CBL.16 - Làm Thế Nào Để Không Sinh Tâm?
Tâm hư vọng (không thanh tịnh) là thứ tâm do trụ nơi thấy nghe ngửi nếm v.v... mà sanh! Tâm thanh tịnh là thứ tâm do không trụ nơi nào hết mà sanh. Thành tựu tâm thanh tịnh, tự tánh thanh tịnh sẽ xuất hiện!

Các bạn!
Trong tuần, chuyên mục bạn đọc hỏi Lý Tứ trả lời có nhận được câu hỏi của bạn đọc có tên Tỉnh Thức. Nội dung câu hỏi như sau:
“Kính chào Thầy!
Xin chúc thày và các HĐ tỷ muội ngày càng tinh tấn trên con đường Phật đạo. Con có biết Phật pháp đã lâu nhưng không biết đường lối tu tập mong Thầy và các bạn chỉ dạy thêm.
Câu hỏi 1: Câu “ưng vô sở trụ, nhi sanh kì tâm”. Qua câu nói này con chỉ hiểu có vế đầu: Có nghĩa là dựa vào sắc thanh hương vị xúc pháp sanh tâm, mà sanh tâm không có chỗ trụ. Nhưng con không hiểu: Sanh tâm không có chỗ trụ như thế nào mà không lệ thuộc vào cái thức, suy nghĩ bộ não hiểu biết của thế gian? nghĩa là sanh tâm như thế nào mà không lìa tự tánh.
Câu hỏi 2: Cũng như trên, xin Thầy cho một ví dụ cụ thể để phân biệt?“
16/02/2023 9:42:49
Tỉnh Thức
*****
Bạn đọc và Tỉnh Thức thân mến!
Mình xin lần lượt trả lời các câu hỏi như sau:
Hỏi:
Câu “ưng vô sở trụ, nhi sanh kì tâm”. Qua câu nói này con chỉ hiểu có vế đầu: Có nghĩa là dựa vào sắc thanh hương vị xúc pháp sanh tâm, mà sanh tâm không có chỗ trụ?
Trả lời:
Câu “ưng vô sở trụ, nhi sanh kì tâm”, là lời Phật dạy ngài Tu Bồ Đề trong kinh Kim Cang!
Nguyên văn chữ Hán:
“Thị cố Tu bồ đề, chư Bồ Tát ma ha tát ưng như thị sanh thanh tịnh tâm: Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm. Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm.”
Dịch:
Tu bồ đề! Vì vậy mà các vị đại Bồ Tát nên sanh tâm thanh tịnh như thế này: Chẳng nên trụ nơi hình sắc mà sanh tâm, chẳng nên trụ nơi âm thanh, hương thơm, mùi vị, cảm xúc, các pháp mà sanh tâm. Nên ở nơi không chỗ trụ mà sanh tâm.
Hỏi:
Nhưng con không hiểu: “Sanh tâm không có chỗ trụ như thế nào mà không lệ thuộc vào cái thức, suy nghĩ bộ não hiểu biết của thế gian? nghĩa là sanh tâm như thế nào mà không lìa tự tánh?”
Trả lời:
Sanh tâm có chỗ trụ (hư vọng tâm, tâm bất tịnh) mới lệ thuộc vào thức vào bộ não cùng các pháp thế gian...
Còn tâm thanh tịnh là thứ tâm không do chỗ trụ mà sanh, nên tâm đó không lệ thuộc vào các thứ mà bạn đã nêu. Vì thế Phật mới dạy: “Không nên trụ nơi nào để mà sinh tâm!” Một khi, tâm thanh tịnh đã sanh thì, tâm ấy không lìa tự tánh. Vì tâm ấy (tâm thanh tịnh) và tự tánh (thanh tịnh) chẳng phải hai (bất nhị).
Hỏi:
“Cũng như trên, xin Thầy cho một ví dụ cụ thể để phân biệt?”
Trả lời:
Tâm hư vọng (không thanh tịnh) như một hồ nước bị vẩn đục, nổi sóng v.v... lúc ấy, các tính chất tự nhiên (tự tánh) như trong suốt, chiếu soi, bất động v.v... không hiện! Khi nào tâm đó hết vẩn đục, hết nổi sóng v.v...(thanh tịnh), thì các tính chất tự nhiên (tự tánh thanh tịnh) như vắng lặng, trong suốt, chiếu soi, bất động v.v... sẽ tự hiện.
Tóm lại:
Tâm hư vọng (không thanh tịnh) là thứ tâm do trụ nơi thấy nghe ngửi nếm v.v... mà sanh! Tâm thanh tịnh là thứ tâm do không trụ nơi nào hết mà sanh. Thành tựu tâm thanh tịnh, tự tánh thanh tịnh sẽ xuất hiện!
Hy vọng các giải thích ở trên, có thể giúp Tỉnh Thức và bạn đọc tìm thấy nguồn tâm thanh tịnh sau khi không còn chạy theo hay trụ chấp nơi thấy nghe v.v... để sanh các thứ tâm bất tịnh.
Rất mong nhận được các câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn!
Chúc mọi người an vui, tinh tấn!
19/02/2023
LÝ TỨ
CBL.15 - Phiền Não Trụ Địa Và Vô Minh Trụ Địa
Ta có thể hiểu, Vô minh trụ địa như bóng tối, Phiền não trụ địa như ma quỷ. Tất nhiên, theo quan niệm thế gian, ở đâu tối tăm ở đó ma quỷ cư trú!

Các bạn!
Chỉ còn vài giờ nữa, giây phút chuyển mình từ năm Nhâm Dần sang năm Quý Mão lại đến! Như vậy là, tất cả chúng ta sắp chào đón năm mới!
Năm mới Quý Mão, thay mặt Ban quản trị Lý Gia và Fanpage Lý Tứ. Xin chúc bạn đọc, HĐTM Lý Gia và gia đình an vui, tinh tấn, thành ở đời, đạt ở đạo!
Cũng trong giờ phút cuối cùng của năm con Cọp, mình nhận được thắc mắc của bạn đọc Như Nguyện! Bạn ấy viết như sau:
“Thưa Thầy Lý Tứ!
Trong kinh có nói: “Phiền não tương ưng tâm. Vô minh thì không tương ưng tâm”. Vậy một người tu hành giải quyết nguồn tâm rốt ráo bất động đã giải quyết được vô minh chưa. Tu hành đến mức nào mới có thể giải quyết được vô minh? Xin Thầy giải đáp thắc mắc của tôi. Tôi cảm ơn Thầy!”
17/01/2023 20:37:35
Như Nguyện
*****
Như Nguyện thân mến!
Để có thể giải đáp thắc mắc của bạn, đầu tiên chúng ta phải thấu suốt lời dạy từ kinh Thắng Man: “Phiền não tương ưng tâm. Vô minh bất tương ưng tâm!”
- Tại sao phiền não tương ưng tâm?
Phiền não thuộc về tâm! Là hiệu ứng hư dối tuỳ tâm sinh khởi khi sáu căn xúc đối trần cảnh từ nhận thức mê muội! Do đó, khi nhận thức không còn mê muội, tâm hư dối thôi hiện khởi, hiệu ứng phiền não hư dối sẽ tịch diệt!
Đây là lí do vì sao kinh dạy: “Phiền não tương ưng tâm!”
Kinh Tương Ưng dạy như sau: “Này các Tỳ kheo, dục tham đối với mắt là tùy phiền não của tâm. Dục tham đối với tai là tùy phiền não của tâm. Dục tham đối với mũi là tùy phiền não của tâm. Dục tham đối với lưỡi là tùy phiền não của tâm. Dục tham đối với thân là tùy phiền não của tâm. Dục tham đối với ý là tùy phiền não của tâm.
Này các Tỳ kheo, khi nào vị Tỳ kheo đối với sáu xứ này, đoạn tận được tùy phiền não, thời tâm vị ấy hướng về ly dục. Do biến mãn với ly dục, tâm vị ấy được xem là kham nhẫn, chứng tri đối với các pháp cần phải giác ngộ” [Trích kinh Tương Ưng]!
Phiền não trụ địa có bốn món: Kiến nhất thiết xứ phiền não trụ địa; Dục ái phiền não trụ địa; Sắc ái phiền não trụ địa; Vô minh ái phiền não trụ địa!
Kinh Thắng Man dạy: “Thế nào là bốn? Kiến nhất xứ trụ địa, dục ái trụ địa, sắc ái trụ địa và vô minh ái trụ địa. Bạch thế Tôn! Bốn thứ trụ địa này có thể sanh tất cả biến khởi phiền não.
Bạch Thế Tôn ! Lực của bốn trụ địa có thể làm sở y cho biến khởi phiền não, song so với Vô minh trụ địa thì tính đếm thí dụ chẳng thể bì được”. [Trích kinh Thắng Man]!
- Tại sao vô minh bất tương ưng tâm?
Vô minh thuộc về trí! Người tu hành cho dù đã tịch diệt tất cả tuỳ phiền não, nhưng chưa thấy thiệt tướng vạn pháp, chưa thấu suốt tất cả pháp lành, chưa thành tựu Nhất thiết trí, chưa chứng chân thật tuệ thì chưa được coi là hết vô minh!
Đây là lí do vì sao kinh dạy: “Vô minh bất tương ưng tâm!”
Kinh Thắng Man dạy như sau: “Cũng vậy, vô minh trụ địa đối với hữu ái trụ địa, lực của nó rất lớn. Thí như sắc, lực, oai đức và quyến thuộc của ma vương thì hơn hẳn chư thiên ở cõi Tha Hóa Tự Tại. Cũng vậy, vô minh trụ địa hơn cả bốn trụ địa, làm chỗ nương cho hằng hà sa số phiền não, cũng làm cho bốn trụ địa phiền não tồn tại lâu dài. Vô minh này, trí của Thanh văn và Độc giác chẳng thể đoạn, chỉ có trí của Như Lai mới có thể đoạn.
Bạch Thế Tôn! Hữu ái trụ địa chẳng đồng với Vô minh trụ địa nghiệp. Vô minh trụ địa khác với bốn trụ địa. Khác với bốn trụ địa chỉ Phật mới đoạn được. Vì sao? Vì A La Hán và Bích Chi Phật đoạn được bốn trụ địa mà đối với lực lậu tận chẳng được tự tại, chẳng thể hiện chứng.
Vì sao? Bạch Thế Tôn, nói lậu tận là lời nói thừa. Cho nên, A La Hán, Bích Chi Phật và chư Bồ tát tối hậu hữu vì bị Vô minh trụ địa che mờ nên với mọi pháp chẳng biết, chẳng thấy. Vì chẳng biết chẳng thấy đối với mọi pháp nên thứ cần đoạn thì chẳng đoạn, thứ cần tận thì chẳng tận. Đối với mọi pháp chẳng đoạn chẳng tận nên được hữu dư giải thoát mà chẳng phải là tất cả giải thoát, được hữu dư thanh tịnh mà chẳng phải là tất cả thanh tịnh, được hữu dư công đức mà chẳng phải là tất cả công đức. Bạch Thế Tôn! Vì được hữu dư giải thoát mà chẳng phải là tất cả giải thoát. Cho đến được hữu dư công đức mà chẳng phải là tất cả công đức, nên chỉ biết hữu dư KHỔ, đoạn hữu dư TẬP, chứng hữu dư DIỆT, tu hữu dư ĐẠO.
Thắng Man lại bạch Phật rằng:
- Thế Tôn! Nếu chỉ biết HỮU DƯ KHỔ, đoạn HỮU DƯ TẬP, chứng HỮU DƯ DIỆT, tu HỮU DƯ ĐẠO thì gọi là diệt độ được ít phần, chứng được ít phần Niết bàn, hướng về Niết bàn giới. Nếu biết TẤT CẢ KHỔ, đoạn TẤT CẢ TẬP, chứng TẤT CẢ DIỆT, tu TẤT CẢ ĐẠO thì người đó ở nơi thế gian vô thường bại hoại này chứng được Niết bàn thường tịch thanh lương. Bạch Thế Tôn! Ở nơi thế gian không chỗ che chở, không chỗ y tựa, người đó sẽ làm chỗ che chở, làm chỗ y tựa”. [Trích kinh Thắng Man]!
Về Phiền não trụ địa và Vô Minh trụ địa, sách Anh Lạc Luận tập 1 (tác giả Lý Tứ) giải thích như sau:
“....Người tu hành có hai thứ cần phải loại ra khỏi tâm và trí, đó là “Phiền não trụ địa” và “Vô minh trụ địa”. Phiền não trụ địa thuộc về tâm, Vô minh trụ địa thuộc về trí...
Có một số Luận giả gộp hai thứ trụ địa này thành năm món, gọi là Ngũ trụ địa phiền não. Cũng có Luận giả cho rằng, Vô minh trụ địa của xuất thế gian, thuộc về hoặc giới ngoại, phải trải qua Bất tư nghì biến dịch sanh tử mới chấm dứt...
Theo mình thì, để riêng hai món, gộp chung thành năm, hay phân thành bốn hoặc giới nội, một hoặc giới ngoại, tất cả đều không quan trọng. Mà, làm thế nào có thể tống khứ, không cho hai món này cư trú bất hợp pháp trong tâm trí của người tu hành mới là điều quan trọng nhất!
Ta có thể hiểu, Vô minh trụ địa như bóng tối, Phiền não trụ địa như ma quỷ. Tất nhiên, theo quan niệm thế gian, ở đâu tối tăm ở đó ma quỷ cư trú! Và, chúng ta cũng biết, trí tuệ như mặt trời, tâm thức như thế giới. Mặt trời lặn, thế giới tối tăm! Mặt trời mọc, thế giới sáng tỏ! Bây giờ, chúng ta thử điểm qua hai thứ trụ địa này, và tìm xem Phật đạo dùng cách gì để làm cho thế giới sáng soi, xua tan bóng tối, quét sạch “phiền ma não quỷ!”
- Phiền não trụ địa là gì? Là nơi cư trú của hết thảy phiền não, trụ địa này thuộc về Phiền não chướng. Có bốn nơi để phiền não cư trú đó là: Kiến nhất thiết xứ phiền não trụ địa, Dục ái phiền não trụ địa, Sắc ái phiền não trụ địa và Vô minh ái phiền não trụ địa!
• Kiến nhất thiết xứ phiền não trụ địa: Thấy nghe phân biệt, phiền não phát sinh. Dứt phân biệt, phiền não này chấm dứt!
• Dục ái phiền não trụ địa: Năm căn thân ham mê năm trần mà sinh phiền não. Sơ thiền đoạn phiền não này!
• Sắc ái phiền não trụ địa: Mê sắc thân mà sanh phiền não. Tứ thiền dứt phiền não này!
• Vô minh ái phiền não trụ địa: Tham đắm nghĩ suy, ham ưa vọng tưởng mà sinh phiền não. Thành tựu Tứ không định dứt chín phần, chứng Diệt thọ tưởng định chấm dứt toàn phần!
Phiền não trụ địa gọi là Pháp tương ưng. Có nghĩa rằng, phiền não dứt thì tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh thì phiền não dứt!
- Vô minh trụ địa! Gồm ba phần, hai phần của hoặc giới nội, một phần của hoặc giới ngoại!
• Vô minh trụ địa của hoặc giới nội gồm Nhuận chi vô minh và Căn bản vô minh, hai thứ vô minh này thuộc về Sở tri chướng!
• Vô minh trụ địa hoặc giới ngoại là Vô minh trụ địa của Bất tư nghì biến dịch sanh tử, thuộc về Sở trí ngu!
Để dễ hiểu các thứ vô minh nói trên, ta có thể lấy ví dụ về quả trứng. Quả trứng gồm có ba phần cơ bản: Vỏ trứng, lòng đỏ và lòng trắng. Nhuận chi vô minh như lòng đỏ, Căn bản vô minh như lòng trắng, lòng đỏ và lòng trắng bị hư, quả trứng không thể nở ra con gà. Một chúng sanh, do hai thứ vô minh này làm cho tăm tối, hai thứ này chấm dứt, tăm tối của chúng sanh chấm dứt, tăm tối của chúng sanh chấm dứt Thánh trí sẽ hiện!
Thánh trí đã hiện nhưng chưa thể thoát ra khỏi cái ngu ba thừa. Giống như quả trứng đã hư, nhưng bản thân cái vỏ hãy còn, cái vỏ hãy còn chính là Vô minh trụ địa hoặc giới ngoại, chính cái vỏ này là lớp ngăn che bên ngoài làm cho ba thừa không thấy được thiệt tướng vạn pháp. Đây là hình ảnh, “con ếch mắt sáng” ngồi dưới đáy giếng, thế giới đối với con ếch không lớn hơn cái giếng, muốn biết tướng chơn thật của thế giới, con ếch phải ra khỏi cái giếng!
Thánh trí muốn thoát ra khỏi cái hạn hẹp của ba thừa để thành tựu Phật trí, phải phá bỏ lớp vỏ cuối cùng của Sở trí ngu, gọi là ra khỏi “Vô minh trụ địa hoặc giới ngoại!”
• Nhuận chi vô minh: Tiền ngũ thức mù tối. Dứt tập, hết vô minh này!
• Căn bản vô minh: Ý thức mù tối. Chứng diệt, hết vô minh này!
• Vô minh trụ địa: Trí tuệ bị che lấp bởi Sở trí ngu. Thành tựu Đạo đế, hết cái ngu này!
(Trích Tâm Tông và trò chơi trí tuệ - Lý Tứ - NXB Dân Trí - HaNoiBooks phát hành 2022)!
Về câu hỏi của Như Nguyện:
“Vậy một người tu hành giải quyết nguồn tâm rốt ráo bất động đã giải quyết được vô minh chưa. Tu hành đến mức nào mới có thể giải quyết được vô minh?”
Mình xin trả lời như sau:
Vô minh có ba phần gồm: Nhuận chi vô minh, Căn bản vô minh và Vô minh trụ địa! Người tu hành thành tựu Bất động (chứng Diệt đế), chỉ giải quyết Nhuận chi vô minh và Căn bản vô minh. Đến khi nào, người này thành tựu viên mãn Nhất thiết trí (viên mãn Đạo đế) mới giải quyết xong Vô minh trụ địa...
Kinh Thắng Man dạy: “Bạch Thế Tôn! Hằng hà sa số pháp mà Bồ đề Như Lai và Trí Kim Cang của Phật nên đoạn, tất cả đều y trì nơi Vô minh trụ địa mà kiến lập. Thí như tất cả hạt giống và rừng cây đều y nơi đại địa mà được sanh trưởng. Nếu đại địa hoại thì những thứ kia cũng hoại theo. Cũng vậy, hằng hà sa số tất cả pháp mà Bồ Đề và Trí Kim Cang của Phật nên đoạn, tất cả đều y nơi vô minh trụ địa mà sanh trưởng. Nếu vô minh trụ địa ấy đoạn thì hằng hà sa số tất cả pháp mà Bồ Đề và Trí Kim Cang của Phật nên đoạn cũng đoạn theo”. (Trích kinh Thắng Man)!
Như vậy ta có thể hiểu:
Thanh văn, Duyên Giác và Bồ tát quyền thừa muốn đoạn dứt Vô minh trụ địa, phải phát tâm Vô thượng Bồ đề vào Nhất thừa (Phật thừa) cầu học trí tuệ! Đoạn kinh sau nói rõ điều này như sau:
“Vì Thanh văn và Độc giác đều nhập Đại thừa, mà Đại thừa chính là Phật thừa. Cho nên Tam thừa chính là Nhất thừa. Chứng Nhất thừa thì được A Niệu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. A Niệu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề chính là Niết bàn. Nói Niết bàn tức là pháp thân Như Lai thanh tịnh. Chứng pháp thân chính là chứng Nhất thừa, không khác Như Lai, không khác pháp thân. Nói Như Lai chính là pháp thân. Chứng cứu cánh pháp thân là chứng cứu cánh Nhất thừa. Chứng cứu cánh Nhất thừa thì lìa tương tục”. (Trích kinh Thắng Man)!
*****
Như Nguyện và bạn đọc thân mến!
Trình bày ở trên, chỉ là những gì được coi cơ bản nhất của bốn phiền não và ba vô minh!
Để hiểu hết các thứ ấy, để đoạn trừ tận gốc, để đạt được Trí tuệ tối hậu v.v... cần có cơ sở giác ngộ vững chắc, nền tảng tri kiến thâm sâu và công hạnh giáo hoá dài lâu!
Hy vọng, phần trả lời sẽ là món quà cuối năm, giúp Như Nguyện và bạn đọc nghiền ngẫm đêm trừ tịch, đón giao thừa, chào năm mới Quý Mão nhiều niềm vui cùng thành tựu như nguyện!
Rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn! Chúc mọi người an vui, tinh tấn!
21/01/2023
LÝ TỨ
CBL.14 - Tam Giải Thoát Môn
Trong Phật đạo, người tu hành muốn thành tựu cảnh giới giải thoát, phải mở ba cánh cửa sau: Không môn, Vô tướng môn, Vô tác môn/ Vô nguyện môn. Vì đây là các “cánh cửa xuất thế” nên, chỉ cần mở một cánh trong ba cánh cửa nói trên, lập tức hai cánh cửa còn lại sẽ tự mở do “tính chất vô vi” của “đạo xuất thế!”

Các bạn!
Trong tuần, Ban quản trị Website LyTu.Vn có nhận được câu hỏi của bạn Lã Trọng Khiêm từ địa chỉ: yunotc@gmail.com! Nội dung câu hỏi như sau:
Người hỏi: Lã Trọng Khiêm
Email: yunotc@gmail.com
Câu hỏi:
Thưa Thầy Lý Tứ, tôi thường xuyên nghiên cứu giáo pháp và đã nhiều lần đọc qua trang của Thầy, trong một số bài viết tôi có thấy nhắc đến khái niệm “Tam giải thoát môn” gồm: Không, Vô tướng, Vô tác. Nhưng khi đọc tụng kinh điển, nhiều lúc tôi lại thấy khái niệm: “Không, Vô tướng, Vô nguyện”. Thưa Thầy, hai khái niệm trên giống nhau đến 2/3 chỉ khác ở chỗ tác và nguyện. Vậy “Vô Tác” và “Vô Nguyện” khác nhau hay giống nhau? Nếu giống nhau tại sao lúc Phật dạy “Vô tác” lúc thì lại nói “Vô nguyện”.
Kính mong Thầy từ bi giảng nói cho!
Trân trọng ./
Lã Trọng Khiêm
*****
Trọng Khiêm thân mến!
Trong Phật đạo, người tu hành muốn thành tựu cảnh giới giải thoát, phải mở ba cánh cửa sau:
- Không môn (Srt. Sunyata)
- Vô tướng môn (Srt. Animittata)
- Vô tác môn/ Vô nguyện môn (Srt. Apranihitata)
Vì đây là các “cánh cửa xuất thế” nên, chỉ cần mở một cánh trong ba cánh cửa nói trên, lập tức hai cánh cửa còn lại sẽ tự mở do “tính chất vô vi” của “đạo xuất thế!”
Vì rằng, cho dù ba hay nhiều cánh cửa hơn thế, cũng chỉ xuất phát từ một nguồn tâm mê hay ngộ mà thôi! Người xưa minh hoạ điều này bằng câu nói mang tính quyết định: “Nhất tức nhất thiết, nhất thiết tức nhất”. Câu này có nghĩa, một (giải thoát) là tất cả (giải thoát), tất cả (giải thoát) là một (giải thoát).
Trong ba cánh cửa ấy, cửa thứ ba có khi được dịch (hay viết) là Vô tác môn, có khi được dịch là Vô nguyện môn! Theo thiển ý của mình, về mặt văn tự ta thấy hai cách dịch này có chút sai khác, nhưng trong sâu thẳm lại có chỗ tương đồng về ý nghĩa, hay khác hơn đây chính là “hai biểu hiện trong một cảnh giới!”
Vô tác là không tạo tác, không làm (ra) điều gì! Vô nguyện là không mong cầu, không ham muốn! Nói rằng hai cách nói trên có sự tương đồng về ý nghĩa, bởi lẽ khi tâm ý đạt đến cảnh giới an nhiên Vô tác (không còn thi vi tạo tác) thì đó cũng là lúc tâm ý chẳng còn mong cầu (Vô nguyện)! Hoặc ngược lại, khi tâm ý đã Vô cầu vô nguyện thì cũng là lúc tâm ý Vô tác vô hành!
Theo mình, hai cách nói được Trọng Khiêm đề cập trong email chỉ là việc “khác ngữ nhưng đồng nghĩa!”
Hy vọng, giải thích vừa rồi có thể giúp Trọng Khiêm và bạn đọc thích thú hơn trong cách mô tả cảnh giới qua ngôn ngữ của người xưa!
Rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn! Chúc mọi người an vui, tinh tấn!
16/01/2023
LÝ TỨ
CBL.13 - Bốn Pháp Giới
Tóm lại, Phật đạo chỉ nói đến mười pháp giới của hữu tình. Vì rằng, tâm thức mỗi loài sai khác nên cho ra nhận thức (pháp giới) sai khác. Còn bản chất của thế giới, sự vật, sự việc, hiện tượng v.v... (vô tình) tự nó không phải là một pháp nên không có cái được gọi là “pháp giới” trong chính nó!

Các bạn!
Trong tuần, chuyên mục “Bạn đọc hỏi – Lý Tứ trả lời” nhận được câu hỏi của bạn đọc Thành Tân! Bạn ấy thắc mắc như sau:
“Xin Thầy từ bi giảng giải rõ nghĩa:
Bốn Pháp Giới: Lý pháp giới - sự pháp giới - lý sự vô ngại pháp giới - sự sự vô ngại pháp giới?
Xin tri ân Thầy.”
Thành Tân
20/11/2022 23:59:05
*****
Bạn đọc Thành Tân thân mến!
Bốn pháp giới mà bạn nêu trong câu hỏi, là cách phân tích, làm rõ mối liên hệ giữa sự (hiện tượng) và lý (bản chất) của thế giới tự nhiên theo quan điểm của Hoa Nghiêm Tông mà cụ thể là, do Đại sư Đỗ Thuận (558-640), tổ sáng lập ra Hoa Nghiêm tông đề xướng, chứ không phải giáo pháp của Phật giáo chính thống!
Vì rằng, bốn pháp giới chỉ là quan điểm của một tông phái chứ không thuộc giáo pháp chính thống, nên ở đây mình không luận bàn chuyện đúng sai, sâu cạn của vấn đề. Vì, mình không phải là người của Hoa Nghiêm Tông, cũng không chịu ảnh hưởng của tông này! Cho nên, chúng ta chỉ căn cứ vào “câu từ” của các điều trên (4 pháp giới) để giải thích ý nghĩa của các câu từ đó trên bình diện văn tự theo quan điểm giáo pháp chính thống! Mong Thành Tân thông cảm!
Trước khi phân tích “ý nghĩa văn tự” của bốn pháp giới là lý pháp giới, sự pháp giới, lý sự vô ngại pháp giới và sự sự vô ngại pháp giới. Thiết nghĩ, chúng ta cũng nên tìm hiểu ý nghĩa của hai từ pháp giới theo quan điểm của Phật đạo!
Theo định nghĩa từ Wikipedia: Pháp giới: Tiếng Phạn là Dharma-dhãtu. Tiếng Pãli là Dhamma-dhãtu. Âm Hán là Đạt ma đà đô, chỉ cho tất cả đối tượng (cảnh giới sở duyên) của Ý Thức, một trong 18 giới…
Như vậy ta có thể hiểu, pháp giới hay cảnh giới là “giới hạn nhận thức” khi căn, trần tiếp xúc (ba duyên hoà hiệp). Chính sự sai khác trong nhận thức khi căn trần phối ngẫu, nên Phật đạo đã chỉ ra sự sai khác từ nhận thức này có đến mười cảnh giới (pháp giới, quan niệm, nhận thức...) khác nhau, ta hay gọi nôm na là mười pháp giới gồm: Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh, A tu la, Người, Trời, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, Phật....
Điều này có nghĩa, cùng một sự vật, sự việc, hình tướng v.v... do nhận thức sai khác, nên khi căn trần xúc đối, lại cho ra mười loại nghĩ suy, quan điểm, quan niệm, nhận thức, thấy biết khác nhau. Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Phật cũng dạy: “Đồng một sông Hằng, ngạ quỷ thấy đó là lửa, chư thiên thấy đó là lưu ly, người thấy đó là nước...” Chính sự thấy biết cùng nhận thức sai khác này nên tâm thức mỗi loài cũng thọ nhận khổ vui khác nhau theo pháp giới hay cảnh giới của riêng loài đó...
Căn cứ vào những giải thích ở trên, ta có thể tạm hiểu bốn pháp giới mà bạn hỏi như sau:
- Sự pháp giới: Sự là sự vật hiện tượng, sự việc, hình tướng, thế giới, quan niệm v.v... những thứ do sáu giác quan gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý xúc đối!
Những đối tượng này, tự thể không phải là một pháp, và cũng không tự sinh pháp nên bản chất của nó rỗng không, đủ duyên thì thành, hết duyên thì hoại (không tánh). Kinh Đại Niết bàn, Phật dạy: “Ta dùng Phật nhãn quán sát hết thảy địa đại, sông ngòi, tinh tú, nhật nguyệt, hữu tình, vô tình v.v... không một pháp có được”. Theo lời dạy này và những phân tích ở trên thì, cái được gọi là “sự” vĩnh viễn sẽ “không là pháp giới” vậy!
- Lý pháp giới: Lý là lý tính, là bản chất của các sự (hiện tượng) ấy! Theo quan điểm của Phật giáo, thế giới do duyên hình thành, hết duyên tự hoại theo quy luật “thành, trụ, hoại, không”. Tâm và các pháp vô thường, vô ngã... chỉ do ba duyên hoà hiệp, thay đổi theo quy luật “sanh, trụ, dị, diệt”. Thiệt tướng của nó là không tánh, không tướng, không pháp. Vì thế, cái được gọi là “lý” không phải là “pháp giới”, và vĩnh viễn không thể trở thành “pháp giới!”
Xét tột cùng ý nghĩa của hai thứ “sự và lý”, ta mới thấy rằng: Do bản chất không tánh, không tướng, không pháp v.v... trong tận cùng sâu thẳm “lý”. Nhưng, sở dĩ ta thấy có “sự” là do quá trình ba duyên “căn, trần, thức” phối ngẫu trong điều kiện mê muội, nên lầm tưởng rằng các thứ ấy là “pháp giới”. Từ đó, ta có thể suy ra: “Lý sự vô ngại” và “Sự sự viên dung vô ngại” là
tính chất tự nhiên của thân tâm và thế giới thành, hoại, hợp, tan theo quy luật “duyên sinh” chứ không phải “pháp sinh” bởi bản chất không tánh, không tướng, không pháp. Cho nên, vĩnh viễn bốn món “lý, sự, lý sự vô ngại và sự sự viên dung vô ngại” không phải là “pháp giới!” Khi nào, thấy lí và sự “là pháp giới”, cần coi lại cái thấy này!
Tóm lại, Phật đạo chỉ nói đến mười pháp giới của hữu tình. Vì rằng, tâm thức mỗi loài sai khác nên cho ra nhận thức (pháp giới) sai khác. Còn bản chất của thế giới, sự vật, sự việc, hiện tượng v.v... (vô tình) tự nó không phải là một pháp nên không có cái được gọi là “pháp giới” trong chính nó!
Hy vọng các giải thích ở trên có thể giúp Thành Tân và bạn đọc nhận ra điều gì đó ở “thế giới tự nhiên” (sự) và bản chất hay thiệt tướng (lý) từ thế giới tự nhiên ấy theo quan điểm Phật giáo chính thống!
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn! Chúc mọi người an vui, tinh tấn!
28/11/2022
THẾ GIỚI TỰ NHIÊN BẢN CHẤT KHÔNG PHÁP VÀ KHÔNG TỰ SINH PHÁP NÊN VĨNH VIỄN KHÔNG TRỞ THÀNH PHÁP GIỚI !!!
LÝ TỨ
CBL.12 - Bốn Bệnh Của Viên Giác
Để cảnh báo “các lối rẽ không đưa đến Giác ngộ” mà một số người học tập Phật pháp mắc phải, Kinh Viên Giác đã chỉ ra “bốn thứ bệnh” người tu hành “cần phải tránh xa” nếu muốn thể nhập Viên Giác của Chư Như Lai.

Các bạn!
Rất lâu rồi, chuyên mục “Bạn đọc hỏi – Lý Tứ trả lời” không nhận được bất kì một câu hỏi nào của bạn đọc gửi về!
Chiều nay, rất bất ngờ, mình nhận được câu hỏi của một bạn đọc có tên là Tỉnh Thức!
Nội dung các câu hỏi, bạn đọc Tỉnh Thức viết như sau:
“Chào Thầy Lý Tứ!
Tôi xem trong Kinh Viên Giác có đề cập về bốn bệnh: Nhậm, tác, chỉ, diệt nhưng tôi cũng không hiểu mấy, vậy tôi xin Thầy giải thích rõ hơn làm thế nào để trị bốn bệnh nêu trên! Kính Thầy và rất mong sự hoan hỷ của Thầy phản hồi sớm!”
20/10/2022 12:24:40
Tỉnh Thức
*****
Tỉnh Thức thân mến!
Để có thể trả lời câu hỏi của bạn, đầu tiên chúng ta cần xác định hai vấn đề quan trọng của Phật đạo đó là:
1) Mục tiêu của Phật đạo là gì?
2) Làm thế nào để đạt được mục tiêu đó?
Như mọi người đều biết, mục tiêu của Phật đạo nhằm giúp người thoát ra khỏi mọi trói buộc của Thế gian đạo (giải thoát) và thành tựu Trí tuệ tối thượng (của Phật đạo)! Để có thể đạt được hai mục tiêu này, người học tập trong Phật đạo phải thông qua con đường Giác ngộ! Giác ngộ đến khi nào không còn gì để Giác ngộ nữa, Phật đạo gọi cảnh giới này là Viên Giác (Giác ngộ viên mãn)!
Muốn Giác ngộ viên mãn, phải thực hành viên mãn hai phần việc quan trọng là Tự giác (Giác ngộ cho mình) và Giác tha (giúp người Giác ngộ)! Như vậy, ta có thể hiểu, mọi cảnh giới (hay mọi đạo quả) trong Phật đạo đều hình thành từ Giác ngộ và kết thúc bằng Giác ngộ, không có con đường khác! Đây là lí do vì sao Phật đạo có tên là Đạo Giác Ngộ! Và Phật lại có danh xưng là Bậc Đại Giác hay Chánh Đẳng Chánh Giác!
Nói như vậy, để thấy rằng, Giác ngộ đóng vai trò quan trọng trên con đường học tập! Giác ngộ chính là ngọn đèn giúp người học tập soi sáng đường đi của mình! Do đó, tự mình Giác ngộ (Tự giác) và giúp người Giác ngộ (Giác tha) chính là hai công cụ đặc biệt của Phật đạo, là hai cung đường dẫn người tu học thành tựu ba mục tiêu của Phật đạo đề ra, đó là: GIÁC NGỘ - GIẢI THOÁT - TRÍ TUỆ!
Tuy con đường dẫn đến cảnh giới Viên Giác là như thế, tức phải do Giác ngộ chứ không do bất kì con đường nào khác! Thế nhưng, vì lí do nào đó, có rất nhiều vị tu hành không thể tìm thấy “ánh sáng Giác ngộ” để tự giúp mình và giúp người! Từ đó, họ dùng các loại phương tiện không bắt nguồn từ sự Giác ngộ để mong chiếm lĩnh cảnh giới Giác ngộ! Tất nhiên, con đường này sẽ không thể giúp ta thành tựu mục tiêu kia vì tính nhân quả của nó!
Để cảnh báo “các lối rẽ không đưa đến Giác ngộ” mà một số người học tập Phật pháp mắc phải, Kinh Viên Giác đã chỉ ra “bốn thứ bệnh” người tu hành “cần phải tránh xa” nếu muốn thể nhập Viên Giác của Chư Như Lai, bốn thứ bệnh đó là:
1- Bệnh nhậm: Nhậm hay “mặc kệ!” Bệnh của những người lười tư duy, không có ý chí tiến thủ, phó mặc cho số mệnh. Người mắc bệnh này, có suy nghĩ gần giống với “Tự nhiên luận” của ngoại đạo.
2- Bệnh tác: Tác là tạo tác, làm ra! Bệnh của những người “nương nhờ vào một sở pháp” hay “lập một hạnh” để điều phục tâm ý! Họ mong muốn với sở pháp hay hạnh này có thể giúp ta thành tựu điều gì đó trong Phật đạo!
3- Bệnh chỉ: Đình chỉ, dừng mọi duyên! Bệnh của những người dùng ý chí hoặc cố tình xa lánh ngoại duyên để “đình chỉ thấy nghe”, bằng cách “phong bế các căn”...
4- Bệnh diệt: Dứt, diệt! Bệnh của những người huỷ diệt ý thức, triệt tiêu niệm khởi...
Tóm lại, Phật đạo là đạo Giác ngộ! Mọi cảnh giới trong Phật đạo đều bắt nguồn từ Giác ngộ và kết thúc bằng Giác ngộ! Muốn Giác ngộ phải học tập và thể nhập các cảnh giới đã giác hiện hữu trong chính tâm trí này thông qua “sự bùng vỡ” tâm thức (gọi là ngộ), chứ chẳng phải tìm kiếm các cảnh giới ấy từ một biện pháp nào đó!
Vì thế, chúng ta không cần phải “trị bốn bệnh” vừa nêu như những gì Tỉnh Thức đã hỏi, mà cần nhất là, chúng ta mau mau tìm cho mình con đường Giác ngộ! Và, con đường Giác ngộ là con đường không có bóng dáng của bốn thứ bệnh nêu trên!
Hy vọng, những gì đã trả lời có thể giúp Tỉnh Thức và bạn đọc nhận ra trong quá trình học tập có mắc phải một bệnh nào đó trong bốn bệnh nhậm, tác, chỉ, diệt hay không!
Chúc mọi người an vui, tinh tấn! Rất mong nhận được nhiều câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn!
14/11/2022
LÝ TỨ
RRLM.78 - Viết Cho Những Người Anh Em Đi Lạc
Chính chúng ta, những người sinh ra tại thế gian này... Bỗng nhiên một ngày đẹp trời, “cơ duyên bất nhơn”, học hành “tầm bậy tầm bạ” thế nào ấy, mà để rồi nhà thế gian không ở, lại từ bỏ “cái máng lợn thân yêu”, đi về cõi nào đó xa lắc xa lơ mang tên xuất thế...

Sáng nay, trên đường đưa Tuệ Lan du lịch vùng Bảy Núi...
Ngồi trên xe, mọi người thảo luận sôi nổi về phương pháp học tập của Lý Gia và những thành tựu có được...
Câu chuyện đến hồi cao trào, Tuệ Lan buột miệng hỏi:
- Với những người mang danh tu học Phật đạo, nhưng chẳng may họ không được học tập giáo pháp chân chánh, lại lạc vào những cách dạy đời chẳng ra đời, đạo chẳng ra đạo, đời đạo lộn xộn, lung tung... bỏ công sức một đời miệt mài đến chồn chân mỏi gối... mà chẳng được an vui, khổ vẫn hoàn khổ... Chúng ta nên làm gì với những kẻ đi lạc này!?
Mình buột miệng trả lời:
- Người thế gian, họ đi con đường thế gian, học Phật pháp theo cách thế gian, sống dai nhách với khổ vui thế gian thì đâu có thể gọi họ là “những người đi lạc”... Giống như một người suốt kiếp quanh quẩn trong ngôi nhà, làng xóm, quê hương của mình với những khổ vui từ cái ao làng, cuộc thế, thì đâu thể gọi người ấy đi lạc...
Chính chúng ta, những người sinh ra tại thế gian này... Bỗng nhiên một ngày đẹp trời, “cơ duyên bất nhơn”, học hành “tầm bậy tầm bạ” thế nào ấy, mà để rồi nhà thế gian không ở, lại từ bỏ “cái máng lợn thân yêu”, đi về cõi nào đó xa lắc xa lơ mang tên xuất thế...
Lạc mãi, lạc mãi... Đến độ một ngày, cô bác, anh em, hàng xóm, láng giềng, bằng hữu... đăng tin “tìm trẻ lạc” tràn ngập mạng xã hội mà chẳng thấy tăm hơi... Đây mới đích thị là “những người đi lạc”...
Ha ha ha ha! Hỡi những người anh em Lý Gia hiện đang đi lạc và những người anh em chuẩn bị đi lạc khỏi cái “lò gạch thế gian”... Các bạn nghĩ gì về thứ lý luận kì khôi này...
Chúng ta và mọi người, ai mới xứng đáng với danh xưng “những người đi lạc” hỉ...
Viết vội trên đường...
10/04/2024
LÝ TỨ
RRLM.77 - Tản Mạn Vô Đối Môn
Vô Đối Môn là cuốn sách thứ ba trong những cuốn sách đã chính thức xuất bản của mình... Nhưng, nó lại là cuốn sách đầu tiên được chính thức cấp phép...

Sau khi viết xong cuốn Phật Giáo Và Thiền (2010), mình viết tiếp cuốn Tâm Pháp (2011), rồi những năm 2012; 2013; 2014 cho ra đời các cuốn Cù Gia Tạp Luận 1, 2, 3 tiền thân Anh lạc luận 1 hiện nay...
Đến 2015, do một tình cờ từ hai vị bác sĩ trẻ đến nhà và đặt ra nhiều câu hỏi liên quan đến Phật đạo nhờ mình giải đáp! Sau buổi trao đổi thẳng thắn, cởi mở, chân tình... Hai người bạn trẻ ra về với tâm trạng hoan hỉ, không muốn nói là họ lấy làm tiếc nuối khi phải chia tay... Vì, lần đầu được nghe một thứ Phật đạo rất lạ lùng nhưng khoa học, khúc triết, minh bạch, kín kẽ, không thể phản bác, mọi thứ sáng tỏ như giữa ánh sáng mặt trời...mà trước đó họ chưa từng biết đến...
Chia tay hai người bạn, mình cứ băn khoăn về kiến thức, về những câu hỏi từ hai người bạn ấy... Những câu hỏi, những kiến thức, những khái niệm, những thuật ngữ, những ý nghĩa tưởng chừng như nhập môn... Vì sao hai vị được coi là trí thức trong đời, đã từng đọc tụng, nghiền ngẫm, thậm chí giảng nói Phật pháp cho nhiều người (theo lời họ và thông tin từ người quen) lại hiểu một cách rất mơ hồ, không có chút ý vị đạo pháp... Họ cắt nghĩa, kiến giải bằng tri thức thế gian, pha trộn giữa đời với đạo, giữa tâm linh và tâm thức, giữa công phu mang tính cơ bắp và trí não thế tục, vừa huyền bí, vừa huyễn hoặc, vừa ngây thơ, vừa thô thiển... nhạt nhẽo làm sao ấy theo kiểu “lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia”... Nghe xong, cười không được mà khóc... cũng... chẳng... xong...
Sau những băn khoăn! Mình chợt loé lên ý tưởng, những điều như vậy, những giải thích như vậy, những kết luận như vậy... từ ngày biết đạo pháp đến giờ mình cũng đã từng đọc, từng nghe, từng nếm trải “bất đắc dĩ” mùi vị của nó... Tại sao ta không tổng hợp, biên soạn và giảng giải minh bạch như một tư liệu nội bộ... để sau này HĐ không phải uống nhầm thứ “nước ốc” vô vị ấy...?
Nghĩ xong, mình bắt tay thực hiện...
Hồi ấy còn đi làm, do đó Vô Đối Môn bắt đầu viết tầm 12 giờ đêm đến chừng 3 giờ sáng xong một bài, sau đó email đến mọi người (từng group)... Các bài viết được đánh số theo thứ tự, với kí hiệu VĐM 01; VĐM 02; VĐM 03... Điều bất ngờ, từ những bài viết đầu tiên, mình đã nhận được rất nhiều phản hồi tích cực của HĐ... Thế là, mình tiếp tục viết, viết và viết hằng đêm... Đến VĐM thứ 37 hay 38 gì đó, HĐ emails cho mình và than thở: “Thầy ơi! Thầy viết chậm lại một chút để tụi con có thời gian đọc và tiêu hoá...”! Thế là, các HĐ cho mình “nghỉ xả hơi” năm ngày...
Sau năm ngày nghỉ ngơi, mình lại tiếp tục viết, đến bài thứ 50 (lời cuối của Vô Đối Môn; Vô Đối Môn có chính thức 49 bài)... Lúc ấy chừng ba giờ sáng, trong khi đang miệt mài bàn phím... Mình nghe phía cửa sổ có nhiều tiếng va đập mạnh, ban đầu không để ý, nhưng mỗi lúc tiếng va đập rõ hơn, nhìn ra cửa sổ, một con vật gì đó rất lớn thoát khỏi cửa sổ bay về phía mình... Thì ra, đó là một con bướm khổng lồ, con bướm có hình thù kì dị và to lớn... To lớn đến độ trong đời mình chưa từng gặp bao giờ...
Con bướm đậu lên vai mình, sau đó bay lên khuôn hình treo trên vách, rồi bay xuống đậu lên tấm gạch men dán tường... Vội lấy chiếc Iphone 3 ghi lại hình ảnh... Con bướm lớn hơn tấm gạch men 20x40... Ghi hình xong, con bướm bay ra bằng một cửa sổ khác, mình cao hứng đặt cho nó là “Vô Đối Đại Hồ Điệp”...
Đêm đó, con bướm chia tay Lý Tứ, Lý Tứ hoàn tất Vô Đối Môn... Lúc ấy là 3:30 sáng ngày 25/09/2015... Đây là lí do vì sao các cuốn Vô Đối Môn bản cũ có in hình con bướm... Và, Thường Xuân Vân Đài, người bạn vong niên sau khi đọc Vô Đối Môn đã đề tặng bốn câu thơ:
“Vô đối đại hồ điệp,
Làm bạn với mênh mông,
Ta Bà cánh cửa lớn,
Mở trí tuệ vô cùng...”!
Những năm sau, mình viết tiếp Anh lạc luận 2, Chuyện trên mây, Chuyện chi đây, Tâm Tông Và Trò chơi trí tuệ, Mười Một Bài Kinh Phật v.v...
Vô Đối Môn là cuốn sách thứ ba trong những cuốn sách đã chính thức xuất bản của mình... Nhưng, nó lại là cuốn sách đầu tiên được chính thức cấp phép... Ngày đó, mình viết sách chỉ với ý đồ làm tài liệu cho HĐ Lý Gia học tập, chưa từng có tham vọng xuất bản chính thức cũng như “lên kệ”... Nhưng rồi cơ duyên đã đến... Sau khi Thường Xuân Vân Đài đọc được Vô Đối Môn, anh thầy giáo trẻ quyết tâm đưa Vô Đối Môn đến với bạn đọc... Thế là Thường Xuân Vân Đài được Lý Thu Thuỷ (Giám Đốc HaNoiBooks) đã “hô biến”, từ con cá “ao làng” ngày nào, nay đã có thể “bơi ra sông rạch”...
Cảm ơn Thuỷ! Cảm ơn Thường Xuân Vân Đài! Cảm ơn cái ngày ấy, cái ngày “lấy đi vô vàn nước mắt hạnh phúc” của HĐ Lý Gia khi Vô Đối Môn chính thức lên kệ! Cái ngày mà, tất cả HĐ Lý Gia không dám mơ tưởng lại trở thành hiện thực...
21/07/2019 tại TP Hồ Chí Minh, trên đường Đinh Tiên Hoàng... Buổi ra mắt sách đầu tiên của Lý Tứ, ngày làm tiền đề cho những năm sau này, năm nào cũng vài ba lần Lý Gia lại tổ chức sự kiện ra mắt sách khắp ba miền Trung, Nam, Bắc với những đầu sách khác nhau...
Trước đây, Vô Đối Môn được tất cả các nhóm Lý Gia làm tài liệu trong những buổi thảo luận... Đầu năm 2023, trong giáo trình Giáo pháp nâng cao của Lý Gia, mình chính thức triển khai Vô Đối Môn cho HĐ... Sau hơn một năm, đến hôm nay Lý Gia đã thảo luận được 21 bài... Còn 28 bài nữa, hy vọng năm con Rồng chúng mình sẽ thanh toán dứt điểm...
Ngày mốt (10/03/2024) cũng tại TP Hồ Chí Minh... Lý Gia lại tổ chức sự kiện bỏ túi “Chúc mừng Vô Đối Môn tái Bản Lần 2”... Ngồi viết những dòng này... Đã 9 năm sau cái đêm Vô Đối Đại Hồ Điệp hội ngộ Lý Tứ mà cảm giác như chỉ là chuyện hôm qua...
Vâng!
“Vô Đối Đại Hồ Điệp
Làm bạn với mênh mông
Ta Bà cánh cửa lớn
Mở trí tuệ...vô...cùng...”
(Thường Xuân Vân Đài)
Cái tên Vô Đối Môn mang ý nghĩa như thế! Là như thế đấy các bạn ạ!
08/03/2024
LÝ TỨ
RRLM.76 - Chuyện Phiếm Ngày Chủ Nhật
Câu chuyện “Lão Trương đi khám bệnh” được mình kể trong buổi sinh hoạt tối thứ ba vừa rồi... Câu chuyện tuy ngắn, nhưng càng ngẫm nghĩ, càng thấy nhiều ý vị ẩn chứa trong nó... Càng ngẫm nghĩ, càng thấy sức tự tại khi đối trước sanh tử, sức thâm hậu của lão ấy trong đạo pháp...

Sáng nay Liêm và Hưng ngồi uống trà với mình... Trong lúc “trà dư tửu hậu”, hai bạn ấy lấy làm thích thú câu chuyện “Lão Trương đi khám bệnh”... Câu chuyện này, được mình kể trong buổi sinh hoạt tối thứ ba vừa rồi...
Câu chuyện tuy ngắn, nhưng càng ngẫm nghĩ, càng thấy nhiều ý vị ẩn chứa trong nó... Càng ngẫm nghĩ, càng thấy sức tự tại khi đối trước sanh tử, sức thâm hậu của lão ấy trong đạo pháp...
Nội dung câu chuyện như sau:
“Khoảng gần một năm trước lúc lâm chung, Lão Trương có dấu hiệu bệnh nặng... Mình đưa lão đến bác sĩ để thăm khám...
Sau khi thăm khám xong, bác sĩ gặp riêng mình (thân nhân người bệnh) thông báo kết quả... bác sĩ cho biết, lão Trương bị ung thư gan đến giai đoạn khó chữa... Sau đó, mình, lão Trương và bác sĩ ngồi uống trà đàm đạo với nhau (BS cũng là chỗ quen)... Trong lúc câu chuyện đến hồi cao trào... Vị bác sĩ bỗng dưng cao hứng nói với lão Trương...
- Tôi nói ra điều này, không biết chú (ý chỉ Lão Trương) có sợ không?
- Có điều gì ghê gớm mà bác sĩ nói ra làm tôi phải sợ? Xin cứ nói...
- Chú bị ung thư gan đến giai đoạn nguy hiểm, mạng sống tính từng ngày... Nói chung, đây là giai đoạn sống để chờ chết...
Nghe thế, Lão Trương cười lớn rồi thảnh thơi trả lời...
- Tôi bị ung thư, sống để chờ chết là phải rồi... Nhưng bác sĩ sống để chờ thứ gì bác sĩ có biết không?
- Bác sĩ...?”
03/03/2024
LÝ TỨ (lược ghi)
RRLM.75 - Chuyện Phiếm Đầu Năm Con Rồng
Buổi sinh hoạt đầu năm con Rồng của Lý Gia vào đêm hôm qua (20/02/2024)... Trong phần thảo luận! Có một HĐ Lý Gia đặt câu hỏi cho mình! Và, mẩu đối thoại ngắn sau đây đã xảy ra...

Buổi sinh hoạt đầu năm con Rồng của Lý Gia vào đêm hôm qua (20/02/2024)... Trong phần thảo luận! Có một HĐ Lý Gia đặt câu hỏi cho mình! Và, mẩu đối thoại ngắn sau đây đã xảy ra:
- Thầy ơi! Quê con đầu năm, nhiều Thầy yêu cầu đệ tử đóng một số tiền chừng mấy trăm ngàn để nhận về lá sớ nhường sao, giải hạn! Quan điểm của Thầy về việc này thế nào?
- Mục đích của việc làm này là gì?
- Dạ! Giúp cho gia đình suốt năm tai qua nạn khỏi, làm ăn phát đạt, hoà khí an vui, không phải chịu tai ương khổ não v.v...
- Nếu chỉ vài trăm ngàn thậm chí vài mươi triệu mà cả gia đình suốt năm được điều tốt lành như bạn vừa kể thì, theo mình giá đó rất rẻ! Chắc mọi người biết, hiện giờ có nhiều người sẵn sàng bỏ tiền tỉ để mua an vui, thoát khỏi lao ngục nhưng không được... Nhưng mà, trước khi đóng tiền, hai bên có kí khế ước, giao kèo, hợp đồng trách nhiệm v.v... hay nghĩa vụ bồi thường thiệt hại (có công chứng) nếu gia đình trong năm xảy ra xui xẻo (không như lời hứa) hay không?
- Thưa, không nghe nói đến ạ...
- Ha ha ha ha! Vậy thì theo mình... Quả này phải coi lại yếu tố rủi ro, cũng như những ràng buộc mang tính pháp lí của nó....
- Chời...ơi... Chiện như dzậy mà tui nghĩ hoài... hổng... có...dza...
- Ha ha ha ha!
21/02/2024
LÝ TỨ (lược ghi)
RRLM.74 - Tản Mạn Trước Vạch Xuất Phát!
Chuyên đề: “Mối liên hệ giữa Kinh Kim Cang và những vấn đề cốt lõi của Phật đạo”, được manh nha từ khí phần, tất bật chuyển sang tướng phần... Rồi, vài ngày nữa viên kim cương ấy, nhất định trở thành thắng khí theo nguyên lí “tam nghiệp phần” của lẽ tự nhiên...

Các bạn!
Tranh thủ những ngày đầu năm dương lịch 2024, nhưng cũng là những ngày cuối cùng của năm Âm Lịch Quý Mão! Trong khoảng giao thời ngắn ngủi chừng trên dưới 30 ngày, Chương trình học tập Lý Gia mở rộng đến cộng đồng từ các khoá “Hạnh phúc quanh ta - Giọt mưa đầu mùa” của năm 2024 cũng vừa khép lại sau những thành công nhất định!
Ban Khoa giáo Lý Gia thay vì chọn cho mình có 30 ngày an nhàn, rảnh rang để đón chào năm mới Giáp Thìn! Nhưng không! Tất cả đồng ngồi lại, tất cả cùng nhất trí phải lao vào “trận chiến mới” để tạo ra một sản phẩm đột phá, một món quà quý giá dành tặng cộng đồng trước những ngày khai xuân!
Từ đây, ý tưởng Lý Gia tổ chức một khoá học ngắn ngày, khoá học đặc biệt mang tính chuyên đề nhằm làm quà xuân kính biếu những người yêu thích Phật pháp, yêu thích Lý Gia... Và, kim cương chính là món quà được chọn! Thế là, chuyên đề: “Mối liên hệ giữa Kinh Kim Cang và những vấn đề cốt lõi của Phật đạo”, được manh nha từ khí phần, tất bật chuyển sang tướng phần... Rồi, vài ngày nữa viên kim cương ấy, nhất định trở thành thắng khí theo nguyên lí “tam nghiệp phần” của lẽ tự nhiên...
Không chỉ cả Ban khoa giáo bận rộn với những buổi họp xây dựng nội dung, kiến tập, thực tập, thảo luận, góp ý... có khi đến tận hơn 12 giờ đêm... Bản thân mình (Lý Tứ) cũng nhận được rất nhiều băn khoăn, thắc mắc từ bạn đọc, từ các học viên có ý định đăng kí tham gia khoá học... Những băn khoăn, thắc mắc ấy xoay quanh một số nội dung chủ yếu sau:
1) Mục tiêu của khoá học là gì?
2) Người chưa từng biết Phật pháp có học được không?
3) Tinh thần cốt lõi của Kinh Kim Cang?
4) Sự khác biệt giữa Kinh Kim Cang và các kinh Giáo Tông?
Nhìn chung, thắc mắc từ bạn đọc cũng như học viên là rất cần thiết trước khi chúng ta bắt đầu hành trình sáu buổi học thú vị sắp diễn ra...
Các bạn!
Phật đạo có bốn hình thức giáo dục tiêu biểu, đó là: Thân giáo, ngôn giáo, tâm giáo và trí giáo! Trong bốn hình thức giáo dục này, người xưa tạm chia thành hai khuynh hướng giáo dục dựa vào tâm cơ, trình độ, hoàn cảnh, xu hướng v.v... của người học, ta quen gọi là tuỳ căn, tuỳ cơ, tuỳ thời... gồm Giáo tông và Tâm tông! Thân giáo, Ngôn giáo thuộc Giáo tông! Tâm giáo, Trí giáo thuộc Tâm tông!
Hai khuynh hướng giáo dục vừa nêu hỗ trợ cho nhau, nhằm giúp người học từng thời điểm, từng quả vị... có thể đạt thành kết quả học tập như nguyện... Từ đây, hệ thống kinh sách Phật giáo cũng tạm phân chia thành Giáo Tông và Tâm Tông!
Giáo Tông là loại kinh mang tính giáo khoa, học thuật, biện chứng, có trình tự, thứ lớp, giảng giải rành mạch...
Tâm Tông là loại kinh có khuynh hướng “trực chỉ nhân tâm”, tức nhắm ngay tâm người khoan phá, giúp họ tức thời nhận ra cứu cánh nào đó trong quá trình học tập...
Giáo Tông là phương pháp giáo dục giúp người học đi từ nguyên lí đến chứng nhập cứu cánh! Tâm Tông là phương pháp giáo dục giúp người chứng nhập cứu cánh trước, học tập nguyên lí sau! Vì thế, Giáo Tông và Tâm Tông đều có những ưu, nhược điểm của mình! Đơn cử cho hai loại hình giáo dục này là trường hợp của Ngài Tu Bồ Đề và Lục Tổ Huệ Năng khi cùng tiếp cận Kim Cang Kinh!
Ngài Tu Bồ Đề, nhờ học tập pháp lành “Đệ Nhất Nghĩa Không” nên chứng được “Đệ Nhất Giải Không” phát sinh “kì tâm”, một thứ tâm “lìa phàm hiển thánh”! Tuy kì tâm là thánh tâm! Nhưng bản thân Ngài Tu Bồ Đề cũng tự biết, tâm ấy chưa phải chỗ bản nhiên rốt ráo tự tại như “chơn tâm” hay “Kim Cang tâm”!
Chính nguyên nhân này, ngài Tu Bồ Đề sau một lần khất thực, trong lúc tĩnh tọa, đã phát sinh băn khoăn về chỗ thực chứng của mình, và bạch Phật: “Như Lai thiện hộ niệm chư Bồ Tát, thiện phó chúc chư Bồ Tát”. Băn khoăn này, có ý rằng: “Như Lai đã dạy chư Bồ Tát những gì, để rồi các vị ấy có đời sống tự tại và thường được Thế Tôn khen ngợi (chẳng giống cái kì tâm của con) ”...
Và, từ băn khoăn đó, duyên khởi Kinh Kim Cang ra đời... để rồi Tu Bồ Đề trực nhận “cứu cánh bản nhiên không tâm, vô trụ” mới đích thực “vô vi cảnh giới” cần giác ngộ (không phải thứ kì tâm, nửa hữu nửa vô mà mình đã được)! Sau trực nhận ấy, đã khiến “Tu Bồ Đề thế luỵ bi khấp” (khóc như mưa)! Nước mắt dầm dề của ngài Tu Bồ Đề như một hiển nhiên xuất phát từ thứ hạnh phúc đích thực vỡ oà sau cơn mộng mị! Những giọt nước mắt của Ngài chính là hình ảnh một vị thánh tăng đã trực nhận ra, đâu mới là tâm ý “bản nhiên” sau nhiều năm học tập pháp lành!
Trái ngược với Tu Bồ Đề! Huệ Năng là người trước đây chưa từng học tập, chưa từng biết đến giáo pháp... Trong lúc gánh củi, nghe được câu Kim Cang “Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm... Ưng vô sở trụ nhi sanh kì tâm”... hai câu này có nghĩa, không nên trụ nơi thấy nghe để sanh tâm (phàm tâm), cũng không nên trụ (bất kì pháp lành nào) để sanh kì tâm (thánh tâm)... Vừa nghe xong, Lục Tổ đã hoát nhiên nhận ra “bản nhiên rỗng rang” của tâm thức (Bổn lai vô nhất vật, hà xứ nhá trần ai)!
Tuy đã nhận ra cứu cánh như vậy (như thị)! Nhưng rồi, để biết cứu cánh là gì (tính nguyên lí)... Huệ Năng phải đến Huỳnh Mai cầu học! Và, cái đêm lên thất Tổ để một lần nữa được nghe Ngũ Tổ giảng giải Kinh Kim Cang... Bây giờ, Huệ Năng phải kinh ngạc thốt lên: “Nào dè! Nào dè... nó... lại... như... vậy! Thầy ơi?!” (Nào dè tự tánh vốn tự thanh tịnh, nào dè tự tánh vốn không động lay, nào dè tự tánh vốn không sanh diệt, nào dè tự tánh sẵn đủ công đức, nào dè tự tánh... khi... mê... có... thể... sanh... muôn... pháp...)!
Vâng, hình ảnh thảng thốt “nào dè” của Huệ Năng, và hình ảnh “thế luỵ bi khấp” của Tu Bồ Đề ngày nào đồng phát xuất từ Kinh Kim Cang! Điều này cho thấy sức khoan phá mãnh liệt của Tâm Tông trong hệ thống giáo pháp! Nó như một quả bom có sức công phá mãnh liệt, ngay tức thời huỷ diệt bất kì mọi loại tâm thức của hữu tình, khi tâm đó chưa thật sự chứng nhập cảnh giới vô vi... Cho dù đó là “phàm tâm của Huệ Năng” một người chưa từng một ngày học giáo pháp... hay “kì tâm một vị thánh tăng như Tu Bồ Đề”, người đã từng nhiều năm học tập pháp lành để có được danh hiệu Đệ Nhất Giải Không!
Các bạn!
Một người được coi là thành tựu trong Phật đạo, phải thành tựu đủ Giáo Tông và Tâm Tông! Giáo Tông cho ra thuyết thông và Tâm Tông cho ra tông thông!
Thuyết thông và tông thông của Phật đạo như con chim với đôi cánh hoàn hảo! Con chim với đôi cánh hoàn hảo mới có thể bay cao, bay xa qua “vô lượng pháp giới sai biệt”! Còn, một con chim với đôi cánh khiếm khuyết thì, sẽ bay đến đâu trong ba cõi hữu đầy phiền muộn này!?
Chính vì vậy nên Phật đã dạy:
“Ta có hai thứ thông
Thuyết thông và tông thông
Thuyết dạy kẻ đồng mông
Tông vì người tu hành”... (Kinh Lăng Già)
Và, Lục Tổ Huệ Năng cũng đã tuyên thuyết:
“Thuyết thông và tông thông
Như nhật treo hư không
Duy truyền pháp kiến tánh
Xuống thế phá tà tông”... (Pháp Bảo Đàn Kinh)
Kim Cang là bài kinh nằm trong hệ thống Bát Nhã của Phật đạo, nên kinh này có tên Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa! Vì là Bát Nhã Ba La Mật Đa nên kinh gồm đủ hai mục tiêu, đó là giúp người học tập thành tựu Kim Cang Tâm và Kim Cang Trí!
Kim Cang Tâm hay chơn tâm, không tâm... Là thứ tâm “như hư không”, thuộc về vô vi! Nói khác hơn, thành tựu Kim Cang Tâm chính là trở về bản nhiên vô vi không tâm, không pháp! Không tâm, không pháp là cảnh giới rốt ráo không! Rốt ráo không, không giống cảnh giới không của người tu hành thành tựu kì tâm (hay thánh tâm, tâm không) từ 18 pháp không! Vì thế, rốt ráo không hay không tâm mới được ví như kim cương, thứ vật thể rắn chắc không có gì phá hoại được!
Từ nền tảng không tâm, người tu hành tiếp tục học tập để thành tựu cảnh giới cao hơn, đó là Kim Cang Trí hay Không trí, Bát Nhã trí!
Không trí là thứ trí như hư không! Vì là hư không nên trí này có thể tương ưng và khoan phá tất cả mọi loại tâm thức hữu vi của hữu tình! Như hư không, có thể tức thì đến bất kì nơi nào có khoảng trống!
Một cái không có gì phá hoại được (Kim Cang Tâm)! Một cái có năng lực khoan phá tất cả hữu vi tâm của hữu tình (Kim Cang Trí)! Chính là hai hình ảnh đặc thù, trái ngược nhau được làm nên bởi Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa! Tâm và Trí của Phật đạo là như thế! Như thế! Các bạn thấy có vi diệu không!
Để có thể hoàn thành Kim Cang Tâm và Kim Cang Trí... Người tu hành phải trải qua năm giai đoạn tu học là: Phát tâm kim cang, Phục tâm kim cang, Minh tâm kim cang, Kiến đáo kim cang và cuối cùng là Xuất đáo kim cang!
Phát tâm kim cang đến Minh tâm kim cang như người chiến binh thao luyện trên thao trường, với khiên giáp tốt, không kẻ thù nào có thể xâm hại! Kiến đáo kim cang và Xuất đáo kim cang, như tướng quân xuất trận, với cơ trí thâm diệu, trăm trận trăm thắng!
Cuối cùng! Tuy lí là như vậy! Nhưng tất cả đều “tại tâm này”! Vô niệm, Vô trụ, Vô đắc mới là tinh thần cốt lõi của Kim cang... Hữu niệm thì, nơi hư không mắt nhặm thấy có hoa đốm! Mắt hết bệnh, một phen hoát nhiên, “mộng qua sông đã tỉnh”! Bờ này, bờ kia... tất cả đều trong mộng! Kim cang là như thế! Là như thế các bạn ạ!
Đến đây, chắc các bạn đã tự có thể trả lời các câu hỏi:
1) Mục tiêu của khoá học là gì?
2) Người chưa từng biết Phật pháp có học được không?
3) Tinh thần cốt lõi của Kinh Kim Cang?
4) Sự khác biệt giữa Kinh Kim Cang và các kinh Giáo Tông?
Đôi dòng tản mạn trước vạch xuất phát! Hẹn gặp mọi người ngày khai giảng 08/01/2024!
06/01/2024
LÝ TỨ