CBL.10 - Luật Lệ Ba Cõi & Luật Nhân Quả
Như vậy ta có thể hiểu: Người đã giác ngộ, tuỳ cảnh giới tu chứng sâu hay cạn, tuỳ tội nghiệp nặng hay nhẹ v.v... mà những lỗi lầm đã tạo trong quá khứ có xảy ra trong hiện đời hay không, cũng như quả ấy có trở thành báo hay không trở thành báo (báo lành, báo dữ hay không báo)!

Bạn Nguyễn Trung Hiếu đã viết:
“Xin chào Thầy Lý Tứ!
Con tên là Hiếu ở thành phố Hồ Chí Minh. Nhân đọc câu chuyện “Ba vị HĐ bàn chuyện cáo chồn” con có một số thắc mắc xin Thầy hoan hỉ giải thích cho con được rõ.
Con xin trích lại một đoạn trong câu chuyện trên.
“A: Xét về nghĩa xuất thế, câu nói của Hoà Thượng Chồn là câu nói của người giác ngộ! Bởi lẽ, xuất thế là ra khỏi ba cõi, người không thuộc ba cõi thì không bị chi phối bởi luật lệ ba cõi!“
Xin Thầy cho con hỏi :
1) Luật lệ ba cõi là gì?
2) Luật lệ ba cõi có giống như “Luật nhân quả“ không?
3) Người đã giác ngộ những lỗi lầm họ tạo ra trong quá khứ có bị trả quả báo không? Nếu như có bị trả quả báo, thì có thể nói là họ đang bị chi phối bởi luật nhân quả không?
Con xin cảm ơn Thầy rất nhiều.
25/04/2022 16:42:24
Nguyễn Trung Hiếu
*****
Về câu hỏi của bạn mình xin trả lời như sau:
Hỏi: 1) Luật lệ ba cõi là gì?
Trả lời:
Luật lệ ba cõi là những quy luật thường gặp “mang tính nhân quả” đối với những người chưa giác ngộ như: Khi nhân đủ duyên, nhất định quả sẽ hiện! Khi quả đã hiện, nhất định báo sẽ hiện! Quả lành báo lành, quả dữ báo dữ!
Hỏi: 2) Luật lệ ba cõi có giống như “luật nhân quả“ không?
Trả lời: Xem trả lời ở câu một!
Hỏi: 3) Người đã giác ngộ những lỗi lầm họ tạo ra trong quá khứ có bị trả quả báo không? Nếu như có bị trả quả báo, thì có thể nói là họ đang bị chi phối bởi luật nhân quả không?
Trả lời:
Giác ngộ trong Phật đạo có rất nhiều tầng bậc sâu cạn khác nhau! Vì thế, tuỳ vào mức độ giác ngộ mà, những lỗi lầm đã tạo trong quá khứ có hiện về trong hiện tại hay không!
Tuy nhiên, đối với những vị đã giác ngộ từ Diệt đế trở lên, thông thường có hai trường hợp xảy ra mang tính nhân quả từ lỗi lầm quá khứ, đó là:
- Đối với những vị “chứng thiệt tế” đang ở trong Niết bàn thì, quả và báo thế gian không thể đến với họ!
- Đối với những vị “kiến thiệt tế”, đang học tập trí tuệ hoặc trong quá trình làm công hạnh thì, có quả mà không có báo! Giống như Đề Bà Đạt Đa thị hiện hại Phật, bị đọa vào địa ngục, tuy thân ở địa ngục nhưng tâm như “Tỳ kheo đang ở trời Tam thiền” (xem kinh Đại Bảo Tích)! Hoặc A Xà Thế can tội giết cha đoạt ngôi, nhốt mẹ vào cung cấm, nhưng sau khi nghe Phật khai thị, thành tựu pháp “tội tánh vô căn”. Hay, Ưng Quật Ma La giết nhiều người, nhưng sau khi chứng A La Hán, trên đường đi khất thực chỉ bị ném đá mà không phải vào địa ngục! Thậm chí, Thích Ca đã thành Đẳng Chánh Giác, vẫn thị hiện bị “kim vàng đâm chảy máu” v.v...
Kinh Kim Cang Phật cũng dạy: “Thiện nam tử, thiện nữ nhân trì tụng kinh này, khi thấu suốt ý nghĩa, tội nặng chỉ còn như sương móc, tội nhẹ sẽ tự tiêu trừ”.
Như vậy ta có thể hiểu: Người đã giác ngộ, tuỳ cảnh giới tu chứng sâu hay cạn, tuỳ tội nghiệp nặng hay nhẹ v.v... mà những lỗi lầm đã tạo trong quá khứ có xảy ra trong hiện đời hay không, cũng như quả ấy có trở thành báo hay không trở thành báo (báo lành, báo dữ hay không báo)!
Từ những phân tích ở trên, nhất định Trung Hiếu sẽ tự hiểu ra người đã giác ngộ có bị chi phối hay không bị chi phối bởi luật nhân quả!
Hy vọng, những giải đáp vừa rồi, có thể giúp Trung Hiếu và bạn đọc giải tỏa một số thắc mắc của bản thân!
Chúc Trung Hiếu an vui, tinh tấn và có những thành tựu chắc thật! Chúc bạn đọc thành ở đời, đạt ở đạo!
Rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn!
04/05/2022
LÝ TỨ
CBL.09 - Như Lý Tác Ý
Như lý tác ý là cách nói khác của Chánh tư duy! Khi người tu hành đối trước một vấn đề hay một pháp bất kì, nếu như lý tác ý (tư duy như pháp, Chánh tư duy)... sẽ ngăn chặn các ác bất thiện pháp và tăng trưởng thiện pháp!

Bạn đọc có nickname Tiếng Trống đã viết:
“Con đường duy nhất đó là phải giác ngộ. Giác là, biết cái cần biết, biết như pháp, như lý tác ý. Ngộ là, tiếp cận, bắt gặp, sở hữu cái ta đã giác. Giác chính là những thông tin hữu ích và đầy đủ về một điều gì đó, ngộ là ta bắt gặp điều đó khi ta thực hiện đầy đủ thông tin của giác”. Tình cờ con có đọc được đoạn viết này xin phép được hỏi Thầy:
1. Pháp như lý tác ý nghĩa là như thế nào ạ?
2. Trí tuệ từ đâu mà có? Có rèn luyện được trí tuệ không?
3. Có phương pháp nào biết được cái mà mình biết nó có thực sự là chính hay là tà không ạ?
Con tình cờ nghe được Thầy giải thích một số từ trong Phật đạo mà cảm nhận câu trả lời có hiểu đôi chút, nên mạnh dạn hỏi Thầy mấy câu hỏi trên.
Chúc Thầy mạnh khoẻ.
28/04/2022 0:33:24
Tiếng Trống
*****
Về các câu hỏi của bạn Tiếng Trống, mình xin được trả lời như sau:
Hỏi: 1. Pháp như lý tác ý nghĩa là như thế nào ạ?
Trả lời:
Như lý tác ý (Yoniso manasikàra) là thuật ngữ của Phật đạo nhằm hướng dẫn người tu hành chỉ nên như (y cứ vào) giáo lí đã học để tư duy một vấn đề! Đây là hình thức thiền tư (tư) của ba pháp văn, tư, tu...
Như lý tác ý là cách nói khác của Chánh tư duy! Khi người tu hành đối trước một vấn đề hay một pháp bất kì, nếu như lí tác ý (tư duy như pháp, Chánh tư duy)... sẽ ngăn chặn các ác bất thiện pháp và tăng trưởng thiện pháp!
Về như lý tác ý, Kinh Sabbàsava (Trung bộ) dạy như sau:
“Và này các Tỳ kheo(1), thế nào là các pháp không cần phải tác ý và vị này không tác ý? Này các Tỳ kheo, những pháp nào do tác ý mà dục lậu chưa sanh được sinh khởi, hay dục lậu đã sinh được tăng trưởng; hay hữu lậu. Hay vô minh lậu chưa sinh được khởi, hay vô minh lậu đã sinh được tăng trưởng. Đó là những pháp không nên tác ý và vị ấy không tác ý.
Và này các Tỳ kheo, thế nào là các pháp cần phải tác ý và vị ấy tác ý? Này các Tỳ kheo, những pháp nào do tác ý mà dục lậu chưa sinh không sinh khởi, hay dục lậu đã sinh được trừ diệt, hay hữu lậu. Hay vô minh lậu chưa sinh không sinh khởi, hay vô minh lậu đã sinh được trừ diệt, đó là những pháp cần phải tác ý và vị ấy tác ý.
Nhờ vị ấy không tác ý các pháp không cần phải tác ý, tác ý các pháp cần phải tác ý nên các lậu hoặc chưa sinh không sinh khởi và các lậu hoặc đã sinh được trừ diệt. Vị ấy như lý tác ý: “Đây là khổ”, như lý tác ý: “Đây là khổ tập”, như lý tác ý: “Đây là khổ diệt”, như lý tác ý: “Đây là con đường đưa đến khổ diệt”. Nhờ vị ấy tác ý như vậy, ba kiết sử được trừ diệt: Thân kiến, nghi, giới cấm thủ.
Hỏi: 2. Trí tuệ từ đâu mà có? Có rèn luyện được trí tuệ không?
Trả lời:
Trí tuệ trong Phật đạo được chia thành hai loại là Hữu sư trí và Vô sư trí!
- Hữu sư trí (còn có tên Sai biệt trí, Nhất thiết trí, Tương tợ Bát nhã...): Là loại trí tuệ do học tập, rèn luyện mà thành! Để viên mãn Hữu sư trí, người học phải học tập và rèn luyện 10 thứ trí sau: 1) Khổ trí, 2) Tập trí, 3) Diệt trí, 4) Đạo trí, 5) Loại trí, 6) Pháp trí, 7) Tận trí, 8) Vô sanh trí, 9) Nhất thiết trí, 10) Đạo tướng trí! Điều kiện để có thể học tập Hữu sư trí, người này phải phát tâm học trí tuệ và phát nguyện giáo hóa chúng sanh sau khi chứng Diệt đế!
- Vô sư trí (còn có tên Nhất thiết chủng trí, Tự nhiên trí, Phật trí, Bát Nhã trí...): Là loại trí tuệ được hình thành từ sự “bùng vỡ tâm thức lần cuối cùng” trước khi thành Đẳng chánh giác!
Điều kiện để tâm thức bùng vỡ lần cuối, người này phải trải qua quá trình làm công hạnh dài lâu để hội tụ đủ công đức sau khi đã thành tựu Nhất thiết trí!
Hỏi: 3. Có phương pháp nào biết được cái mà mình biết nó có thực sự là chính hay là tà không ạ?
Trả lời:
Để biết cái mà mình đã và đang biết là chánh hay tà, phải xem những hiểu biết đó có đáp ứng cũng như phục vụ mục tiêu trước mắt mà mình đã đặt ra hay không!
Ví dụ: Mục tiêu trước mắt của ta là tu tập để chấm dứt 8 món khổ nhân sinh! Hiểu biết nào đáp ứng đầy đủ và phục vụ tốt mục tiêu này (giúp ta chấm dứt 8 món khổ nhân sinh) thì hiểu biết đó có thể coi là chân chánh! Còn những hiểu biết nào đưa ta đi sai đường, không phục vụ cho mục tiêu đã đề ra (không giúp ta chấm dứt 8 món khổ nhân sinh) thì hiểu biết đó được coi là tà!
Hy vọng, những trả lời ở trên, có thể giúp Tiếng Trống và bạn đọc luôn như lí tác ý khi đối trước các pháp và nhận ra hiểu biết nào là chánh, hiểu biết nào là tà trong đời sống tu hành!
Chúc Tiếng Trống và bạn đọc an vui, tinh tấn!
Rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn!
02/05/2022
LÝ TỨ
1.Tỳ kheo: ta còn thấy cách đọc khác là Tỷ kheo, Tỳ khâu (khưu).
CBL.08 - Tứ Diệu Đế & Bát Chánh Đạo
Cho nên một câu “đời sống như pháp” chưa nói được điều gì trong quá trình tu tập! Vì thế, khi nào người tu hành thành tựu đạo quả sau cùng, đây mới được coi là “đời sống như pháp sau cùng” của Phật đạo!

Các bạn!
Hôm nay, mình lần lượt trả lời các thắc mắc của ba bạn Thiện Pháp, Tiếng Trống và Nguyễn Trung Hiếu như sau:
Bạn Thiện Pháp viết:
“Chào bác Lý Tứ!
Tôi là Phật tử tu hành theo Phật pháp cũng lâu năm. Tôi được một người bạn chia sẻ trực tiếp buổi ra mắt sách của bác. Tôi bỏ hết buổi sáng để theo dõi hết buổi ra mắt sách qua điện thoại.
Trong buổi ra mắt sách, bác có trả lời câu hỏi của các bạn đọc rằng “Tứ diệu đế là bốn cấp bậc người tu hành cần đạt được” khiến tôi rất hoan hỷ. Khi nghe câu trả lời này, tôi thấy rất hay và giúp tôi có định hướng trong tu hành. Tuy nhiên tôi vẫn có chỗ chưa thông. Tôi có câu hỏi nhờ bác giải thích dùm tôi.
1) Vì sao “Tứ điệu đế” là bốn cấp bậc người tu hành lần lượt phải đạt tới mà không phải là “bát chánh đạo” vì theo tôi kinh dạy “bát chánh đạo” là con đường chánh đạo cuối cùng phải đi? Vì theo tôi, muốn giải thoát và có được trí tuệ phải có đời sống như pháp. Đời sống như pháp ấy chính là Bát chánh đạo.
2) Nếu như “Tứ đế là bốn cấp bậc mà người tu hành lần lượt phải đạt được thì mực thước nào để người tu hành thấy được mình lần lượt đã đạt được các tầng bậc ấy. Ví dụ:- Khổ đế: Mực thước nào để biết rằng người tu hành đã đạt được bậc khổ đế?- Tập đế, Diệt đế và Đạo đế lần lượt có mực thước nào để người tu hành biết mình đã đạt được các tầng bậc đó?
3) Không liên quan đến vấn đề Tứ đế, nhưng cho tôi hỏi bác: Vì sao kinh ghi chép lại. “Tổ tổ truyền nhau tâm ấn” nhưng kinh lại nói “lấy trí tuệ làm sự nghiệp” vậy rõ ràng trí tuệ mới là cốt lõi con đường của Phật đạo. Tại sao Tổ tổ không truyền nhau trí tuệ mà chỉ truyền nhau “tâm ấn”.
Tôi xin cảm ơn bác.
25/04/2022 23:01:41
Thiện pháp
*****
Thiện Pháp và bạn đọc thân mến!
Về các câu hỏi của bạn, mình xin được trả lời như sau:
1) Vì sao “Tứ điệu đế” là bốn cấp bậc người tu hành lần lượt phải đạt tới mà không phải là “bát chánh đạo” vì theo tôi kinh dạy “bát chánh đạo” là con đường chánh đạo cuối cùng phải đi? Vì theo tôi, muốn giải thoát và có được trí tuệ phải có đời sống như pháp. Đời sống như pháp ấy chính là Bát chánh đạo.
Trả lời:
Trong câu hỏi bạn đã nêu, lời kinh ghi rõ: “Bát chánh đạo là con đường chánh đạo cuối cùng phải đi...”. Câu này có nghĩa: Bát chánh đạo là “kết quả cuối cùng” của việc tu học, sau khi thành tựu Bát chánh đạo, người ấy mới có thể lấy bát chánh làm đời sống và nó là con đường dẫn đến Vô thượng quả!
Mà, bát chánh là tám điều chân chánh thuộc về Đạo đế gồm: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định!
Muốn thành tựu Đạo đế, người tu hành phải thành tựu ba đế trước là: Khổ đế, Tập đế và Diệt đế! Điều này kinh Đại Niết bàn dạy: “Bốn đế như bốn nấc thang của một cái thang, muốn lên nấc thang thứ hai phải qua nấc thang thứ nhất, muốn lên nấc thang thứ ba thứ tư phải qua các bậc thang trước, không thể làm khác và cũng không thể đảo ngược”.
Và, Bát chánh đạo cũng chỉ là tám phẩm sau cùng của 37 phẩm trợ đạo gồm: Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi, Bát chánh đạo! Cho nên muốn có bát chánh, người học phải học xong 29 phẩm trước!
Đây là lí do: Vì sao “Tứ điệu đế” (kết quả của việc ứng dụng triệt để 37 phẩm) là bốn cấp bậc người tu hành lần lượt phải đạt tới mà không phải là ”bát chánh đạo” đầu tiên!
Về việc bạn đề cập: “Vì theo tôi, muốn giải thoát và có được trí tuệ phải có đời sống như pháp. Đời sống như pháp ấy chính là Bát chánh đạo!”
Theo mình thì, câu này chỉ đúng một phần! Vì rằng: Điều được gọi là “đời sống như pháp” tùy cấp độ tu tập mà thành lập, đời sống như pháp của cấp độ (quả vị) này không giống đời sống như pháp của cấp độ kia!
Ví dụ: Đạo quả vô lậu lấy vô lậu tâm làm đời sống như pháp! Bậc đắc giải thoát lấy Bất động Giải thoát làm đời sống như pháp! Vị thành tựu trí tuệ lấy trí tuệ làm đời sống như pháp v.v... Cho nên một câu “đời sống như pháp” chưa nói được điều gì trong quá trình tu tập! Vì thế, khi nào người tu hành thành tựu đạo quả sau cùng, đây mới được coi là “đời sống như pháp sau cùng” của Phật đạo!
2) Nếu như “Tứ đế là bốn cấp bậc mà người tu hành lần lượt phải đạt được thì mực thước nào để người tu hành thấy được mình lần lượt đã đạt được các tầng bậc ấy. Ví dụ:
- Khổ đế: Mực thước nào để biết rằng người tu hành đã đạt được bậc khổ đế?
- Tập đế, Diệt đế và Đạo đế lần lượt có mực thước nào để người tu hành biết mình đã đạt được các tầng bậc đó?”
Trả lời:
Về câu hỏi này, mình xin được trả lời như sau:
Đạo Phật là một nền giáo dục! Cho nên Phật đạo có bốn cấp học mà người tu hành phải lần lượt vượt qua để giải quyết các mục tiêu mà Phật đạo đã đề ra, đó là:
- Khổ đế, giải quyết tám món khổ nhân sinh gồm: Sanh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, ái biệt li khổ, cầu bất đắc khổ, oán tắng hội khổ, ngũ ấm xí thịnh khổ...
- Tập đế, giải quyết ba phần việc thường hay phát sinh lậu hoặc, trói buộc và mê mờ của một chúng sinh gồm: Phiền não (có 4 thứ), kiết sử (có 10 thứ) và mê mờ (có 3 thứ)! Hết các món này thành tựu đạo quả Vô lậu!
- Diệt đế, giúp người chứng Bất động Giải thoát (Nhị thừa), Minh tâm Kiến tánh (Bồ tát thừa)! Viên mãn Diệt đế, ba thừa đồng thành tựu các đạo quả xuất thế!
- Đạo đế, giúp ba thừa sau khi thành tựu viên mãn đạo quả xuất thế. Họ đồng thể nhập “Nhất thừa đạo” để học “Đạo trí tuệ!” Quá trình học Đạo trí tuệ họ phải học các môn học bắt buộc của giáo trình Nhất thiết trí gồm: Các pháp lành của chư Phật, các Tam muội môn, các Giải thoát môn cùng tám môn học để viên mãn Bát chánh là: Thấu thị môn, Thẩm sát môn, Đẳng ngữ môn, Đại hạnh môn, Đại đạo môn, Thật nghĩa môn, Đẳng trì môn và Chân giác môn. Học xong những thứ này, hoàn tất chương trình học tập của Phật đạo!
Như những gì đã liệt kê ở trên, đây chính là thước đo, là chuẩn mực để đánh giá người học đã học đến đâu và đã đạt được các mục tiêu nào trong Phật đạo!
3) Không liên quan đến vấn đề Tứ đế nhưng cho tôi hỏi bác. Vì sao kinh ghi chép lại. “Tổ tổ truyền nhau tâm ấn” nhưng kinh lại nói “lấy trí tuệ làm sự nghiệp” vậy rõ ràng trí tuệ mới là cốt lõi con đường của Phật đạo. Tại sao Tổ tổ không truyền nhau trí tuệ mà chỉ truyền nhau “tâm ấn”.
Trả lời:
Đạo Phật là Đạo trí tuệ, từ đạo quả đầu tiên đến đạo quả sau cùng đều do trí tuệ mà thành! Vì thế Phật đạo mới dạy “lấy trí tuệ làm sự nghiệp!” Tuy nhiên, Phật đạo có rất nhiều đạo quả từ thấp lên cao nên trí tuệ cũng cạn sâu sai khác! Bao giờ người tu hành thành tựu đạo quả sau cùng mới được xem là “viên mãn trí tuệ!”
Phật đạo không chỉ có Tâm ấn mà còn các loại ấn khác như Pháp ấn, Trí ấn! Nhưng, thông thường ta hay nghe người xưa đề cập nhiều đến Tâm ấn mà không hay nhắc đến hai ấn kia là vì, Tâm ấn là loại ấn được ấn chứng sau khi đã truyền các ấn khác trước đó!
Giống như trong giáo dục, khi học trò ra trường hoặc tốt nghiệp, người ta không cấp bằng cho điểm số học tập (Pháp ấn), không cấp bằng cho mức độ thông hiểu (Trí ấn) mà chỉ cấp bằng cho kết quả chung của cấp học đó! Ta có thể tạm hiểu: Tâm ấn là loại bằng cấp trong Phật đạo, cấp cho người học hoàn thành một cấp học cụ thể nào đó sau khi đã thành tựu Pháp ấn và Trí ấn!
Hi vọng, những trả lời vừa rồi, có thể giúp Thiện Pháp và bạn đọc có có cái nhìn sơ bộ về các cấp học, các mục tiêu, các học trình và các loại ấn dùng để ấn chứng trong Phật đạo!
Những câu hỏi của hai bạn Tiếng Trống và Nguyễn Trung Hiếu sẽ được trả lời trong các kì tới!
Rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn.
Chúc mọi người an vui, tinh tấn!
01/05/2022
LÝ TỨ
CBL.07 - Xin Một Lời Khuyên
Nếu có một lời khuyên cho bạn lúc này, mình chỉ có thể khuyên: Hãy kết bạn, làm quen với một số HĐ Lý Gia có hoàn cảnh như bạn. Và nhất định, các bạn ấy sẽ giúp “Mẹ thằng Rô” toại nguyện!

Các bạn!
Trong tuần, mình nhận được thắc mắc của một bạn đọc có tên Mẹ thằng Rô! Bạn ấy viết như sau:
“Chào bác! Con rất buồn mà không có lối đi. Con là giáo viên, tính khí bộc trực, nóng nảy, hay la học sinh nhưng không đến mức quá bực tức, và cũng chưa từng đánh học sinh vì nóng giận. Tuy nhiên khi bày con học thì con lại không kìm được cảm xúc của mình, có khi con tức đến run người, trong khi con của con là một đứa trẻ khá, tiếp thu nhanh, hoạt bát. Con thấy mình thật ngu xuẩn. Xin bác cho con lời khuyên. Con nên luyện tập từ đâu, phương pháp gì? Con cảm ơn bác rất nhiều!”
Con xin được giấu tên, xin gọi con là mẹ thằng Rô.
31/03/2022 22:20:54
Mẹ thằng Rô
*****
Mẹ thằng Rô thân mến!
Có thể nói, thắc mắc của bạn là một trong những thắc mắc của rất nhiều bạn trẻ mà mình nhận được trong chuyên mục này! Và nó, cũng là một trong những thắc mắc không thể giải quyết bằng “một vài lời khuyên” hoặc “một vài mách bảo” rằng bạn nên “luyện tập từ đâu hay phương pháp gì” như bạn đã nêu!
Mà, để giải quyết những điều như thế, đòi hỏi cả một quá trình học tập, nhận thức, rèn luyện theo một giáo trình nhất định! Và, rất nhiều HĐ Lý Gia cũng đã giải quyết tận gốc những gì hôm nay bạn đang mắc phải bằng chính “quá trình học tập” từ bản thân họ!
Nếu có một lời khuyên cho bạn lúc này, mình chỉ có thể khuyên: Hãy kết bạn, làm quen với một số HĐ Lý Gia có hoàn cảnh như bạn. Và nhất định, các bạn ấy sẽ giúp “Mẹ thằng Rô” toại nguyện!
Rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn!
Chúc mọi người an vui, tinh tấn, thành công!
04/04/2022
LÝ TỨ
CBL.06 - Có Pháp Hay Không Pháp?
Đạo Phật là một nền giáo dục, muốn hoàn thành các bậc học của nền giáo dục ấy, nhất định phải học, học và học! Đạo Phật là Đạo Trí Tuệ, muốn thành tựu các tầng cao trí tuệ của đạo ấy, nhất định phải học, học và học!

Các bạn!
Chiều nay, mình nhận được một số thắc mắc của bạn đọc có tên Nguyễn Quang Tuấn! Bạn Quang Tuấn thắc mắc như sau:
“Mình có trao đổi với một HĐ Lý Gia về Phật học, mình hỏi về các pháp HĐ này bảo: Đạo Phật là không pháp nên không có pháp nào cả, xin hỏi điều này có đúng với chánh pháp không?
Khi trao đổi về Thiền và Phật giáo, bạn này bảo Đức Phật thấy Thiền không đạt được gì cả nên bỏ thiền và đạt Giác ngộ, đồng thời HĐ này bảo, thiền là lấy một sở pháp đè một sở pháp nên không có hiệu quả trong tu tập và không nên thiền, chỉ nên tập trung lý luận học tập giáo lý để khai mở trí tuệ để giác ngộ, điều này có hoàn toàn đúng không? Xin giải thích để bản thân được minh ngộ điều này.
Chân thành cám ơn!”
20/03/2022 17:36:07
Nguyễn Quang Tuấn
*****
Nguyễn Quang Tuấn thân mến!
Về các thắc mắc của bạn, mình tạm chia thành hai phần và xin được trả lời như sau:
Hỏi:
1) Mình có trao đổi với một HĐ Lý Gia về Phật học, mình hỏi về các pháp HĐ này bảo: Đạo Phật là không pháp nên không có pháp nào cả, xin hỏi điều này có đúng với chánh pháp không?
Trả lời:
Để trả lời thỏa đáng câu hỏi trên, mình xin được đơn cử 10 bài kệ của đức Phật và 9 vị Tổ y bát được kế thừa giáo pháp chính thống đã tuyên thuyết về các pháp như sau!
1- ĐỨC BỔN SƯ THÍCH CA
Pháp bổn pháp vô pháp
Vô pháp pháp diệc pháp
Kim phó vô pháp thời
Pháp pháp hà tằng pháp.
Dịch:
Pháp gốc pháp không pháp
Pháp không pháp cũng pháp
Nay khi trao không pháp
Mỗi pháp đâu từng pháp?
2- TỔ MA HA CA DIẾP
Pháp pháp bổn lai pháp
Vô pháp vô phi pháp;
Hà ư nhất pháp trung,
Hữu pháp hữu phi pháp.
Dịch:
Các pháp, pháp xưa nay,
Không pháp, không phi pháp;
Tại sao trong một pháp,
Có pháp, có phi pháp.
3- TỔ A NAN
Bổn lai truyền hữu pháp,
Truyền liễu ngôn vô pháp.
Các các tu tự ngộ,
Ngộ liễu vô vô pháp.
Dịch:
Xưa nay truyền có pháp,
Truyền rồi nói không pháp;
Mỗi mỗi cần tự ngộ,
Ngộ rồi không không pháp.
4- TỔ THƯƠNG NA HÒA TU
Thông đạt phi bỉ thử
Trí thánh vô trường đoản.
Nhữ trừ khinh mạn ý,
Tất đắc A la hán.
Dịch:
Thông suốt dứt kia đây,
Chí thành không hay dở;
Ngươi trừ tâm khinh mạn,
Chóng được A la hán.
5- TỔ ƯU BA CÚC ĐA
Tâm tự bổn lai tâm,
Bổn tâm phi hữu pháp.
Hữu pháp hữu bổn tâm,
Phi tâm phi bổn pháp.
Dịch:
Tâm tự xưa nay tâm,
Bổn tâm chẳng có pháp.
Có pháp có bổn tâm,
Chẳng tâm chẳng bổn pháp.
6- TỔ ĐỀ CA ĐA
Thông đạt bổn tâm pháp,
Vô pháp vô phi pháp.
Ngộ liễu đồng vị ngộ,
Vô tâm diệc vô pháp.
Dịch:
Thông thấu pháp bổn tâm,
Không pháp, không phi pháp;
Ngộ rồi đồng chưa ngộ,
Không tâm cũng không pháp.
7- TỔ DI DÁ CA
Vô tâm vô khả đắc,
Thuyết đắc bất danh pháp.
Nhược liễu tâm phi tâm,
Thủy giải tâm tâm pháp.
Dịch:
Không tâm không thể được,
Nói được chẳng gọi pháp.
Nếu rõ tâm phi tâm,
Mới hiểu tâm tâm pháp.
8- TỔ BÀ TU MẬT
Tâm đồng hư không giới,
Thị đẳng hư không pháp.
Chứng đắc hư không thời,
Vô thị vô phi pháp.
Dịch:
Tâm đồng cõi hư không,
Đây sánh hư không pháp.
Khi chứng được hư không,
Không pháp, không phi pháp.
9- TÔ PHẬT ĐÀ NAN ĐỀ
Hư không vô nội ngoại,
Tâm pháp diệc như thử.
Nhược liễu hư không cố,
Thị đạt chơn như lý.
Dịch:
Hư không chẳng trong ngoài,
Tâm pháp cũng như thế.
Nếu hiểu rõ hư không,
Là đạt lý chơn như.
10- TỔ PHỤC ĐÀ MẬT ĐA
Chơn lý bổn vô danh,
Nhơn danh hiển chân lý?
Thọ đắc chân thật pháp,
Phi chơn diệc phi ngụy.
Dịch:
Chơn lý vốn không tên,
Nhơn tên bày chơn lý;
Nhận được pháp chân thật,
Chẳng chơn cũng chẳng ngụy.
Theo tinh thần mười bài kệ nêu trên, ta thấy rằng bổn lai vốn không pháp cũng không phi pháp! Và, tu hành trong Phật đạo là công cuộc tìm về bổn lai không pháp không phi pháp ấy! Vì thế, bảo rằng Phật đạo là không pháp, lời nói này không sai!
Tuy nhiên để hiểu thế nào là bổn lai, thế nào là pháp, thế nào là không pháp, thế nào là không phi pháp v.v... Người tu hành cần có thời gian “học tập đúng chánh pháp” và “giác ngộ như pháp”. Cho nên, chỉ một câu “Đạo Phật là không pháp”, câu này tuy đúng, câu này là “đệ nhất nghĩa” v.v... Nhưng, xét cho cùng, chỉ một câu ngắn gọn ấy, khó giúp người nghe (chưa giác ngộ) chấp nhận cũng như thấu suốt vấn đề!
Hỏi:
2) Và trao đổi về Thiền và Phật giáo, bạn này bảo Đức Phật thấy Thiền không đạt được gì cả nên bỏ thiền và đạt Giác ngộ, đồng thời HĐ này bảo thiền là lấy một sở pháp đè một sở pháp nên không có hiệu quả trong tu tập và không nên thiền, chỉ nên tập trung lý luận học tập giáo lý để khai mở trí tuệ để giác ngộ, điều này có hoàn toàn đúng không?
Trả lời:
Về thắc mắc này, mình xin trả lời từng ý nhỏ như sau:
a) Và trao đổi về Thiền và Phật giáo, bạn này bảo Đức Phật thấy Thiền không đạt được gì cả nên bỏ thiền và đạt Giác ngộ?
Trả lời:
Phật đạo là Đạo Giác Ngộ! Giác Ngộ gồm hai trạng thái nhận thức! Đó là: Trạng thái nhận thức của Giác và trạng thái nhận thức của Ngộ!
- Muốn thành tựu trạng thái nhận thức của Giác phải học tập!
- Muốn thành tựu trạng thái nhận thức của Ngộ phải thực chứng điều đã Giác!
Trong hai trạng thái này, không có trạng thái nào do Thiền mà thành! Tuy nhiên, một người thành tựu Giác hay thành tựu Ngộ đều “tự được Thiền!” Từ ý nghĩa trên, bạn có thể nhận ra câu nói của vị HĐ trên là thỏa đáng hay chưa!
b) Đồng thời HĐ này bảo thiền là lấy một sở pháp đè một sở pháp nên không có hiệu quả trong tu tập và không nên thiền!
Trả lời:
Phật dạy trong kinh Lăng Già: “Có bốn loại thiền gồm: Ngu phu sở hành thiền, Phan duyên như thiền, Quán sát nghĩa thiền và Như lai thiền!”
- Ngu phu sở hành thiền: Là loại thiền của “người không giác ngộ hoặc ngoại đạo” dùng một sở pháp đè một sở pháp!
- Phan duyên như thiền: Là loại thiền của “người không giác ngộ hoặc ngoại đạo” chấp trước một ý nghĩa thắng diệu nào đó, rồi cột chặt tâm ý vào sự chấp trước ấy cho rằng đây là cảnh giới thắng diệu!
Cả hai thứ thiền trên, đều không đưa đến cứu cánh Giác Ngộ trong Phật đạo! Nên bảo rằng, hai thứ thiền này không hiệu quả đối với đạo Giác Ngộ là không sai!
- Quán sát nghĩa thiền: Là loại thiền do Giác Lực mà có!
- Như lai thiền: Là loại thiền do trực Ngộ mà tự thành! Hai loại thiền trên thuộc về xuất thế gian thiền! Đây là kết quả “Giác và Ngộ rồi tự được thiền” chứ chẳng phải thứ thiền do công phu hay vận luyện của Đạo Thế Gian làm ra!
Chỉ khi nào thấu đáo bốn loại thiền mà Phật đã dạy ở trên, người tu hành mới tự biết muốn thành tựu Đạo Giác Ngộ có nên tu thiền hay không!
c) Chỉ nên tập trung lý luận học tập giáo lý để khai mở trí tuệ để giác ngộ. Xin giải thích để bản thân được minh ngộ điều này. Chân thành cám ơn!”
Trả lời:
Đạo Phật là một nền giáo dục, muốn hoàn thành các bậc học của nền giáo dục ấy, nhất định phải học, học và học!
Đạo Phật là Đạo Trí Tuệ, muốn thành tựu các tầng cao trí tuệ của đạo ấy, nhất định phải học, học và học!
Tóm lại!
Theo mình, trả lời của vị HĐ nào đó với bạn Nguyễn Quang Tuấn là “hoàn toàn đúng nhưng chưa đủ”. Vì rằng, muốn chỉ cho người “cái được gọi là đúng” thông qua một vài buổi trao đổi thì “chưa được coi là đủ” (nhất là đối với sự rộng sâu của giáo pháp)! Muốn “cái đúng trở thành đủ”, cần phải trải qua một quá trình học tập như pháp!
Chúc Nguyễn Quang Tuấn và bạn đọc an vui, tinh tấn!
Rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn!
30/03/2022
LÝ TỨ
CBL.05 - Làm Thế Nào Để Được Bình An Trong Tâm Hồn?
Những điều mang tính nguyên lí và cơ bản này có thể giúp những ai muốn có được “một chút bình yên trong tâm hồn” nếu áp dụng triệt để vào đời sống đều có cơ may thành tựu!

Các bạn!
Chuyên mục “Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời” kì này, xin được trả lời các câu hỏi của hai bạn đọc có tên Nguyễn Thu Hường và Lý Diệu Hiền!
Nội dung các câu hỏi như sau:
“Thế nào là Vô Thường ạ?
Làm thế nào để được bình an trong tâm hồn?
Mình có thể tự đong, đo đếm được phước của mình làm mỗi ngày không?”
02/12/2021 17:25:36
Nguyễn Thu Hường
“Thầy ơi con nghe rất nhiều người nói về Quy Y Phật, Quy Y Pháp và Quy Y Tăng. Nhưng làm thế nào để hiểu và ứng dụng việc này thì con chưa rõ. Con rất mong Thầy giáo dạy ạ.”
20/01/2022 5:25:36
Lý Diệu Hiền
*****
Bạn Nguyễn Thu Hường thân mến!
Mình xin lần lượt trả lời các câu hỏi của bạn theo thứ tự:
1) Thế nào là Vô Thường ạ?
Trả lời:
- Vô thường là một trong những khái niệm quan trọng của Phật đạo! Hai chữ vô thường nhằm chỉ cho những gì có tính sinh diệt, biến đổi, không bền chặt v.v...
Những thứ này có khuynh hướng bị tác động bởi yếu tố thời gian và không gian theo quy luật!
- Có ba thứ đặc trưng phải chịu quy luật vô thường đó là:
a) Thân: Chịu quy luật: Sanh, lão, bệnh, tử! Ta quen gọi là “sanh tử!”
b) Tâm thức và các pháp: Chịu quy luật: Sanh, trụ, dị, diệt! Ta quen gọi là “sanh diệt!”
c) Thế giới và trần cảnh: Chịu quy luật: Thành, trụ, hoại, không! Ta quen gọi là “thành hoại!”
2) Làm thế nào để được bình an trong tâm hồn?
Trả lời:
- Đây là một câu hỏi khó có thể trả lời thỏa đáng trong khuôn khổ một bài viết! Tuy nhiên, mình xin vắn tắt vài điều mang tính nguyên lí! Những điều mang tính nguyên lí và cơ bản này có thể giúp những ai muốn có được “một chút bình yên trong tâm hồn” nếu áp dụng triệt để vào đời sống đều có cơ may thành tựu! Các nguyên lí có tính cơ bản đó là:
a) Bằng lòng với những gì đang có!
b) Xây dựng đời sống ít muốn biết đủ (thiểu dục tri túc)!
c) Lao động và học tập hết mình nhưng “không nuôi hi vọng!” Vì rằng, hi vọng thành tựu sẽ dẫn đến “tham vọng!” Hi vọng không thành tựu sẽ sanh “thất vọng!” Hai cực đoan “tham vọng và thất vọng” là một trong những nguyên nhân làm cho tâm dao động, không bình an!
d) Không mê đắm và chạy theo cảnh duyên khi mắt thấy, tai nghe v.v... Vì, người mê đắm và chạy theo cảnh duyên khi mắt thấy tai nghe... tâm hồn sẽ “bị treo ngược ở cành cây” từ đó buồn vui, bất an nhất định sẽ xảy ra!
3) Mình có thể tự đong, đo đếm được phước của mình làm mỗi ngày không?
Trả lời:
- Phước đức không phải là vật chất, nên không thể cân đong đo đếm như con gà, quả bí. Tuy nhiên, báo lành (quả) của phước đức thì ta có thể cảm nhận hoặc thấy được thông qua những gì gặt hái trong đời! Ví dụ: Người nhiều phước đức có được quyền cao chức trọng, nhà lầu xe hơi, gia đình hạnh phúc v.v... Người ít phước đức thì, những thứ nêu trên ít ỏi. Người không phước đức thì, nghèo hèn, đói khổ v.v...
- Phước đức mình làm mỗi ngày có khi hiện ra tức thì, có khi không hiện ra tức thì. Cho nên, nếu phước đức hiện ra tức thì ta có thể biết được, còn phước đức hôm nay làm nhưng ngày sau mới hiện thì, hiện tại ta không hoặc chưa thể biết được! Nói tóm lại, khi nào “duyên đủ” phước đức mới hiện, duyên chưa đủ, phước đức tạm... đi ... du... lịch!
Về câu hỏi của Lý Diệu Hiền, mình xin được trả lời như sau:
Hỏi:
- “Thầy ơi con nghe rất nhiều người nói về Quy Y Phật, Quy Y Pháp và Quy Y Tăng. Nhưng làm thế nào để hiểu và ứng dụng việc này thì con chưa rõ. Con rất mong Thầy giáo dạy ạ”.
Trả lời:
- Quy y tam bảo hay ba pháp quy y trong Phật đạo gồm Quy Y Phật, Quy Y Pháp và Quy Y Tăng! Đây là ba thứ phép tắc mà bất kì người nào muốn tu hành trong Phật đạo đều phải thực hiện trước khi học tập!- Theo Wikipedia: “Quy y (zh. 皈依, sa. शरण śara सरण sara a, pi. a, bo. skyabs) còn được gọi là quy đầu (zh. 歸投), ngưỡng trượng (zh. 仰仗), y thác (zh. 依托). Quy y
trong Phật giáo có nghĩa là quy y Tam bảo. Nghĩa là y thác vào Phật, Pháp, Tăng ba ngôi có thể bảo hộ che chở, cũng gọi là Quy y Tam Bảo.
Chữ Quy (歸) có nghĩa ở đây là trở về, theo về, y (依) là nương nhờ hay thuận theo, làm theo lối đã định, 三歸依 tam quy y là quy y Tam bảo. Chữ Quy cũng được viết là 皈 gồm bộ thủ Bạch 白 (“cõi sáng”) và chữ Phản 反, “quay về” và như vậy, có nghĩa là “quay về cõi sáng”, “dốc lòng tin theo”. Trong các bộ Phệ đà (sa. veda), từ śaraa có nguyên nghĩa là “bảo hộ”, “cứu tế” hoặc “chỗ tị nạn”, “chỗ bảo hộ”, ý là chỗ chúng sinh có thể đến, thân được an toàn, tâm được vô ưu. Quy y Tam bảo của Phật giáo chỉ sự nương vào uy lực của Tam bảo để đạt được an ổn vô hạn của tâm thức, thoát mọi khổ não!”
- Còn theo mình thì: Quy y Tam bảo gồm có ba thứ quy y, đó là: Quy y Tam bảo thế gian (Tam bảo hình tướng), quy y Tam bảo xuất thế gian (Tam bảo tự tánh), và y Tam bảo xuất thế gian thượng thượng (Tam bảo trí tuệ)!
a) Quy y Tam bảo thế gian là: Tìm đến một vị xuất gia xin thọ tam quy để được làm Phật tử!
b) Quy y Tam bảo xuất thế gian, hay quy y Tam bảo tự tánh là: Nương nơi bổn tâm thanh tịnh để quay về, gọi là quy y Phật! Tinh tấn dứt trừ khổ, phiền não, kiết sử, lậu hoặc, thành tựu bất động giải thoát... gọi là quy y Pháp! Một lòng một dạ, không thối chuyển và thành tựu hai điều trên, gọi là quy y Tăng!
c) Quy y Tam bảo xuất thế gian thượng thượng là: Lấy trí tuệ vô thượng làm mục tiêu hướng đến học tập, gọi là quy y Phật! Tinh tấn thâm đạt các pháp lành gồm vô lượng Tam muội môn và Giải thoát môn của chư Phật, gọi là quy y Pháp! Thành tựu rốt ráo hai điều trên, thể nhập “Nhiếp thọ chánh pháp vô dị biệt”, gọi là quy y Tăng!
Tóm lại, quy y Tam bảo hữu vi (thế gian), vô vi (xuất thế gian) hay phi hữu phi vô (xuất thế gian thượng thượng). Người quy y đều phải một lòng một dạ tin vâng, học tập và ứng dụng nhuần nhuyễn vào đời sống một cách như pháp (như giáo pháp đề ra) mới gọi là “chân chánh quy y!”
Hy vọng, những trả lời ở trên có thể giúp hai bạn Nguyễn Thu Hường, Lý Diệu Hiền và bạn đọc thoả mãn những gì đã thắc mắc!
Chúc mọi người an vui, tinh tấn!
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn!
25/01/2022
LÝ TỨ
CBL.04 - Người Tại Gia Có Đạt Được Mục Đích Cuối Cùng Của Phật Đạo?
Lý Gia phong phú như một khu rừng, rong rêu, thảo mộc đầy đủ! Khu rừng Lý Gia có cây non vừa mới mọc, có cây đang trong thời kì phát triển, có cây đã thành cổ thụ, có những cây đang theo gió gieo hạt của mình, cũng có những cây mà lõi của nó đang được đẽo gọt để vị lai trở thành những bức tượng vô giá làm đẹp cho đời v.v...

Các bạn!
Hơn một tháng rồi, mình không nhận được câu hỏi nào của bạn đọc từ chuyên mục “Bạn đọc hỏi – Lý Tứ trả lời”. Hồi khuya, nhận được mấy câu hỏi liên quan đến Lý Gia của một bạn đọc có tên là Nguyễn Tuấn Khánh ở New South Wales nước Úc! Bạn ấy viết như sau!
“Kính gởi Thầy Lý Gia.
Em tên Nguyễn Tuấn Khánh hiện ở New South Wales năm nay 32 tuổi. Chỗ em ở có rất nhiều chùa và cũng có nhiều người tìm hiểu Phật giáo.
Bản thân em, sau khi ra trường đi làm, những ngày nghỉ thỉnh thoảng cũng đến thư viện Camperdown tìm hiểu về đạo Phật và học Thiền. Em cũng thực hành thiền định, nghiên cứu các bài giảng trên mạng và làm theo nhưng kết quả không như mong muốn. Trong một lần tình cờ, đọc được bài viết của Thầy do người bạn ở Mỹ chia sẻ, em nhận ra trong bài viết có cách nhìn khác về Phật giáo không giống các tài liệu mà em đã đọc trước đây. Từ đó em mới biết đến group Lý Gia và đăng kí vào nhóm rồi thường xuyên tìm hiểu.
Em nhận thấy group Lý Gia như một sân chơi của mọi người, các bài viết trong đó mang những quan điểm về Phật giáo văn minh và thoáng hơn những gì em biết trước đây. Nhất là quan điểm “Phật giáo là một nền giáo dục” của Thầy đã làm em rất bất ngờ và cách học tập cũng không nặng nề hay gò bó như cách em học trước đây. Vì thế em thích Lý Gia và không bỏ sót một bài viết hay video nào đăng trên group.
Em cũng xem video lễ tổng kết hồi đầu năm, buổi lễ thật là văn minh, đơn giản, đẹp nhưng rất trang trọng. Phát biểu của các anh chị trong Lý Gia cho em nhiều cảm xúc qua cách nói thật thà, lời lẽ không khoa trương nhưng sâu sắc và chứa đựng tính nhân văn trong đường lối giáo
dục. Em thấy cách học tập của Lý Gia phù hợp với mình và giới trẻ hiện nay.
Để tìm hiểu thêm về group em có một số thắc mắc, mong Thầy vui lòng giải thích.
1) Lý Gia có học thiền và ngồi thiền, tụng kinh hàng ngày hay không?
2) Công phu chủ yếu của Lý Gia là gì?
3) Nếu chỉ học lí thuyết mà không công phu có đạt đạo hay không?
4) Đích đến cuối cùng của Lý Gia là gì? Người không ở chùa có đạt được đích cuối cùng? Học trò của Thầy đã có ai đạt đến đích cuối cùng?
Văn chương của em không trôi chảy, hơi lộn xộn mong Thầy thông cảm, em cảm ơn rất nhiều.
Kính thư.
16/01/2022 20:20:36
Nguyễn Tuấn Khánh - New South Wales
*****
Tuấn Khánh và bạn đọc thân mến!
Lời đầu tiên, thay mặt Ban quản trị Lý Gia, mình xin chân thành cảm ơn Tuấn Khánh và bạn đọc đã có các câu hỏi gửi về chuyên mục của trang! Và cũng chân thành cảm ơn người bạn trẻ Tuấn Khánh tuy sinh sống ở nước ngoài, nhưng vẫn thường xuyên theo dõi sinh hoạt và có những thiện cảm, nhận xét tốt đẹp về nhóm Lý Gia! Đây là món quà tinh thần quý giá, giúp nhóm hoạt động và phục vụ bạn đọc ngày một tốt hơn!
Về các câu hỏi của Tuấn Khánh, mình xin được trả lời như sau:
1) Lý Gia có học thiền và ngồi thiền, tụng kinh hàng ngày hay không?
- Trong chương trình học tập của Lý Gia, các thứ thiền định và các cảnh giới của thiền định đã được Lý Gia coi là một trong những nội dung học tập quan trọng! Vì thế, những kiến thức liên quan đến nội dung này, luôn luôn được Lý Gia phân tích, trao đổi thường xuyên đến nơi đến chốn với HĐ của mình. Nhờ thế, hầu hết HĐ Lý Gia đều nắm vững sự khác biệt giữa “thế gian thiền” (ngu phu sở hành thiền, phan duyên như thiền) và “xuất thế gian thiền” (quán sát nghĩa thiền, Như Lai thiền)... Từ đó, HĐ Lý Gia biết cách làm thế nào để thành tựu “thiền vị xuất thế” đúng với tinh thần Phật đạo mà không bị kẹt mắc trong “thiền định thế gian!”
- Về việc ngồi thiền! Lý Gia chỉ ra rằng, sau khi giác ngộ, tâm thức tự được thiền. Vì thế, đối với HĐ Lý Gia, đi, đứng, ngồi, nằm hay nói khác hơn là, trong mọi hoạt động thường nhật đều phát sinh và hưởng dụng các tính chất tốt đẹp của thiền như hỉ lạc, khinh an, định tĩnh, nhu nhuyến v.v... từ thiền xuất thế, mà không cần dụng công hay công phu như thế gian thiền!
- Về việc tụng kinh! Tất cả HĐ Lý Gia đều lấy kinh điển làm giáo khoa để học tập sau khi được mình hoặc các huynh trưởng cắt nghĩa, phân tích, giảng nói ý nghĩa của từng bài kinh, từng đoạn kinh phù hợp với mức độ tu tập của từng người trong từng giai đoạn cụ thể. Do đó việc đọc tụng, tư duy, ứng dụng lời kinh vào đời sống là việc làm thường xuyên của HĐ Lý Gia!
Tóm lại, học thiền, được thiền, tụng kinh, tư duy ý nghĩa, ứng dụng vào đời sống v.v... đối với Lý Gia là hơi thở, là thức ăn nuôi lớn pháp thân (pháp thực, thiền duyệt thực, hỉ lạc thực)! Vì thế, những thứ ấy được thực hành thường xuyên, không phân biệt là thời gian nào trong ngày!
2) Công phu chủ yếu của Lý Gia là gì?
- Như đã trình bày ở trên, Lý Gia không có cái riêng biệt được gọi là “công phu chủ yếu” mà, Lý Gia chủ trương kết hợp nhuần nhuyễn những điều đã học vào đời sống (đạo trong đời, đời đạo không hai). Nên, bất kì lúc nào Lý Gia cũng không rời “đạo tràng” của mình! Trên tinh thần đó, HĐ Lý Gia có thể giác ngộ ở bất kì thời điểm nào từ bất kì công việc gì, không đợi đến lúc “khoanh chân công phu” mới giác ngộ!
3) Nếu chỉ học lí thuyết mà không công phu có đạt đạo hay không?
- Hiểu được phần trả lời câu hai ở trên, sẽ tự giải đáp câu hỏi này!
4) Đích đến cuối cùng của Lý Gia là gì? Người không ở chùa có đạt được đích cuối cùng? Học trò của Thầy Lý Gia đã có ai đạt đến đích cuối cùng?
- Đích đến cuối cùng của Lý Gia là gì?
* Đích đến cuối cùng của Lý Gia nằm trong đích đến cuối cùng của đạo pháp, Lý Gia không có đích đến riêng lẻ của mình! Đích đến cuối cùng của đạo pháp là “trí tuệ”, vì thế Lý Gia cũng hướng HĐ của mình đến mục đích đó! Tuy nhiên, để có thể đạt được mục đích cuối cùng, mọi HĐ Lý Gia đều phải đi trên con đường của giáo pháp vạch ra! Con đường đó là: Hết khổ, dứt tập, chứng diệt và học đạo rồi cuối cùng mới thành tựu đạo trí tuệ!
- Người không ở chùa có đạt được đích cuối cùng?
* Mục đích cuối cùng của Phật đạo là trí tuệ! Thành tựu trí tuệ là thành tựu thuộc về nhận thức và giác ngộ! Vì thế, người xuất gia ở chùa, người tại gia ở nhà, người buôn bán ở chợ, người đốn củi trên núi, người du hành trên trời, người lặn sâu dưới biển, anh công chức, anh nông dân, bác học, thất học, kẻ giàu, người nghèo v.v... Bất kì ai có được những nhận thức như pháp và giác ngộ những nhận thức đó một cách như pháp đều có thể thành tựu mục tiêu cuối cùng của Phật đạo! Cho nên, Phật đạo không phải là “đặc quyền đặc lợi”, không phải là “tài sản riêng” của bất kì một ai! Mà Phật đạo là một thứ tri thức tốt đẹp, là tài sản chung của nhân loại! Bất kì ai ham thích, có tâm nguyện, nếu chịu khó dấn thân học tập đều có thể đạt được mục đích đó!
- Học trò của Thầy Lý Gia đã có ai đạt đến đích cuối cùng?
* Lý Gia phong phú như một khu rừng, rong rêu, thảo mộc đầy đủ! Khu rừng Lý Gia có cây non vừa mới mọc, có cây đang trong thời kì phát triển, có cây đã thành cổ thụ, có những cây đang theo gió gieo hạt của mình, cũng có những cây mà lõi của nó đang được đẽo gọt để vị lai trở thành những bức tượng vô giá làm đẹp cho đời v.v... Nói chung, Lý Gia là một “hệ sinh thái” đặc trưng của giáo pháp đang tồn tại và tương tác với nhau “từ yếu tố bên trong lẫn yếu tố bên ngoài” một cách sinh động nhất, với khẩu hiệu “mang yêu thương và ước mơ đến những nơi xa nhất” và khẩu hiệu này đang trở thành hiện thực! Cho nên, HĐ Lý Gia có người hiện nay đã gần như sắp chạm đến mục đích cuối cùng, cũng có những người đang trên đường tiến về mục đích đó!
Hy vọng, các câu trả lời ở trên có thể giúp Tuấn Khánh và bạn đọc có thêm những hiểu biết về Lý Gia! Chúc Tuấn Khánh và bạn đọc năm mới 2022 an vui, thành công trong cuộc sống!
Ban quản trị rất mong nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn!
18/01/2022
LÝ TỨ
CBL.03 - Lý Tứ Được Mời Ăn Uống
Về việc bạn hỏi chuyện trực tiếp gặp mình và HĐ Lý Gia, xin bộc bạch như sau: Lý Tứ chỉ là “phó thường dân Nam bộ”, nên ai gặp cũng được, ai mời cũng ăn, ngồi đâu cũng hoan hỉ. Không cần điều kiện gì hết, miễn là đủ duyên và người mời “nhớ đem theo tiền” để trả!

Các bạn!
Đã lâu Ban quản trị không nhận được một “câu hỏi chính thức” nào của bạn đọc từ chuyên mục! Thời gian qua, thỉnh thoảng cũng có vài bạn đọc đặt câu hỏi, nhưng phần lớn những câu hỏi đó người hỏi không cung cấp đủ dữ kiện, vì thế Ban quản trị chỉ trả lời riêng, mà không trả lời trực tiếp từ chuyên mục!
Hôm nay, Ban quản trị nhận được tâm sự dài nhằng và hai câu hỏi của bạn đọc có nick name Trọng Nghĩa ở TP Hồ Chí Minh! Bạn ấy đã viết như sau:
“Thưa Thầy Lý Tứ!
Nhờ một người quen giới thiệu, tôi có vào trang của Thầy và đọc các bài viết trên đó. Tôi có vài nhận xét sau:
Đầu tiên tôi rất bất ngờ trong cách giải thích của Thầy về những vấn đề liên quan đến Phật pháp. Lúc đầu tôi hơi sốc vì cách giải thích không như những gì tôi đã biết và thực hành trong hơn mười lăm năm qua, tôi đã có ý định không xem tiếp các bài viết của trang này nữa vì cảm giác một thứ “dị luận” mà theo tôi có vẻ không đúng chánh pháp, thậm chí “tà kiến!”
Nhưng rồi do tò mò khi xem các bài viết của những người mà họ cho là học trò của Thầy trong nhóm Lý Gia. Phần lớn tôi thấy họ xưng tán Thầy và xưng tán đồng môn là đã thành tựu nhiều điều trong đạo, tôi không khỏi nghi ngờ. Cái cách “mèo khen mèo dài đuôi” này có phải thực chất hay chỉ là trò câu khách? Thế là tôi quyết định đọc tất cả những gì Thầy đã viết trên trang cũng như học trò Thầy viết trong nhóm để có những đánh giá cho riêng mình, không chạy theo xu hướng đám đông trên mạng xã hội. Công việc này mất đến mười tháng, nhưng vì có dịch bệnh, xã hội bị giãn cách nên thì giờ có thừa.
Bài đầu tiên tôi tiếp cận đó là bài viết Thầy trả lời về chuyện “ăn chay hay ăn mặn”, với cách lập luận thuyết phục không muốn nói là rất khoa học mang đậm chất giáo dục, điều này làm tôi thích thú và quyết định đọc tiếp những bài sau (có lẽ do bệnh nghề nghiệp). Có rất nhiều bài viết của Thầy khiến tôi phải suy nghĩ, tuy những điều Thầy viết trái ngược hoàn toàn với cách giải thích có tính truyền thống mà tôi đã từng biết đến, nhưng càng suy nghĩ càng thấy có lý, dễ hiểu, dễ ứng dụng, gần gũi với đời sống, rất đời thường, không triết lí cao siêu nhưng cảm giác cái cao siêu ấy ta có thể bắt gặp ngay trong cuộc sống đời thường bất kỳ lúc nào!
Càng khâm phục hơn, khi đọc đến các bài Thầy đã phản biện và chỉ ra sự bất hợp lí từ những luận giảng thuộc loại “cây đa cây đề” của người xưa mà trước đến nay chưa ai dám phản biện. Chính điều này khiến tôi nhận ra sự độc đáo rất riêng của Thầy. Riêng cách giải thích không giống ai của Thầy về bài Bát Nhã Tâm Kinh và mấy câu hỏi có phần dí dỏm trong bài “Câu chuyện ngắn ngủn” đã hoàn toàn làm tôi khâm phục, sáng tỏ và không còn nghi ngờ gì về Thầy cũng như thành công từ học trò của Thầy. Đây có lẽ là trực nhận của một Thầy giáo có nhiều chục năm trong nghề. Đúng là tôi đã bắt gặp một luồng gió mới về giáo pháp, luồng gió này đã giúp tôi tiếp cận giáo pháp dễ dàng hơn, đồng thời cũng nhận ra Phật đạo là một hệ thống giáo dục đúng nghĩa chứ không như trước đây vẫn mập mờ, lẫn lộn giữa Phật đạo và đạo Phật!
Tôi viết những điều này như một sự trải lòng, một cách gián tiếp tri ân Thầy và các học trò của Thầy đã đưa tôi từ nghi ngờ đến khâm phục. Đưa tôi từ một người chấp nhất, gìn giữ những gì được coi là truyền thống trở thành một người biết buông bỏ sự bất hợp lý trong cách giải thích cho dù đó là truyền thống để tự khai phóng bản thân! Một sự tri ân mà trong đời chưa bao giờ tôi dám bộc bạch như ngày hôm nay! Bộc bạch của anh giáo có thâm niên gần 30 năm đứng lớp, bằng cấp đạt được do năng lực bản thân!
Nếu Thầy đồng ý, tôi xin mạn phép đặt một vài câu hỏi để giải tỏa một số thắc mắc sau cùng còn sót lại sau khi tìm hiểu về Thầy và học trò của Thầy.
1) Tôi có thể trực tiếp gặp Thầy và học trò của Thầy để mời một bữa ăn và nhâm nhi cà phê đàm đạo được không (không hạn chế số lượng, địa điểm do Thầy chọn)? Điều kiện để có thể trực tiếp gặp Thầy là gì?
2) Trong đời Thầy đã gặp câu hỏi nào Thầy cho là khó về Phật pháp? Nếu bị hỏi khó, Thầy có nổi nóng hay không? Mong muốn có một ngày được hân hạnh diện kiến con người bằng xương bằng thịt của Thầy và môn đệ!
Trọng Nghĩa kính bút”.
*****
Trọng Nghĩa thân mến!
Đọc tâm sự của bạn, đầu tiên Lý Tứ xin được nói lời cảm ơn về những gì bạn đã nhận xét tốt đẹp đối với mình và HĐ Lý Gia!
Về hai câu hỏi, xin được trả lời như sau:
1) Tôi có thể trực tiếp gặp Thầy và học trò của Thầy để mời một bữa ăn và nhâm nhi cà phê đàm đạo được không (không hạn chế số lượng, địa điểm do Thầy chọn)? Điều kiện để có thể trực tiếp gặp Thầy là gì (xin nghe nói thật)?
Trả lời:
Mỗi khi Lý Tứ nghe ai mời ăn uống, cà phê... trong bụng mừng như “lân gặp pháo!”
Về việc bạn hỏi chuyện trực tiếp gặp mình và HĐ Lý Gia, xin bộc bạch như sau: Lý Tứ chỉ là “phó thường dân Nam bộ”, nên ai gặp cũng được, ai mời cũng ăn, ngồi đâu cũng hoan hỉ. Không cần điều kiện gì hết, miễn là đủ duyên và người mời “nhớ đem theo tiền” để trả!
Về địa điểm và thời gian: Từ trà đá vỉa hè, quán cóc chồm hổm, đến nhà hàng sang chảnh... Lý Tứ và học trò của mình không và chưa từng từ chối một nơi nào hết! Thời gian thì tuỳ, tốt nhất là lúc nào nhà nước cho tụ tập ăn uống! Trọng Nghĩa để lại số điện thoại trong messenger của mình, khi nào đi vào thành phố nhất định sẽ gọi cho bạn để được ăn... uống... và đàm đạo! Ha ha ha ha!
2) Trong đời Thầy đã gặp câu hỏi nào Thầy cho là khó về Phật pháp? Nếu bị hỏi khó, Thầy có nổi nóng hay không?
Trả lời:
Ít ra thì, cho đến thời điểm hiện tại, mình chưa từng gặp một câu hỏi nào được cho là khó về Phật pháp. Còn vị lai thì chưa biết! Nếu giả sử có ai đó đưa ra câu hỏi mà Lý Tứ cho là khó, vượt quá sở học của mình thì, Lý Tứ sẽ nói thẳng điều này mình chưa biết, sẽ tìm hiểu. Phật pháp là vô bờ, có vô số điều bản thân chưa biết là tự nhiên, đâu có gì mà phải nổi nóng!
Mình cũng xin nói nhỏ, Trọng Nghĩa cứ chuẩn bị câu hỏi, khi nào gặp nhau mình rất vui khi được nghe Trọng Nghĩa nêu lên, và sẵn sàng đón chờ các câu hỏi được cho là khó. Đừng ngại! Nổi nóng cũng như trả lời lấp liếm cho qua chuyện khi bị làm khó. Đây không phải là tác phong của Lý Tứ!
Chúc Trọng Nghĩa và bạn đọc an vui, tinh tấn!
Rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn!
18/10/2021
LÝ TỨ
RRLM.44 - Xem Cờ Xưa Nhớ Chuyện Xưa
Vô tình, hôm qua lang thang trên mạng xã hội, gặp lại những ván đấu ngày xưa của thiên tài cờ tướng Trần Quới (biệt danh Lác Chảy)! Một tài hoa của làng cờ nhưng đoản mạng! Bài viết, như một hồi ức từ thuở chưa dấn thân cho đạo pháp!

Vào những năm cuối thập niên 70 đầu 80 của thế kỉ trước! Làng cờ giang hồ miền Nam nổi lên một cao thủ cờ tướng rất trẻ có biệt danh là Lác Chảy, một trong Võ Lâm Tam sát, đứng đầu Nhất Sát – Lê Thiên Vị, Nhị Sát – Lê Nhị Trí và cuối cùng là Tam Sát – Trần Quới (Lác Chảy)! Lúc ấy Lác Chảy rất trẻ, khoảng chừng trên 20 tuổi (nhỏ hơn mình vài tuổi)!
Tuy tuổi đời còn rất trẻ nhưng có xem Lác Chảy chơi cờ, mới thấy cờ của Tam Sát Trần Quới (Lác Chảy) sâu thẳm, táo bạo, biến hoá một cách ma quái đưa đến những sát cục ngoài dự tính của người xem! Nói đến Lác Chảy, phải nói đến khả năng chơi cờ mù (cờ mù là loại cờ mà người chơi không nhìn vào bàn cờ) của danh thủ này! Mình và Lão Trương Tam đã từng có hai ngày ăn bánh mì tại chỗ xem Lác Chảy chấp hai cao thủ miền Tây đương thời hợp lực đánh cờ sáng (chấp hai cái đầu) còn Lác Chảy (một mình) chơi cờ mù, sau hai ngày chiến đấu kết quả cuối cùng Lác Chảy vẫn thắng!
Để biết kì lực của Lác Chảy như thế nào, hãy nghe danh thủ Phan Hiền Khánh của Phan Thiết tâm sự: “Danh thủ Phan Hiền Khánh của Phan Thiết là tay cờ nhiều năm đoạt vô địch tại địa phương này xưa nay chưa hề lùi bước trước bất cứ cao thủ nào ở suốt dải miền trung. Thế mà khi gặp Trần Quới, anh bị đánh bại liên tục để cuối cùng Trần Quới phải chấp anh một Mã mà anh vẫn thua!
Sau này Phan Hiền Khánh nhớ lại và nói với bạn bè: “Trong cuộc đời chơi cờ của tôi, người mà tôi khâm phục nhất là Trần Quới. Vào thời kỳ tôi sung sức thì dù các danh thủ như Phạm Thanh Mai, Phạm Tấn Hoà... Chưa ai có thể chấp nổi tôi 3 tiên. Thế nhưng thằng nhóc “Lác Chảy” chấp tôi một Mã, thì thử hỏi có tức không? Tổng kết lại, tôi vẫn còn lỗ nhiều. Mà càng tức, càng chơi thì càng thua. Thật là lạ!” (Theo CờTướng.Vn - Thiên tài cờ tướng Trần Quới – Mãi mãi một huyền thoại)!
Mình quen biết Lão Trương Tam vào những năm cuối thập niên 70 của thế kỉ trước! Lúc ấy Lão Trương mỗi đêm bày bán sách cũ trên vỉa hè, còn mình là người chuyên đi lục lạo tìm mua sách cũ về đọc! Một đêm, mình cùng bà xã lang thang tìm mua sách cũ ở vỉa hè và gặp Lão Trương, từ đó biết nhau rồi quen nhau! Lúc ấy, mình chưa chuyên tâm nghiên cứu Phật pháp cũng không biết Lão Trương là người nghiên cứu Phật pháp! Mình và Lão Trương thỉnh thoảng rủ nhau đi uống cà phê, câu chuyện của hai người xoay quanh đề tài sách vở và cờ tướng! Có thể nói, mình là Lão Trương tuy tuổi tác khác nhau, không cùng thế hệ, nhưng có nhiều sở thích giống nhau đó là sách vở, cờ tướng và Phật pháp!
Hồi ấy, mình đam mê cờ tướng nhưng chơi không hay, chỉ thuộc loại “thường thường bậc trung”! Trong xóm của mình, có một vị Sư già, ông ta là người xuất gia nhưng lại ở nhà chứ không ở chùa, có danh xưng là Chú Sáu! Hồi trai trẻ, lúc chưa xuất gia, Chú Sáu là nhà vô địch cờ tướng của xứ này! Cứ mỗi buổi chiều, trên đường đi bộ về nhà, mình thường ghé vào nhà Chú Sáu đánh vài bàn cờ giải trí, ông ta chấp mình một mã nhưng mình vẫn đánh không lại!
Một hôm, cũng vào buổi chiều, chú Sáu đi vắng, mình ngồi đợi ông ta ở hiên nhà, gần bàn cờ tướng có để cuốn Pháp Bảo Đàn Kinh, tiện tay và vốn ham đọc sách, mình mở cuốn Pháp Bảo Đàn Kinh ra xem! Đọc chớp nhoáng một lượt hết cuốn sách, Chú Sáu lọc cọc trên chiếc xe đạp cũ về đến... Có lẽ ông ta bất ngờ khi thấy một người trẻ như mình mà “ghé mắt” đến cuốn sách đạo “gối đầu giường” của ông ta! Chú Sáu dựng chiếc xe bên gốc cây trước nhà rồi hỏi:
- Chú đọc rồi có hiểu gì không?
Được thể, mình “thao thao bất tuyệt” về nội dung cuốn sách, khiến ông ta đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác! Tất nhiên lúc đó mình “đánh võ mồm” từ các kiến thức vừa lượm được ở cuốn sách mới đọc! Nhưng, thứ võ mồm ấy cũng khiến Ông Sư già khâm phục sát đất! Sau một hồi gục gặc nghe mình rao giảng đạo lí, Chú Sáu buột miệng: “Chú muốn trở thành cao thủ cờ tướng hay không”?
Chỉ chờ có thế, mình gật đầu bảo rằng rất muốn! Thế là ông ta đi vào trong nhà lấy ra hai cuốn sách mỏng gói cẩn thận trong bọc nilon đưa cho mình và dặn:
- Tôi cho chú mượn hai cuốn sách này trong vòng ba ngày để nghiên cứu, sau ba ngày phải trả lại cho tôi, ngày xưa nhờ học hai cuốn này mà trở thành vô địch! Khi nào thành tài, hãy ra đây đánh cờ với tôi! Và ông ta căn dặn tiếp: Muốn thành tay cờ giỏi, nhất định chú không được đánh chơi mà phải đánh cờ độ! Thế là như bắt được vàng, mình mau mau kiếu từ ông Sư già, ôm hai cuốn sách về nhà xem thứ gì trong đó!
Về đến nhà mở ra, hai cuốn sách vừa mượn được đó là cuốn Quất Trung Bí và Mai Hoa Phổ! Tất nhiên chỉ trong vòng ba ngày, không thể lãnh hội hết tinh yếu hai cuốn kì thư, để giải quyết vấn nạn thời gian, mình cặm cụi viết lại nội dung hai cuốn sách đó trước khi đem trả đúng kì hạn!
Những ngày sau đó, mình lao vào nghiên cứu và đánh cờ độ! Có thể nói, cờ tướng mà đánh ăn chơi sẽ không bao giờ trở thành tay cờ giỏi! Và chỉ sau chưa đầy ba tháng miệt mài, từ bị Chú Sáu chấp một mã, mình đã có thể chơi cờ ngang ngửa với ông ta, thậm chí có khi còn lấn lướt nhờ sức trẻ!
Suốt thời gian này, mình lao vào việc chơi cờ độ, nghiên cứu cờ tướng và gia nhập làng cờ giang hồ! Một hôm, mua được một bộ ba cuốn sách có tên “Cờ tướng - Những vấn đề căn bản” của hai tác giả Nguyễn Tấn Thọ và Lê Uy Vệ phân tích về khai cuộc, trung cuộc và tàn cuộc một cách khoa học... Mình bỏ công tìm hiểu thật kĩ về bộ ba cuốn sách này! Thế là kỹ thuật chơi cờ của mình nâng lên một bậc!
Buổi sáng năm ấy, một người bạn mới quen đã từng vô địch cờ tướng một địa phương miền núi đến thăm! Hắn ta giới thiệu về ba cuốn sách nói trên, tưởng mình chưa đọc và đề nghị chiến đấu với mình! Dân cờ tướng gặp nhau, nhất định phải phân cao thấp! Thế là bàn cờ được bày ra! Đánh với nhau từ sáng đến chiều, mình “vét sạch túi” người bạn ấy! Có lẽ hắn không ngờ, những bí kíp mà hắn học được từ bộ ba cuốn sách nêu trên đã bị mình thuộc lòng như cháo, do đó hắn bị cái “vòng kim
cô” của mình chụp lên đầu mà không tự biết, dẫn đến thua, thua và thua!
Đêm về, nhớ lại khuôn mặt đau khổ vì bị vét sạch túi của đối thủ, mình gần như ám ảnh từ nỗi khổ đó! Thế là sáng ra, mình rủ hắn ta đi uống cà phê và trả lại tất cả tiền hắn đã thua mình hôm qua và tự nhủ với lòng “từ đây đến chết, quyết không đánh cờ độ cũng như không tham gia cờ bạc”! Và, như vậy là sự nghiệp cờ tướng của mình chấm dứt từ buổi sáng hôm ấy! Cũng từ đó, bản thân mình vĩnh viễn không bao giờ trở thành tay cờ giỏi như căn dặn của vị Sư già! Một may mắn rất lớn trong cuộc đời của mình.
Mình và Lão Trương hồi ấy gặp nhau thường đàm luận cờ tướng và rủ nhau đi xem các giải đấu! Trong thời gian này, làng cờ giang hồ rỉ tai nhau, danh thủ Lác Chảy sẽ về miền Tây đại chiến cùng hai cao thủ số một và số hai của xứ này! Vậy là mình và Lão Trương có dịp thưởng thức cuộc tranh tài vô tiền khoáng hậu sắp xảy ra!
Hai ngày liên tiếp, mình, Lão Trương và khoảng mười mấy người của làng cờ bí mật tập trung tại một quán cà phê, bánh mì là thức ăn chính, xem hai bên tỉ thí suốt hai ngày liền! Kì trận gồm Lác Chảy đánh cờ mù, chấp hai đầu gồm hai danh thủ số một và số hai của làng cờ ở đây đánh cờ sáng! Lác Chảy ngồi cách xa bàn cờ, nghe trọng tài xướng tên từng nước đi của mỗi bên, cứ như thế Lác Chảy điều quân của mình qua... tưởng... tượng! Một điều rất lạ, trong cờ tướng, đánh với một cái đầu đã khó, nay Lác Chảy chấp đến hai cái đầu của hai danh thủ mà vẫn thắng! Nhìn Lác Chảy vừa đánh cờ trong đầu, vừa tiếp huyện với bạn bè chung quanh mà không hề bị phân tâm hay rối loạn trận thế... mới thấy cái đầu của danh thủ này tuyệt vời đến thế nào!
Hôm nay, Lác Chảy, vị Sư già, Lão Trương không còn trên đời... Cuộc cờ ngày ấy sau nhiều chục năm cũng rơi vào quên lãng! Vô tình, hôm qua lang thang trên mạng xã hội, gặp lại những ván đấu ngày xưa của thiên tài cờ tướng Trần Quới (biệt danh Lác Chảy)! Một tài hoa của làng cờ nhưng đoản mạng! Bài viết, như một hồi ức từ thuở chưa dấn thân cho đạo pháp!
02/04/2022
LÝ TỨ
RRLM.43 - Giáo Pháp Nhập Môn
Giáo pháp nhập môn gồm những môn học căn bản, sau khi học xong chủ đề này, người học có thể giải quyết những vấn đề của tự thân nhằm dứt trừ lậu hoặc để thành tựu các đạo quả thuộc về nhóm đạo quả Vô lậu!

Các bạn!
Buổi sinh hoạt trực tuyến vừa rồi, là buổi sinh hoạt trực tuyến thứ 8 của năm Nhâm Dần! Mình được Ban quản trị phân công làm chủ toạ triển khai chủ đề “Giáo pháp nhập môn”!
Giáo pháp nhập môn là một trong ba chủ đề học tập, gồm: “Giáo pháp nhập môn”, Giáo Pháp Nâng Cao và Giáo Pháp Chuyên Sâu! Ba chủ đề này nằm trong lộ trình học tập của HĐ Lý Gia!
Giáo pháp nhập môn gồm những môn học căn bản, sau khi học xong chủ đề này, người học có thể giải quyết những vấn đề của tự thân nhằm dứt trừ lậu hoặc để thành tựu các đạo quả thuộc về nhóm đạo quả Vô lậu! Đạo quả Vô lậu là cảnh giới của người đã giải quyết dứt điểm hai cấp học Khổ đế và Tập đế thuộc thế gian đế trong Nhị đế! Nếu thắng căn, từ đạo quả này thể nhập Diệt đế một cách mau chóng, hoàn thành mục tiêu tự độ!
Nói là “Giáo pháp nhập môn”, nhưng chủ đề này lại là giáo trình học tập quan trọng bậc nhất của đạo pháp! Giống như người ta xây một toà nhà, toà nhà có xây lên những tầng cao được hay không, luôn tuỳ thuộc vào nền móng! Nếu nền móng không kiên cố, không đạt các chỉ số tối ưu, nhất định toà nhà ấy sẽ phát sinh rất nhiều nguy cơ trong quá trình thi công, hoặc hư hỏng mau chóng sau thời gian ngắn đưa vào sử dụng!
Giáo pháp nhập môn đối với các HĐ mới, có công năng giúp người học xử lí các vấn đề của tự thân, là nền móng giúp họ xây dựng các tầng cao giáo pháp sau này! Đối với các HĐ cũ, “Giáo pháp nhập môn” là những “đương cơ thú vị”, giúp các bạn ấy “thầm hội” hai học phần căn bản thuộc về “Nhất Thiết Trí Môn”, đó là “Tồi Tà Hiển Chánh Môn” và “Đoạn Mê Khai Giác Môn”!
- Tồi Tà Hiển Chánh Môn có nghĩa phá nát tà kiến rồi mới triển khai chánh pháp giúp người thành tựu chánh kiến! Điều này giống như người nông phu trước khi canh tác phải làm sạch mảnh ruộng rồi mới gieo hạt! Nếu mảnh ruộng chưa làm sạch mà đã vội vã gieo hạt, nhất định trong quá trình phát triển, cây trồng sẽ bị cỏ dại, sâu bệnh cùng các tác động không mong muốn xâm hại! Hoặc giống như vết thương hở, nếu chưa được vệ sinh mà đã thoa thuốc, nhất định vết thương đó sẽ nhiễm trùng!
- Đoạn Mê Khai Giác Môn là bước tiếp theo sau Tồi Tà Hiển Chánh Môn! Đây là quá trình giúp người học tự đoạn trừ các nguyên nhân phát sinh lậu hoặc được hình thành từ những nhận thức sai lầm mang tính “phi lí tác ý” (không như lí tác ý)! Các lậu hoặc này bắt nguồn từ hai đối tượng tiếp cận thuộc “hoặc giới nội” và “hoặc giới ngoại”! Nội giới và ngoại giới là thứ “thù trong giặc ngoài” đang âm thầm dẫn tâm thức hữu tình vào sâu mê lộ! Đoạn mê khai giác, giống như giúp một người đứng giữa ngã ba đường có thể tự nhận ra con đường nào dẫn đến mục tiêu cần đến, con đường nào nếu dấn thân sẽ xa rời mục tiêu cần tìm!
Buổi sinh hoạt vừa rồi, ngoài việc triển khai chủ đề chính, thời gian còn lại các HĐ tiếp tục tham gia nội dung “Thực hành đẳng ngữ môn”, cuối cùng là giải đáp thắc mắc! Một trong những thắc mắc nổi bật của buổi sinh hoạt vừa qua liên quan đến ý nghĩa bài Bát Nhã Tâm Kinh! Bát Nhã Tâm Kinh là một trong những “bài kinh ấn tâm” quan trọng của Phật đạo! Để giúp mọi người có thêm tư liệu tham khảo, xin giới thiệu đến các bạn bài CÂU CHUYỆN NGẮN NGỦN! Đây là bài viết mình đã viết hồi tháng 2 năm 2021 (cách đây vừa tròn một năm) cũng trong dịp triển khai giáo pháp đầu năm Tân Sửu cho các HĐ mới!
Chúc các bạn an vui, tinh tấn!
26/02/2022
LÝ TỨ
CÂU CHUYỆN NGẮN NGỦN
Chú tiểu đang tụng công phu khuya, đến Bát Nhã Tâm Kinh, chú ê a: “Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách...”
Phía sau có tiếng động lớn, chú tiểu quay đầu nhìn, ở đâu một cụ già cao lớn, phương phi, râu dài tới rốn, cây tích trượng cắm sâu xuống nền gạch, hai mắt lườm lườm nhìn bản kinh nhật tụng trên kệ...
Sau cơn thất thần, chú tiểu tự trấn tĩnh và hỏi:
- Chào cụ ạ! Cụ ở đâu giáng phàm!
Ông cụ gật gật cái đầu rồi hỏi:
- Ngươi đang tụng thứ gì vậy!
- Thưa con tụng Bát Nhã Tâm Kinh!
- Đâu! Ngươi tụng ta nghe thử coi!
Chú tiểu ê a! “Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách...”
Ông cụ khoát tay nói lớn!
- Được rồi! Được rồi! Ngươi có hiểu câu đó nói gì không?
- Dạ có ạ!
- Ngươi giải thích cho ta nghe coi!
- Thưa! Với trí tuệ siêu thắng, Bồ Tát Quán Tự Tại xem thấy ngũ (năm) uẩn đều không, nên thoát khỏi mọi khổ ách ạ!
- Ai dạy cho ngươi điều đó!
- Thưa! Thầy con dạy ạ!
- Ta hỏi ngươi! Ngũ (năm) uẩn đã không thì khổ ách ở đâu ra mà độ với trừ?
- Chú tiểu....?
- Thầy ngươi có dạy cho ngươi làm thế nào để “chiếu kiến ngũ uẩn giai không” hay không?
- Dạ! Thầy con dạy hoặc nghiền nát ngũ uẩn thành không, hoặc phân tích để thấy rằng ngũ uẩn chỉ do duyên hợp, còn duyên thì thành gọi là có, hết duyên thì tan gọi là không ạ!
- Ngươi có hiểu hai chữ “chiếu kiến” là gì không?
- Thưa! Chiếu kiến là soi thấy, là nhìn thấy, là chợt thấy, là trực nhận ạ!
- Nhìn thấy, hay nghiền nát, hay phân tích, hay chia chẻ để thấy? Ngươi nói đi...?
- Chú tiểu...?
- Ngươi đọc đoạn cuối bài kinh cho ta nghe coi!
- “Tam thế chư Phật, y Bát nhã Ba la mật đa cố, đắc A nậu đa la Tam miệu Tam bồ đề. Cố tri Bát nhã Ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư...”!
- Ngươi có biết chơn ngôn và thần chú khác nhau thế nào không?
- Dạ biết ạ!
- Biết thế nào?
- Chơn ngôn là ngôn âm phát ra từ trí tuệ chơn thiệt! Còn thần chú là ngôn âm phát ra từ tâm trí huyễn hoặc ạ!
- Vậy, Bát Nhã là trí tuệ phát ra từ tâm trí chơn thiệt hay tâm trí huyễn hoặc!
- Thưa! Trí tuệ được phát ra từ tâm trí chơn thiệt ạ!
- Nếu phát ra từ tâm trí chơn thiệt thì câu trên phải tụng thế nào mới đúng!
- Thưa! Phải là: “Tam thế chư Phật, y Bát nhã Ba la mật đa cố, đắc A nậu đa la Tam miệu Tam bồ đề. Cố tri Bát nhã Ba la mật đa, thị đại chơn ngôn, thị đại minh chơn ngôn, thị vô thượng chơn ngôn, thị vô đẳng đẳng chơn ngôn, năng trừ nhất thiết u tối, chân thật bất hư....”!
- Bây giờ, ngươi đã biết Bát Nhã trí và thế gian trí khác nhau ra sao chưa?
- Dạ biết! Dạ biết! Một bên dùng huệ nhãn để trực nhận... Một bên dùng nhục nhãn thông qua kiến thức và kinh nghiệm để suy lường ạ!
- Bây giờ người biết Tâm tông khác Giáo tông là như thế nào chưa?
- Dạ biết! Dạ biết! Tâm tông trực nhận! Giáo tông suy lường ạ!
- Cụ già cười lớn ha ha ha ha! Rồi nói!
- Khá lắm! Khá lắm! Bây giờ người biết phải tụng Bát Nhã như thế nào mới thật là Bát Nhã Tâm Kinh rồi chớ!
- Dạ biết! Con đã thấu suốt Bát Nhã là gì rồi ạ!
- Ngươi thấu suốt thế nào?
- Bát nhã là con mắt huệ, con mắt huệ ấy nhìn thấy sắc, thọ, tưởng... chẳng phải uẩn... Cho nên năm uẩn tự không chứ chẳng phải sắc, thọ, tưởng... trở thành không! Vì thế, khổ ách niết bàn chẳng hai, khổ ách tự niết bàn như chính bản chất của hai thứ ấy mà chẳng cần năng trừ! Từ đó, mọi ngôn âm do Bát Nhã phát ra đều là chơn ngôn, đều là chơn thiệt ngữ chứ chẳng phải thần chú ạ!
- Giỏi! Giỏi! Giỏi! See you again!
- Khoan! Khoan! Ngài là ai ạ!
- “A ha tiếng nhạn lưng trời...
Nan theo cơn gió ngàn... khơi... vọng... về”!
Ha ha ha ha!
20/02/2021
LÝ TỨ