mục tiêu tu Đạo để thành tựu. Thật trí, hay nói khác hơn, các thứ Niết bàn của Phật Đạo đều thành tựu từ Tứ Niệm Xứ. Vì thế, có bao nhiêu tầng bậc của Tứ Niệm Xứ, thì có bấy nhiêu tầng bậc thiện ác trong Tứ Chánh Cần.
Tu đoạn chính là hình thức học tập “văn hoá vô lậu”. Văn hoá vô lậu gồm có ba loại hình học tập, đó là: Vô lậu thân, vô lậu tâm và vô lậu trí. Thành tựu vô lậu thân là thành tựu các ứng xử, phong cách sống và những hình thức giao tiếp của xã hội Thiện trị. Thành tựu vô lậu tâm là thành tựu các loại Niết bàn mà cụ thể là các quả vị xuất thế trong Phật Đạo. Thành tựu vô lậu trí là thành tựu căn bản trí cho đến sai biệt trí. Ba hình thức vô lậu nêu trên tiêu biểu cho khái niệm chân thiện mĩ trong xã hội Thiện trị, vì thế thành tựu văn hoá vô lậu chính là thành tựu tối thượng chân thiện mĩ theo quan điểm Phật Giáo.
(còn nữa)
CBL.64.6.1 - Các Cơ Sở Làm Căn Cứ Để Lập Thiện Ác
Trong quá trình tu hành, để xác lập thiện ác một cách chính xác, người tu hành phải dựa vào những cơ sở đúng đắn và đáng tin cậy.

Tiểu Luận: Vai Trò Của Tứ Chánh Cần Trong Hệ Thống Giáo Pháp, Và Làm Thế Nào Để Xác Định Đâu Là Thiện, Đâu Là Ác Đối Với Các Tầng Bậc Tu Hành
6. Xác Lập Thiện - Ác Trong Phật Đạo
6.1. Các cơ sở làm căn cứ để lập thiện ác
Trong quá trình tu hành, để xác lập thiện ác một cách chính xác, người tu hành phải dựa vào những cơ sở đúng đắn và đáng tin cậy.
Việc làm này, ta có thể hình dung như một người bắn tên, muốn mũi tên trúng đích, đòi hỏi người bắn phải thấy rõ mục tiêu và phải xác quyết rằng, cái ta đã thấy, chính là mục tiêu. Mũi tên bắn trúng mục tiêu được coi là thiện đạo (đường đi thiện), ngược lại mũi tên không trúng đích hoặc rơi nửa chừng là ác đạo hoặc bất thiện đạo. Phật Đạo có nhiều mục tiêu để người tu hành lần lượt nhắm đến, và chỉ khi nào mũi tên bay đến mục tiêu cuối cùng, bây giờ công việc của người bắn tên mới dừng lại, gọi là thành tựu tất cánh Tối Thượng Thiện (cứu cánh cuối cùng).
Ta cũng có thể hiểu, hành trình tiến về Vô Thượng Thiện, hay Vô Thượng Trí Tuệ của Phật Đạo giống như một người đi tìm kho báu, kho báu được cất giấu ở một nơi mà người ấy chưa bao giờ đến đó và rất ít kẻ biết.
Muốn cuộc hành trình tốt đẹp, ngoài việc chuẩn bị các thứ dành cho đời sống tối thiểu, người này phải có hai thứ công cụ cần thiết đó là một tấm bản đồ và cái la bàn. Tấm bản đồ cho biết những con đường người ấy phải đi qua, cái la bàn dùng để xác định phương hướng, đây là hai dụng cụ không thể thiếu, nếu thiếu hai món này, việc tìm đến kho báu là không thể! Con đường đi đến cứu cánh tối thượng của Phật Đạo ví như kho báu ở rất xa và ít người biết đến, các thứ dành cho đời sống tối thiểu chính là xây dựng thái độ tu hành và thể hiện nếp sống thiểu dục tri túc, tấm bản đồ là kinh điển và các mô hình giáo lý trong Phật Đạo, cái la bàn để định hướng chính là Tứ Chánh Cần.
Ngoài đời, có rất nhiều loại bản đồ khác nhau, tuỳ mục đích sử dụng, người ta đo đạc và thể hiện bằng hình vẽ những chi tiết nổi bật khác nhau. Tuy các chi tiết nổi bật được thể hiện khác nhau, nhưng những tấm bản đồ trong cùng một vùng lãnh thổ đồng hiển thị những đường nét căn bản của vùng lãnh thổ đó, chỉ khác chăng, nó được hiển thị khái quát hay chi tiết. Vì thế, người ta có thể dùng chung các loại bản đồ để thực hiện một công việc tìm kiếm nào đó.
Trong Phật Đạo, kinh điển chính là tấm bản đồ đại cương cực lớn, trên đó hiển thị tất cả vị trí, đặc điểm, những con đường và các thông số đo đạc, đây là tấm bản đồ dùng chung cho đa số quần chúng. Và tuỳ vào chuyên môn hay mục đích sử dụng, Phật Đạo cũng có những tấm bản đồ chủ đề, các thể hiện trên đó chú trọng vào một lãnh vực chuyên môn cụ thể, tấm bản đồ này của Phật Đạo là các mô hình giáo lý dạy người tu hành bằng cách chuyên môn hoá hệ thống giáo lý. Ngoài ra, Phật Đạo cũng có những tấm bản đồ tô pô (topologia) được phác hoạ đơn giản qua những đường nét hình học cơ bản, đó là các bài kệ khai tâm hay những lời khai thị.
Các loại bản đồ này của Phật Đạo tuy khác nhau về cách thể hiện, nhưng đồng giúp người tu hành theo đó tiến về Vô Thượng Quả!
6.1.1. Khảo sát bản đồ đại cương của Phật Đạo.
Bản đồ đại cương của Phật Đạo, là toàn bộ hệ thống kinh điển. Đường đi của tấm bản đồ này, được thể hiện qua giáo trình tổng thể của năm thời thuyết pháp, người tu hành lần lượt thành tựu việc tu học của mình qua từng thời thuyết, đây là hình ảnh giáo dục của “không gian chánh pháp”. Cụ thể, nó là con đường giáo hoá của Đức Phật.
Năm thời thuyết pháp của Đức Phật có thể tạm chia như sau:
1) Thời Hoa Nghiêm
2) Thời A Hàm
3) Thời Phương Đẳng
4) Thời Bát Nhã
5) Thời Pháp Hoa và Niết bàn
Năm thời kỳ giáo hoá này, được coi là giáo trình chuẩn trong hệ thống Giáo Pháp. Đệ tử của Phật, lần lượt thành tựu từng thời kỳ, gọi là “thiện thời!”
6.1.2. Bản đồ chuyên môn
Ngoài hệ thống giáo trình chuẩn của Đức Phật, các Bồ Tát đã chuyên môn hoá giáo trình này bằng các mô hình giáo lý riêng biệt. Mục tiêu của việc chuyên môn hoá, hay phân ngành, là để giúp rút ngắn thời gian tu học, điều này nhằm đáp ứng không gian tu học rộng lớn của những căn cơ khác nhau vào những thời điểm giáo hoá khác nhau. Và điều này cũng nói lên rằng, “công đức giáo hoá của các Bồ Tát không viên mãn như một Đức Phật”, trong một thời thuyết pháp của Đức Phật, có vô số người chứng các quả vị sai biệt, trong khi đó, năng lực giáo hoá của các Bồ Tát có giới hạn, việc chia thành nhiều chuyên ngành, nói lên sự hạn chế trong năng lực giáo hoá của các Bồ Tát. Các giáo trình chuyên môn bao gồm:
• Giáo trình Tứ Đế
• Giáo trình Ba mươi bảy phẩm
• Giáo trình Hai Vô Ngã
• Giáo trình Tam Vô Lậu Học
• Giáo trình Tam Giải Thoát Môn
• Giáo trình Thập Nhị Nhân Duyên
• Giáo trình Ngũ Nhãn
• Giáo trình Tam Thừa
• Giáo trình Năm Bồ Đề
• Giáo Trình Giác Ngộ, Giải Thoát và Trí Tuệ
Nói chung, có rất nhiều giáo trình được chuyên môn hoá dưới hình thức phân ngành. Mỗi giáo trình là một con đường dẫn về Vô Thượng Quả theo cách riêng lẻ. Thiện ác trong mỗi giáo trình là sự tiệm tiến cho đến khi người tu học hoàn toàn thành tựu giáo trình.
6.1.3. Bản đồ tô pô của Phật Đạo
Những bài kệ khai tâm hay các câu khai trị trong Phật Đạo, được ví như một dạng bản đồ sơ sài. Loại bản đồ hay cách giáo dục này mang tính cấp thời, được vẽ lên trong một đương cơ đặc biệt, nó giúp người tu học nhận ra một manh mối nào đó ẩn chứa trong các nét vẽ đơn giản một cách tức thì. Một vài ví dụ về loại hình giáo dục này:
• “Ta dừng còn ông chưa dừng”: Chỉ một câu nói ngắn gọn của Phật, Ương Quật Ma La chứng thánh.
• “Này Bà Vi Đề Hi! Khi tâm tưởng Phật, tâm ấy tức Phật, tâm ấy là Phật, tâm ấy làm Phật”: Nghe xong câu này, Bà Vi Đề Hi chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn.
• “Các pháp do duyên sanh, pháp theo duyên mà diệt, Đức Bổn Sư Cù Đàm, đã dạy ta như thế”: Nhân mấy câu này, nhiều đệ tử Phật chứng quả A La Hán.
• Hoặc những bài kệ tiêu biểu trong mười tám bài kệ dưới đây của Bồ Tát Long Thọ, cũng thuộc một dạng kệ khai tâm:
Âm Hán Việt:
Bất sinh diệc bất diệt,
Bất thường diệc bất đoạn.
Bất nhứt diệc bất dị,
Bất lai diệc bất xuất
Dịch:
“Không sinh cũng không diệt,
Không thường cũng không đoạn
Không một cũng không khác
Không đến cũng không đi.”
Âm Hán Việt:
Năng thuyết thị nhân duyên,
Thiện diệt chư hí luận.
Ngã khể thủ lễ Phật,
Chư thuyết trung đệ nhất.
Dịch:
“Khéo nói nhân duyên ấy
Hay diệt những hí luận
Ðệ nhất trong các thuyết
Con cúi đầu lễ Phật”
Âm Hán Việt:
Chư pháp bất tự sanh,
Diệc bất tùng tha sanh.
Bất cộng bất vô nhân,
Thị cố tri vô sanh.
Dịch:
“Các pháp không tự sinh
Cũng không sinh từ cái khác
Không cộng sinh, không vô nhân sinh
Do đó nên hiểu rằng, các pháp vốn vô sinh...”
Nói chung, có rất nhiều loại hình của Phật Đạo giúp người tu hành xác lập cơ sở thiện ác. Và tất cả các loại hình cơ sở này, giống như những con đường khác nhau, nhưng cùng đi lên một đỉnh núi, trên mỗi con đường, hướng đi nào chắc chắn tiến về ngọn núi, thì hướng đó là thiện, hướng đi nào làm cho ta không thể đến đỉnh núi là ác. Sau đây là một đoạn kinh tiêu biểu của thiện ác trong Tứ Chánh Cần:
“Một thời, tại Sàvatthi, Thế Tôn nói như sau:
Này các Tỳ kheo, có bốn chánh cần này. Thế nào là bốn?
• Ở đây, này các Tỳ kheo, Tỳ kheo đối với các ác, bất thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn không cho sanh khởi, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng.
• Ðối với các ác, bất thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn đoạn tận, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng.
• Ðối với các thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn làm cho sanh khởi, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng.
• Ðối với các thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn làm cho an trú, không cho vong thất (asammosàya), làm cho tăng trưởng, làm cho quảng đại, tu tập, làm cho viên mãn, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng.
Những pháp này, này các Tỳ kheo, là bốn chánh cần.
Ví như, này các Tỳ kheo, sông Hằng thiên về phương Ðông, hướng về phương Ðông, xuôi về phương Ðông. Cũng vậy, này các Tỳ kheo, Tỳ kheo tu tập bốn chánh cần, làm cho sung mãn bốn chánh cần, thiên về Niết bàn, hướng về Niết bàn, xuôi về Niết bàn. Này các Tỳ kheo, bốn chánh cần tu tập làm cho sung mãn như thế nào, lại thiên về Niết bàn, hướng về Niết bàn, xuôi về Niết bàn?
Ở đây, này các Tỳ kheo, Tỳ kheo đối với các ác, bất thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn không cho sanh khởi, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng; đối với các ác, bất thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn đoạn tận, tinh cần, cố gắng; đối với các thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn làm cho sanh khởi, cố gắng; đối với các thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn làm cho an trú, không cho vong thất, làm cho tăng trưởng, làm cho quảng đại, tu tập, làm cho viên mãn, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng.
Như vậy, này các Tỳ kheo, Tỳ kheo tu tập bốn chánh cần, làm cho sung mãn bốn chánh cần, thiên về Niết bàn, hướng về Niết bàn, xuôi về Niết bàn...”.
(còn nữa)
CBL.64.6 - Xác Lập Thiện - Ác Trong Phật Đạo
Việc xác lập thiện ác trong từng tầng bậc của hệ thống Giáo Pháp là việc làm đầu tiên đối với người tu hành.

Tiểu Luận: Vai Trò Của Tứ Chánh Cần Trong Hệ Thống Giáo Pháp, Và Làm Thế Nào Để Xác Định Đâu Là Thiện, Đâu Là Ác Đối Với Các Tầng Bậc Tu Hành
6. Xác Lập Thiện - Ác Trong Phật Đạo
Việc xác lập thiện ác trong từng tầng bậc của hệ thống Giáo Pháp là việc làm đầu tiên đối với người tu hành. Vì rằng, để đạt đến tối thượng thiện, người tu hành phải trải qua rất nhiều thiện quả, trong mỗi thiện quả lại chứa mầm mống của ác vị. Nếu trong thiện quả, người tu hành hướng đến địa vị cao hơn, sự hướng tâm này là thiện pháp, dừng lại để an hưởng thiện vị trong thiện quả đó, lập tức thiện quả sẽ trở thành ác vị. Cứ như thế, người tu hành coi đây là công thức chung để xác lập thiện ác trong Phật Đạo. Nếu không xác định được thiện ác, người tu hành nhất định sẽ không thể đạt được bất kỳ mục tiêu nào của Phật Đạo.
(còn nữa)
CBL.64.5 - Cơ Chế Thiện - Ác Trong Tứ Chánh Cần
Như thế, thiện ác luôn luôn hiện diện trong mỗi cấp học, mỗi bậc học. Cho nên, thiện ác trong Phật Đạo, mà cụ thể là thiện ác trong Tứ Chánh Cần biến đổi không ngừng, chính sự biến đổi không ngừng này đã làm nên cơ chế vận hành liên tục của tinh và tấn, tinh chính là chánh, tấn chính là cần.

Tiểu Luận: Vai Trò Của Tứ Chánh Cần Trong Hệ Thống Giáo Pháp, Và Làm Thế Nào Để Xác Định Đâu Là Thiện, Đâu Là Ác Đối Với Các Tầng Bậc Tu Hành
4. Vai Trò Của Tứ Chánh Cần Trong Hệ Thống Giáo Pháp
Giống như xây dựng một ngôi nhà. Điều đầu tiên người ta phải hoàn thiện một “bộ hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công”. Bộ hồ sơ này phải đảm bảo thể hiện đầy đủ các thông số kỹ thuật, vật liệu sử dụng và chi tiết cấu tạo phù hợp với quy chuẩn, tiêu chuẩn áp dụng, đảm bảo đủ điều kiện để triển khai thi công xây dựng công trình.
Tứ Chánh Cần ở vị trí điều hành, đóng vai trò của nhà hoạch định chính sách ở tầm vĩ mô, hay khác hơn nó là kiến trúc sư vẽ nên ngôi nhà Giáo Pháp được xây dựng bằng chất liệu thiện pháp. Ở cấp thực thi, nó đóng vai trò của đơn vị thi công, đơn vị này y theo hồ sơ thiết kế, lần lượt xây dựng nên ngôi nhà bằng những viên gạch thiện pháp. Cả hai vai trò trên, đồng coi bản vẽ thiết kế là quy chuẩn, là mực thước giúp toà nhà sau khi xây dựng theo thiết kế, sẽ đáp ứng những gì chủ đầu tư mong muốn về toà nhà của mình.
Khi thi công xây dựng công trình Giáo Pháp, những gì đáp ứng đúng yêu cầu bản vẽ đề ra được gọi là Thiện Pháp, những thi công nào sai với bản vẽ gọi là Ác Pháp. Thi công xây dựng một toà nhà đã phức tạp về các bước đến chừng nào, thì thi công xây dựng công trình Giáo Pháp trong mỗi con người còn phức tạp nhiều hơn thế.
Vì thế, nắm vững quy luật thiện ác trong mỗi bước thi công công trình Giáo Pháp đúng như thiết kế, là việc làm quan trọng và cần thiết, nó đòi hỏi người thi công trong từng giai đoạn phải căn cứ vào hồ sơ thiết kế. Nếu thi công sai, thi công không đúng thiết kế, toà nhà sẽ không thể thành công như mong muốn, thậm chí nguy cơ sụp đổ là hiển nhiên.
Cho nên, nếu nói rằng người tu hành coi Tứ Niệm Xứ là bốn toà tháp của cụm kiến trúc Phật Giáo, thì Tứ Chánh Cần vừa là hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công, vừa là đơn vị thi công của bốn toà tháp này là đánh giá có cơ sở!
(còn nữa)
CBL.64.4 - Vai Trò Của Tứ Chánh Cần Trong Hệ Thống Giáo Pháp
Tứ Chánh Cần ở vị trí điều hành, đóng vai trò của nhà hoạch định chính sách ở tầm vĩ mô, hay khác hơn nó là kiến trúc sư vẽ nên ngôi nhà Giáo Pháp được xây dựng bằng chất liệu thiện pháp. Ở cấp thực thi, nó đóng vai trò của đơn vị thi công, đơn vị này y theo hồ sơ thiết kế, lần lượt xây dựng nên ngôi nhà bằng những viên gạch thiện pháp.

Tiểu Luận: Vai Trò Của Tứ Chánh Cần Trong Hệ Thống Giáo Pháp, Và Làm Thế Nào Để Xác Định Đâu Là Thiện, Đâu Là Ác Đối Với Các Tầng Bậc Tu Hành
4. Vai Trò Của Tứ Chánh Cần Trong Hệ Thống Giáo Pháp
Giống như xây dựng một ngôi nhà. Điều đầu tiên người ta phải hoàn thiện một “bộ hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công”. Bộ hồ sơ này phải đảm bảo thể hiện đầy đủ các thông số kỹ thuật, vật liệu sử dụng và chi tiết cấu tạo phù hợp với quy chuẩn, tiêu chuẩn áp dụng, đảm bảo đủ điều kiện để triển khai thi công xây dựng công trình.
Tứ Chánh Cần ở vị trí điều hành, đóng vai trò của nhà hoạch định chính sách ở tầm vĩ mô, hay khác hơn nó là kiến trúc sư vẽ nên ngôi nhà Giáo Pháp được xây dựng bằng chất liệu thiện pháp. Ở cấp thực thi, nó đóng vai trò của đơn vị thi công, đơn vị này y theo hồ sơ thiết kế, lần lượt xây dựng nên ngôi nhà bằng những viên gạch thiện pháp. Cả hai vai trò trên, đồng coi bản vẽ thiết kế là quy chuẩn, là mực thước giúp toà nhà sau khi xây dựng theo thiết kế, sẽ đáp ứng những gì chủ đầu tư mong muốn về toà nhà của mình.
Khi thi công xây dựng công trình Giáo Pháp, những gì đáp ứng đúng yêu cầu bản vẽ đề ra được gọi là Thiện Pháp, những thi công nào sai với bản vẽ gọi là Ác Pháp. Thi công xây dựng một toà nhà đã phức tạp về các bước đến chừng nào, thì thi công xây dựng công trình Giáo Pháp trong mỗi con người còn phức tạp nhiều hơn thế.
Vì thế, nắm vững quy luật thiện ác trong mỗi bước thi công công trình Giáo Pháp đúng như thiết kế, là việc làm quan trọng và cần thiết, nó đòi hỏi người thi công trong từng giai đoạn phải căn cứ vào hồ sơ thiết kế. Nếu thi công sai, thi công không đúng thiết kế, toà nhà sẽ không thể thành công như mong muốn, thậm chí nguy cơ sụp đổ là hiển nhiên.
Cho nên, nếu nói rằng người tu hành coi Tứ Niệm Xứ là bốn toà tháp của cụm kiến trúc Phật Giáo, thì Tứ Chánh Cần vừa là hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công, vừa là đơn vị thi công của bốn toà tháp này là đánh giá có cơ sở!
(còn nữa)
CBL.64.3 - Tứ Chánh Cần, Phép Mầu Của Những Ước Mơ
Tứ Chánh Cần trong hệ thống Giáo Pháp của Đức Phật chính là một đôi đũa thần kỳ với hai chiếc thiện ác, có công năng biến một phàm phu trở thành thánh, biến một vị thánh trở thành Bồ Tát và biến một Bồ Tát trở thành một vị Phật.

Tiểu Luận: Vai Trò Của Tứ Chánh Cần Trong Hệ Thống Giáo Pháp, Và Làm Thế Nào Để Xác Định Đâu Là Thiện, Đâu Là Ác Đối Với Các Tầng Bậc Tu Hành
3. Tứ Chánh Cần, Phép Mầu Của Những Ước Mơ
Như đã nói trên, Tứ Chánh Cần vừa là động lực, vừa là định hướng giúp người tu hành lần lượt thành tựu những quả vị trong Phật Đạo cho đến quả vị cao nhất.
Từ khái niệm trên, ta có thể hiểu, hệ thống Giáo Pháp gồm ba mươi bảy phẩm của Đức Phật, giống như chiến lược tổng quát của một mặt trận, trong mặt trận này có nhiều mục tiêu riêng lẻ cần phải chiếm lĩnh bằng những chiến thuật khác nhau. Thì, Tứ Chánh Cần chính là việc tiếp cận, đánh chiếm từng mục tiêu riêng lẻ theo từng phương án khác nhau. Khi nào, tất cả các mục tiêu đã được đánh chiếm, lúc ấy chiến lược của mặt trận này coi như thành công.
Đã nói đến Thiện trị, là nói đến vai trò tối cao của Thiện pháp. Thiện pháp bây giờ chính là thứ vũ khí chủ lực tạo nên sức mạnh áp đảo ác pháp, và ác pháp trở thành mục tiêu cần tiêu diệt ngay trong từng mỗi con người của xã hội đó. Vì thế, mỗi thành viên của xã hội Thiện trị vừa là người lính cũng vừa là kẻ thù của chính mình, và toàn xã hội chỉ đóng vai trò hỗ trợ về mặt tinh thần để thành viên đó hoàn thành nhiệm vụ, đây là tư tưởng chủ đạo của khẩu hiệu ”hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi” trong xã hội Thiện trị.
Nói đến phép mầu, người ta nghĩ ngay đến câu chuyện đôi đũa thần, ai sở hữu đôi đũa này, lập tức kẻ ấy có trong tay phép mầu thần diệu và có thể thực hiện bất kỳ điều gì mình muốn. Tứ Chánh Cần trong hệ thống Giáo Pháp của Đức Phật chính là một đôi đũa thần kỳ như vậy, đôi đũa thần Tứ Chánh Cần với hai chiếc thiện ác, có công năng biến một phàm phu trở thành thánh, biến một vị thánh trở thành Bồ Tát và biến một Bồ Tát trở thành một vị Phật. Đôi đũa này còn có thể giúp một người đang sống trong thế giới khổ đau, ngay lập tức trở thành công dân của Thiện xứ, và đôi đũa thần Tứ Chánh Cần hoàn toàn có đủ năng lực giúp vị ấy thành lập một xã hội Thiện trị ngay tại thế giới này sau khi thành tựu cứu cánh tối thượng thiện. Vấn đề đặt ra ở đây là, làm sao để có thể sở hữu trong tay đôi đũa này. Điều này cũng giống như, làm thế nào giúp anh có được một cây đuốc, để thắp lên soi sáng cho mình, cũng như soi sáng cho người khác!
Để có thể sở hữu đôi đũa thần Tứ Chánh Cần, chúng ta sẽ lần lượt khảo sát khái niệm này, cũng như hiểu rõ cơ chế thiện ác của nó trong Phật Đạo. Thấu suốt hai điểm trọng yếu này, chính là cơ hội đầu tiên giúp ta sở hữu hai chiếc đũa thiện ác thần kỳ này.
(còn nữa)