RRLM.42 - Thực Tập Đẳng Ngữ Môn!
Đẳng Ngữ Môn là học trình trong tổ hợp gồm ba môn học đầu tiên của Đạo Trí Tuệ gồm Thấu Thị Môn, Thẩm Sát Môn và Đẳng Ngữ Môn tức là học nghe nhìn, học thẩm định và học tuyên thuyết như thật! Hay khác hơn, Đẳng Ngữ Môn là học tuyên thuyết chân lí như các Bồ Tát xưa!

Các bạn!
Như vậy là, sau thời gian nghỉ tết Nhâm Dần - 2022. Chúng ta đã khởi động trở lại sân chơi trực tuyến Lý Gia được 2 kì!
Và, theo kế hoạch của Ban quản trị thì, trong những tháng đầu năm, để giúp HĐ mới trang bị các kiến thức cơ bản hầu có thể bắt kịp nhịp độ học tập chung, cũng như giúp HĐ cũ ôn lại những gì đã học... Mình được Ban quản trị phân công triển khai đề tài “Giáo pháp nhập môn”! Đề tài “Giáo pháp nhập môn” là một trong những đề tài mang tính giáo khoa, gồm một bộ giáo trình học tập hoàn hảo của Lý Gia cụ thể là “Giáo pháp nhập môn”, Giáo Pháp Nâng Cao và Giáo Pháp Chuyên Sâu!
Nói là “Giáo pháp nhập môn”, nhưng thực chất đây lại là giáo pháp quan trọng bậc nhất trong toàn bộ giáo trình học tập Phật đạo! Phật đạo như một con đường dài, thật dài! Trên con đường đó, người lữ hành muốn du hành xuyên suốt phải lần lượt mở các lớp cửa chính, trong đó gồm rất nhiều cửa phụ! Cứ mỗi lớp cửa, người lữ hành được chào đón bằng một thế giới mới ta quen gọi là cảnh giới, mà ở đó gồm một nền văn hoá mới dành cho những công dân mới! Nền văn hoá của thế giới sau, luôn tốt đẹp và văn minh hơn nền văn hoá trước!
Phật đạo là con đường xuyên suốt và nhất quán! Người lữ hành mở được cánh cửa đầu tiên, cơ may mở những cánh cửa tiếp theo mới trở thành hiện thực! Điều này giống như một con thuyền, chỉ khi nào con thuyền được hạ thuỷ, đủ điều kiện thực hiện một chuyến hải hành rất dài, được chỉ huy bởi một vị thuyền trưởng tài ba cùng một thuỷ thủ đoàn giàu kinh nghiệm, được lai dắt đến một vị trí thuận lợi nhất... Từ đây, con thuyền ấy mới có thể vượt qua tất cả những mục tiêu cần vượt qua để đến bến bờ cuối cùng! Đây là lí do vì sao, “Giáo pháp nhập môn” lại quan trọng đến như vậy!
Để có thể dễ hiểu hơn, ta có thể hiểu quá trình học tập Phật pháp giống quá trình biến nguồn nước nhiễm ô thành cam lồ diệu dược! Muốn biến nước nhiễm ô thành cam lồ diệu dược, đầu tiên người ta phải tách nguồn nước ấy ra khỏi dòng chảy chung, sau đó lọc sạch tất cả tạp chất đã nhiễm ô, kế đến khử mọi mầm bệnh, đưa đến nơi cất giữ an toàn bảo đảm không thể nhiễm ô trở lại, cuối cùng mới pha chế vào đó những dược chất cần thiết bằng một công thức đặc biệt mới có thể biến thứ nước kia trở thành cam lồ diệu dược! Đây là lí do vì sao nói rằng “Giáo pháp nhập môn” nhưng khi triển khai, mình lại giới thiệu với các bạn một loạt các cánh cửa mà tất cả HĐ chúng ta phải mở trong suốt quá trình học tập như:
- Cánh cửa Vô Lậu gồm ba cánh cửa phụ là Dục Lậu, Hữu Lậu và Vô Minh Lậu thông qua cơ chế lậu hoặc của ba cõi gồm Dục Giới, Sắc Giới và Vô Sắc Giới để thanh lọc khổ, phiền não của ba cõi là Khổ Khổ, Hoại Khổ và Hành Khổ! Mở cánh cửa Lậu Hoặc giống như người ta tách nguồn nước đã nhiễm ô ra khỏi dòng chảy chung và thanh lọc tất cả tạp chất!
- Cánh cửa Giác Ngộ gồm hai cánh cửa phụ là Giác Ngộ bản chất thân tâm và Giác Ngộ bản chất thế giới! Có giác ngộ hai cánh cửa này, tất cả khổ, phiền não, kiết sử và lậu hoặc mới có thể đoạn trừ vĩnh viễn, xa lìa mọi mầm bệnh từ ba cõi! Giống như thứ nước sau khi ta đã làm sạch, lại phải dùng nhiệt để khử mọi mầm bệnh!
- Cánh cửa Giải Thoát gồm năm cánh cửa phụ, đó là: Cánh cửa cộng nghiệp, cánh cửa biệt nghiệp, cánh cửa các pháp, cánh cửa ngũ ấm và cánh cửa tam giới! Mở được năm cánh cửa này, chính là đem thứ nước mà ta đã thanh lọc trở thành tinh khiết đến một nơi tuyệt đối an toàn để cất giữ!
- Cánh cửa Trí Tuệ hàm chứa các pháp lành cùng vô lượng Tam Muội Môn và vô lượng Giải Thoát Môn của chư Phật! Muốn mở cánh cửa Trí Tuệ, ta phải mở ba lớp cửa phụ gồm tám cánh cửa của Đạo đế là Thấu Thị Môn, Thẩm Sát Môn, Đẳng Ngữ Môn, Đại Hạnh Môn, Đại Đạo Môn, Thật Nghĩa Môn, Đẳng Trì Môn, Chân Giác Môn và hai cánh cửa vô cùng siêu việt của chư Phật là Tam Muội và Giải Thoát Môn!
Tóm lại, học tập Phật pháp chính là quá trình học tập và thực hành mở vô số cánh cửa thuộc thế giới tâm thức mà người lữ hành phải chu du qua, ta quen gọi là “du hí thần thông” hay “du hí tam muội”!
Những năm trước, HĐ chúng ta đã học tập và thực hành một số chủ đề liên quan đến giáo trình học tập! Trong đó, chúng ta lần lượt thực hành mở hai cánh cửa quan trọng của Đạo Trí Tuệ là Thấu Thị Môn và Thẩm Sát Môn! Thấu Thị Môn là học cách nghe nhìn từ trí tuệ, Thẩm Sát Môn là học thẩm định và đánh giá thông qua trí tuệ! Trí tuệ trong Phật đạo bắt nguồn từ Huệ nhãn! Huệ nhãn chính là sự kế thừa siêu việt từ ba lớp nhãn quan của đạo pháp gồm Nhục nhãn, Thiên nhãn và Pháp nhãn! Huệ nhãn chính là thể, trí tuệ chính là dụng được phát ra từ nhãn quan ấy!
Hôm nay, lồng ghép trong học trình “Giáo pháp nhập môn” của HĐ mới, sau khi mình triển khai một đề tài nào đó, HĐ chúng ta bắt đầu thực tập kĩ năng Đẳng Ngữ Môn! Đẳng Ngữ Môn là học trình trong tổ hợp gồm ba môn học đầu tiên của Đạo Trí Tuệ gồm Thấu Thị Môn, Thẩm Sát Môn và Đẳng Ngữ Môn tức là học nghe nhìn, học thẩm định và học tuyên thuyết như thật! Hay khác hơn, Đẳng Ngữ Môn là học tuyên thuyết chân lí như các Bồ Tát xưa!
Nếu để ý kĩ, khi đọc hoặc nghe một bài thuyết giảng nào đó... Chúng ta dễ bắt gặp “những sự cố lẫn lộn” từ các bài giảng về Phật đạo như: Ta không biết rằng bài giảng kia đang nói về thế pháp hay thánh pháp, bài luận nọ đang đề cập đến tâm thức hay tâm linh, bài viết này dạy người đạo thế gian hay đạo xuất thế, buổi giảng nọ dạy người thiền đạo hay Phật đạo, bài học
này dạy về luân lí đạo đức ở đời hay thiện pháp của Phật, buổi giảng hôm ấy là buổi giảng về Phật đạo hay Lão đạo hoặc Khổng đạo, vị pháp sư đó đang nói về Bát Nhã hay thi phú thế gian, bài luận ta đang đọc luận giả bàn việc tu hành hay nói về giác ngộ v.v...và v.v... Nói chung, nếu không thông thuộc Đẳng Ngữ Môn, nhất định luận cứ hay tuyên thuyết của chúng ta trở thành nồi “lẩu thập cẩm”, ăn mà không biết nồi lẩu ấy của Ta, Tàu hay Tây, chua hay ngọt... Luận giải về giáo pháp của chư Phật mà đạo chẳng ra đạo đời chẳng ra đời, người nghe lẫn người nói “ù ù cạc cạc trong cơn tuỳ mộng” (lời của Thạch Liêm)! Điều mà chư Bồ Tát xưa tuyệt đối không bao giờ làm như thế!
Các bạn!
Một buổi sinh hoạt của chúng ta thông thường là 3 giờ! Trong ba giờ ấy, ta chia thành 3 phần:
Phần 1: mình triển khai Giáo Trình Học Tập!
Phần 2: các trưởng lão Thực hành đẳng ngữ môn!
Phần 3: tất cả HĐ đồng thảo luận, phản biện và chất vấn!
Theo mình, sự lồng ghép 3 trong 1 như những gì nêu trên trong một buổi sinh hoạt, chắc chắn việc học tập của HĐ chúng ta sẽ sinh động, sôi nổi, hào hứng và đạt hiệu quả cao! Hy vọng, mọi người tham gia đông đủ!
Chúc mọi người an vui, tinh tấn, thành ở đời, đạt ở đạo!
14/02/2022
LÝ TỨ
RRLM.41 - Tản Mạn Cuối Năm
Năm mới Nhâm Dần (2022)! Thay mặt toàn thể HĐ Lý Gia, kính chúc bạn đọc an vui, hạnh phúc, thành công trong cuộc sống!

Các bạn!
Như vậy là chỉ còn vài ba ngày nữa, chúng ta chính thức giã từ năm cũ Tân Sửu (2021) để chào đón năm mới Nhâm Dần (2022)!
Có thể nói, Tân Sửu là một năm đầy khó khăn, thách thức và kinh hoàng! Ăn tết chưa được mấy ngày, Covid 19 đã giáng cú đấm thứ tư đầy bất ngờ và mãnh liệt khiến toàn xã hội choáng váng... Trước cú đấm phủ đầu như trời giáng ấy, trong cơn choáng váng và bất ngờ, phản ứng tự nhiên của con người là tìm nơi trú ẩn an toàn để tự bảo vệ rồi mới tính đến phương cách phản công!
Thế là mệnh lệnh giãn cách xã hội nghiêm ngặt được quán triệt đến từng người, từng nhà và đất nước gần như tê liệt! Từ thành thị đến nông thôn... nhà nhà đóng cửa, đường phố không một bóng người... Trong thời khắc ảm đạm ấy, mình đã ghi lại mấy dòng thơ... Bài thơ đã được Hoàng Phương phổ nhạc:
CHIỀU COVID
Chiều hôm nay trên phố
Con phố mùa Cô Vi
Ồn ào rồi cô quạnh
Già nua giữa xuân thì!
Chiều hôm nay trên phố
Con phố dài đìu hiu
Rong rêu và lặng lẽ
Bóng đổ theo nắng chiều!
Chiều hôm nay trên phố
Ai đó bước độc hành
Thoáng nhanh như mộng ảo
Chạy trốn cuộc mong manh!
Chiều hôm nay trên phố
Hương xưa đã bay xa
Xa theo mùa đại dịch
Phố xưa lại nhạt nhoà!
(07/2021)
Nhưng rồi, sau cơn choáng váng ấy, mọi người lại bừng tỉnh để có thể nhìn ra sức mạnh cũng như điểm yếu của đối thủ là đâu, từ đó kẻ thù vô hình dần dần được nhận dạng rõ hơn rồi từng bước chế ngự! Những mũi vacxin đầu tiên, biện pháp phòng dịch 5K như những chiếc áo giáp được khoác lên người từng chiến binh... Hiệu quả của các phương pháp này đã làm giảm thiểu đến mức thấp nhất sức công phá của đại dịch! Và hôm nay, tuy đại dịch vẫn còn đâu đó, nhưng nó không còn tạo nên những cú đấm bất ngờ làm người ta choáng váng và cũng không còn là nỗi ám ảnh kinh hoàng như hồi mấy tháng trước! Thế là đất nước lại bắt đầu hồi sinh để đón chào năm mới!
Trong cái rủi có cái may! Những ngày tháng co ro nằm nhà tránh dịch, hãi sợ bao trùm, nhìn đâu cũng thấy virut... lại là lúc HĐ Lý Gia tận dụng thời khắc ấy để miệt mài đọc tụng tư duy giáo pháp ứng dụng triệt để vào đời sống nhằm hàng phục tâm thức!
Trong lúc mọi người ngán ngẩm, không biết làm gì khi mọi hoạt động ngưng trệ thì, những buổi sinh hoạt trực tuyến của Lý Gia vẫn đều đặn diễn ra! “Trong cái khó ló cái khôn”... Thay vì ngồi bó gối với tâm trạng chán nản, nhìn đời bằng cặp mắt tiêu cực, trao đổi nhau qua những tâm sự bất an v.v... HĐ Lý Gia lại tận dụng cơ hội này để hình thành các nhóm nhỏ giúp nhau học tập mang tính đội nhóm, người đi trước kèm cặp giúp đỡ người đi sau bằng tất cả yêu thương và trách nhiệm! Nhờ thế, trong cơn kinh hoàng của nhân loại, hầu như đây lại là lúc tất cả HĐ Lý Gia có những bước tiến rất dài trên hành trình chinh phục các cao điểm của giáo pháp! Và, cho đến hôm nay, chúng ta có thể vui mừng nói với nhau rằng, sau cơn địa chấn của đại dịch, tất cả HĐ Lý Gia gần như bình an vô sự!
Một thành công nữa không thể không nhắc đến, đó là công việc học tập của chúng ta đã cho ra những kết quả chắc thật! Các mục tiêu của giáo pháp đối với HĐ Lý Gia không phải là thứ gì xa xôi, không phải là thứ mà người ta bỏ mấy chục năm hoặc một đời miệt mài vẫn không dám nghĩ rằng bản thân có ngày với tới! Mà, đối với các HĐ Lý Gia nếu chịu khó học tập, chỉ trong vòng vài tuần, lâu hơn là vài tháng đã có thể tiếp cận những quả vị ngọt ngào đầu tiên của đạo pháp!
Điều này đã được minh chứng qua thực tế tu học, rất nhiều bậc cha mẹ, rất nhiều cặp vợ chồng, rất nhiều người anh em, rất nhiều lớp bằng hữu... đã nhận ra sau một thời gian ngắn trở thành HĐ Lý Gia, con em, quyến thuộc, bạn bè v.v... của mình đã lột xác để trở thành những con người mới, con người mà các món khổ não, sân si, tham lam, ích kỉ, nhỏ nhen, đố kị, thị phi, hơn thua, thù hận, chực chờ hại nhau, luôn giành phần lợi về mình v.v... không còn nữa! Mà thay vào đó, họ là những con người mang đủ sắc hương của an vui, thanh tịnh, vô lậu, giác ngộ, giải thoát, trí tuệ đang hiện diện trong cuộc đời này, đang chung sống ngay bên cạnh mình! Từ đó, không ít bậc cha mẹ, vợ chồng, người anh em, các bằng hữu ấy đã một lòng muốn trở thành HĐ Lý Gia, để rồi hiện tại họ trở thành huynh, đệ, tỉ, muội của nhau...
Có được những thành quả trên, là nhờ nhận rõ mục tiêu của giáo pháp là gì! Từ đó chúng ta có được một giáo trình học tập như pháp, khoa học, phù hợp thực tế, tinh gọn nhất có thể...
Quan trọng nhất là, chúng ta đã loại bỏ những bài học và việc làm vô ích, mất thời gian trong tu học... mà những điều ấy lại không liên hệ đến các mục tiêu của giáo pháp! Có thể nói, việc loại bỏ những bài học, những việc làm không liên hệ đến mục tiêu của giáo pháp đã giúp chúng ta học tập hiệu quả, rút ngắn thời gian học tập để có những thành tựu sớm nhất! Đây có thể coi là một trong những nét đặc thù của Lý Gia mà mình không hoặc chưa thấy một nơi nào có được trong hiện tại!
Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn các vị trưởng lão, các HĐ đi trước, các nhóm trưởng v.v... đã tận tâm tận lực, đã bằng tất cả thương yêu... ngày ngày không quản nhọc nhằn, đã nắm tay từng HĐ đi sau, dẫn dắt từng bước để mọi HĐ chúng ta có thể trước sau cùng nhau đi trên con đường đầy hoa thơm của giáo pháp bằng tinh thần Lý Gia, tinh thần hoa Bồ Công Anh: “Mang yêu thương và ước mơ đến những nơi xa nhất”!
Năm mới Nhâm Dần (2022)! Thay mặt toàn thể HĐ Lý Gia, kính chúc bạn đọc an vui, hạnh phúc, thành công trong cuộc sống!
28/01/2022 (26 tháng Chạp Tân Sửu)
LÝ TỨ
RRLM.40 - Khai Trương Năm Mới
Lý Gia coi Phật đạo là một nền giáo dục, một loại hình văn hoá, một nghệ thuật sống, một tri thức tốt đẹp của nhân loại... Nên Lý Gia đã linh hoạt trong việc giúp HĐ của mình tiếp cận giáo pháp một cách nhanh nhất thông qua nhiều hình thức...

Các bạn!
Như vậy là năm mới 2022 đã đi qua được 10 ngày! Và, trong mười ngày qua, đại gia đình Lý Gia sau khi đánh trống khai trương đón chào năm mới... cũng đã đón nhận thêm 10 thành viên mới của mình!
Nhìn chung, trong những năm gần đây, Lý Gia đã có xu hướng trẻ hoá đội ngũ...Trong 10 vị HĐ mới, người lớn nhất là 40 tuổi, người nhỏ nhất là 20 tuổi, gồm đủ thành phần trong xã hội... Thế là, cho đến lúc này, HĐ Lý Gia đã có những vị cao niên gần 100 tuổi và cũng có những thành viên còn đang trong độ tuổi cắp sách đến trường!
Với phương châm hoa Bồ công anh: “Mang yêu thương và ước mơ đến những nơi xa nhất”! Hiện nay, Lý Gia đã có mặt trên khắp mọi miền đất nước và nhiều nước trên thế giới!
Với tinh thần: “Thành ở đời, đạt ở đạo”, dù trong lao động hay học tập, tất cả HĐ Lý Gia đều nỗ lực hết mình, nhờ thế mọi người đều có những thay đổi đáng kể, giúp cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn!
Lý Gia coi Phật đạo là một nền giáo dục, một loại hình văn hoá, một nghệ thuật sống, một tri thức tốt đẹp của nhân loại...Nên Lý Gia đã linh hoạt trong việc giúp HĐ của mình tiếp cận giáo pháp một cách nhanh nhất thông qua nhiều hình thức... Từ đó, HĐ của Lý Gia có thể đưa tinh thần của Phật đạo đến gần gũi với hơi thở cuộc sống, biến cuộc đời vốn dĩ bất an, nhiều khổ đau trở thành an yên, thương yêu và biết sẻ chia!
Với phương pháp giáo dục khoa học, cơ sở lập luận vững chắc, có tính thuyết phục cao dựa vào nền tảng “đạo gắn liền với đời”... Tất cả HĐ Lý Gia như một đoàn tàu tiến về phía trước bằng cách người đi trước nâng đỡ dắt dìu người đi sau trong sinh hoạt, trong học tập hết sức tận tâm tận lực dưới hình thức đội nhóm hoặc đôi bạn cùng tiến bộ... đã biến mỗi thành viên Lý Gia trở thành những bậc thang vững chắc, giúp nhau chiếm lĩnh những mục tiêu cao hơn của đạo pháp một cách dễ dàng trong khoảng thời gian ngắn nhất có thể... Đây cũng là lí do vì sao hầu như HĐ Lý Gia kẻ trước người sau lần lượt đặt chân vào các tầng giác ngộ một cách đồng đều, không có bất kì một thành viên nào bị bỏ lại phía sau!
Sắp đến ngày Lý Gia chào đón sinh nhật lần thứ 14 của mình! Mong rằng, tất cả HĐ chúng ta tinh tấn và tinh tấn hơn nữa để đạt được những mục tiêu tốt đẹp của đạo pháp đề ra!
10/01/2022
LÝ TỨ
RRLM.39 - Tâm Tình Đầu Năm
Lý Tứ một đời coi tất cả HĐ Lý Gia là khúc ruột của mình, thậm chí hơn mười mấy năm qua, bản thân mình không có một chút thời gian chăm sóc gia đình, tất cả tâm huyết đều dành hết cho Lý Gia, cho các bạn!

Các bạn!
Khi tối, nói chuyện với một HĐ của chúng ta sau gần hai năm không liên lạc! Mở đầu cuộc nói chuyện, vị HĐ ấy khóc thật nhiều...
Sau khi nghe bạn ấy kể lể lí do vì sao gần hai năm trời không liên hệ với mình, cũng không tham gia sinh hoạt... cho dù trước đây có mấy lần mình liên lạc nhưng bạn ấy không phản hồi... Hồi xưa, mình và bạn ấy rất thân nhau, không muốn nói là cùng nhau “chia ngọt sẻ bùi”, cùng nhau làm việc, có những đêm cùng nhau “thức trắng” trước các biến động của Lý Gia, sức tinh tấn của bạn ấy là vượt trội!
Hoá ra, nguyên nhân để vị ấy không còn thân thiện, thậm chí đâm ra “tức giận mình” thật là bất ngờ! Nghe xong, mình chỉ biết nói một câu: “... ơi! Ước gì có em ở đây để tôi được ôm và gõ lên cái đầu ngu của em mấy cái cho hả giận! Ha ha ha ha!” Sau cuộc nói chuyện, hai thầy trò cùng cười và tâm tư bạn ấy có lẽ không còn trĩu nặng, đã có thể thoải mái trao đổi với nhau!
Sau câu chuyện vừa rồi, mình suy nghĩ rất nhiều về HĐ chúng ta và những câu chuyện tương tự có thể xảy ra trong hiện tại! Mình biết ở đời, trong bất kì một tập thể nào, cũng rất khó tránh được những hiểu lầm đáng tiếc như chuyện vừa kể! Ngay hiện tại này, cũng có một số HĐ của chúng ta đôi khi cũng mang tâm trạng như vậy!
Các bạn!
Lý Tứ một đời coi tất cả HĐ Lý Gia là khúc ruột của mình, thậm chí hơn mười mấy năm qua, bản thân mình không có một chút thời gian chăm sóc gia đình, tất cả tâm huyết đều dành hết cho Lý Gia, cho các bạn! Rất may, những người thân trong gia đình cũng đã hiểu ra tâm nguyện của mình, tất nhiên đôi khi cũng có vài trục trặc nhỏ, nhưng rồi mọi thứ lại êm đẹp!
Với HĐ chúng ta, mình chưa từng suy nghĩ không tốt về một bạn nào... Mình cũng biết rất rõ, hôm nay có bạn nào đó chưa hiểu mình, chưa đồng cảm với tâm nguyện của mình, chưa bằng lòng với cách hành xử của mình v.v... Nhưng, nhất định ngày sau họ sẽ hiểu ra và mọi “trách móc nếu có” cũng sẽ được giải toả... Có thể vì suy nghĩ ấy, mà rất ít khi mình phân trần hay giải thích với HĐ chúng ta về cách ứng xử với mọi người!
Mình cũng biết, trong một tập thể, cho dù đó là một “tập thể ảo” như Lý Gia, những lời khen tặng, động viên, khuyến khích v.v... để giúp nhau tinh tấn, vượt qua khó khăn và gắn bó là điều rất cần thiết! Thậm chí đây là chủ trương của mình và tất cả HĐ chúng ta... Và điều này đã được chúng ta thực hiện rất tốt! Tuy nhiên, phàm ở đời, chỉ khen tặng nhau mà thiếu những lời quở trách, những lời phê bình, một thái độ vừa đủ để giúp nhau tốt hơn trong công việc cũng như học tập... theo mình hành xử như thế cũng không phải là điều tốt lắm!
Vì rằng, chúng ta cứ khen tặng, ve vuốt để làm vừa lòng nhau v.v... mà thiếu phê bình nghiêm khắc, bằng cách này hay cách khác giúp nhau nhận ra một vài khuyết điểm nào đó để vị lai bản thân chúng ta tốt hơn, thành tựu cao hơn, giúp Lý Gia phát triển bền vững hơn... thì những lời quở trách, những phê bình ấy cũng cần đấy chứ! Vấn đề ở đây là, những lời như thế phát xuất từ tâm tư nào, từ động cơ nào, vì cái gì mới quan trọng các bạn ạ!
Giống như trong một gia đình, những đứa con nào càng ngoan, những đứa con nào làm được nhiều việc sẽ lại nhận được những chỉ trích, những phê bình, những quở trách nhiều hơn các đứa con khác!
Vì sao điều ấy lại xảy ra? Vì rằng, tương lai, sự nghiệp, thịnh suy của gia đình ấy nằm trong tay của những đứa con ngoan hiền, làm được việc v.v... chứ không phải ở trong tay những đứa con khác! Mà, muốn những đứa con ngoan hiền, làm được việc, có thể gánh vác trọng trách của gia đình ngày sau, nhất định không thể thiếu những phê bình, chỉ trích, quở trách... trong công việc, trong học tập! Có như thế, những thiếu sót mới được khắc phục, những đứa con ngoan hiền, làm được việc mới trở thành những người xứng đáng gánh vác trọng trách gia đình! Và điều ấy, đối với Lý Gia cũng không ngoại lệ!
Đêm nay mình suy nghĩ thật nhiều về câu chuyện vừa rồi, mình lại nghĩ đến một số HĐ được coi là thân cận, là những trụ cột của Lý Gia trong thời gian qua đã bị mình phê phán, nặng lời, thậm chí gay gắt khi nhận ra những khuyết điểm của các bạn ấy! Tất cả điều đó có xảy ra, cũng chỉ vì mong muốn các bạn làm tốt hơn, tất cả chỉ vì tiền đồ Lý Gia các bạn ạ!
Lý Tứ luôn ghi nhận, luôn trân trọng những cống hiến của các bạn! Mình luôn dành những lời khen tặng tốt đẹp cho các bạn trong tận cùng sâu thẳm của tâm hồn hơn là nói ra trước mọi người... để đôi khi, lời khen tặng lại trở thành khách sáo với mục đích lấy lòng, rỗng tuếch và tầm thường! Cái quan trọng là chúng ta có hiểu nhau, có một lòng thương yêu, có cùng vì lợi ích Lý Gia, có cùng vì giáo pháp hay không...? Nếu vì những điều ấy, mình mong rằng các bạn sẽ vượt qua những tâm tư cá nhân khi bị chỉ trích, thiếu một lời khen hay bị phê bình! Các bạn ơi! Những “tiểu tiết” ấy có đáng để chúng trở thành hòn đá cản đường chúng ta hay không?
Hy vọng sau những tâm tình đầu năm này, những chỉ trích, những quở trách nếu có xảy ra trong thời gian qua... Mong mọi người không còn hiểu lầm, nhận ra động cơ của việc làm ấy là gì! Có hiểu được động cơ của những việc như vậy, mới mong tất cả HĐ chúng ta hôm nay và vị lai không còn xảy ra những hiểu lầm đáng tiếc như câu chuyện mình vừa kể! Lý Tứ này một đời chỉ vì sự thăng tiến của các bạn mà hành xử, không hề có một ý nào khác các bạn ạ!
Các bạn!
Hãy vì giáo pháp!
Hãy vì Lý Gia!
Rất mong tất cả HĐ chúng ta cố gắng vượt lên những tâm tư cá nhân để chung tay xây dựng Lý Gia ngày một tốt đẹp hơn!
Năm mới 2022 chúc các bạn an vui, tinh tấn, thành ở đời đạt ở đạo!
06/01/2022
LÝ TỨ
RRLM.38 - Đầu Năm Nói Chuyện Mê
Dứt mê, thoát khỏi vô minh hay Giác ngộ, tuy nhiều tên gọi khác nhau, nhưng đồng chỉ chung một việc, đó là thoát khỏi ảnh hưởng làm mê muội, che mờ và cột trói tâm thức từ một sự vật, sự việc, nhận thức, quan niệm hay một đối tượng bất kỳ!

Các bạn!
Mấy hôm nay, chủ đề được HĐ chúng ta trao đổi thường xuyên, đó là: “Làm thế nào để biết (hay những dấu hiệu nhận biết) người tu hành (kể cả chúng ta) còn mê hay không”!
Phật đạo là Đạo Giác Ngộ! Giác Ngộ là “thấu suốt và nhận thức đúng bản chất của các pháp”... là tiêu chí đầu tiên, mà xuyên suốt đời người tu hành Phật đạo phải hướng đến! Đây là cơ sở quan trọng giúp người tu hành thành tựu các đạo quả từ thấp lên cao trong cuộc đời tu hành!
Dứt mê, thoát khỏi vô minh hay Giác ngộ, tuy nhiều tên gọi khác nhau, nhưng đồng chỉ chung một việc, đó là thoát khỏi ảnh hưởng làm mê muội, che mờ và cột trói tâm thức từ một sự vật, sự việc, nhận thức, quan niệm hay một đối tượng bất kỳ!
Chúng sanh (đạo), phàm (đạo), thánh (đạo), Bồ Tát (đạo), Phật (đạo), v.v... chỉ khác nhau ở trí tuệ! Có nghĩa tuỳ mức độ mê muội, tuỳ vào sự không che khuất, tuỳ vào sự sáng suốt, tuỳ vào tầng bậc Giác ngộ mà Phật đạo tạm phân chia thành các thứ đạo nói trên... Nói khác hơn, Phật đạo đích thực chính là con đường, là loại hình giáo dục, là ngọn đuốc lớn... đủ sức soi sáng, đưa chúng sanh từ vô minh tăm tối tiến dần về “chân lý tuyệt đối” bằng chính ánh sáng Giáo Pháp chiếu vào tâm thức này!
Trên con đường tiến về chân lý tuyệt đối, người tu hành phải từng bước ra khỏi mê muội, giống như một người từ trong bóng tối, bước đến vùng lờ mờ và bước hẳn vào vùng sáng... Vì thế, để đoạn hẳn vô minh tăm tối, Phật đạo tạm chia con đường tu tập thành ba giai đoạn sau:
- Thoát khỏi nhuận chi vô minh: Tức ra khỏi sự che đậy, lung lạc của thấy nghe khi năm căn thân xúc đối năm trần cảnh (tạm gọi là Giới)!
- Thoát khỏi căn bản vô minh: Tức ra khỏi sự mê mờ của nghĩ suy hay đề cao giá trị từ các quan niệm phi chân lý (pháp) của ý thức (tạm gọi là Định)!
- Thoát khỏi vô minh trụ địa: Tức siêu việt lên trên mọi nhận thức cột buộc tầm thường của cái ngã hư dối, để thấy rằng: Thiệt tướng (vô tướng) của vạn pháp chính là chân lý tuyệt đối mà người tu hành phải hướng đến (Tạm gọi là Tuệ)!
Để biết rằng, trong hiện tại một người tu hành hay bản thân chúng ta còn mê hay không, nhất thiết cần phải có một công cụ định lượng, một bàn cân chuẩn để đối chứng, một thước đo chính xác để đo lường tâm thức! Các công cụ nói trên, chính bản thân người tu hành chứ không ai khác. Lấy đây làm mực thước, làm phương tiện để đo lường mức độ thoát khỏi mê muội của chính mình...
Tâm và thức chính là hai đối tượng chủ yếu được người tu hành đem ra đo lường, thẩm định trong quá trình tu tập! Người xưa, đã đúc kết ứng dụng đặc biệt hiệu quả này qua câu nói hàm chứa đầy đủ tính triết lý, đó là: “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”! Có nghĩa, ba cõi mê xuất phát từ tâm này bị mê! Các quan niệm hư dối cột trói đời người chỉ vì nhận thức (thức) u tối!
Tóm lại, tâm và thức chính là hệ quy chiếu, cho phép người tu hành lấy đây làm thước đo nhằm thay đổi (tâm, thức) từ mê muội đến sáng suốt trong một chuẩn thời gian nhất định! Nó (tâm, thức) không phải là thứ trục toạ độ bất động đối với thời gian và không gian! Biến thiên của tâm thức từ mê muội đến sáng suốt, từ phi lý đến chân lý chính là linh hồn của hai chữ tinh tấn trong Phật đạo! Trong chừng mực nào đó, mê muội (hay mê) thường biểu hiện dưới hai hình thức... Đó là “mê thô trọng” và “mê vi tế”!
- Mê thô trọng: Mê thô trọng là khái niệm nhằm chỉ cho người (tu hành), tâm và thức bị che khuất, bị mê mờ, hay chấp chặt một điều gì đó (có thể là thiện, có thể là bất thiện, có thể là ác pháp), mà tự thân không thể thoát ra khỏi ảnh hưởng của nó... Bị nó ám ảnh khiến cho tâm trí mờ tối! Giống như người bị miếng vải đen che kín hai con mắt... Hệ quả của sự che mờ này là, thường hay sinh khởi phiền não, lo lắng, cố chấp, không chấp nhận thay đổi tự thân!
- Mê vi tế: Mê vi tế là khái niệm để chỉ người tu hành tuy không còn mê thô trọng, nhưng những chấp nhất hay cột trói vô hình nào đó vẫn còn lẩn khuất đâu đó trong sinh hoạt! Giống như người đã gỡ bỏ tấm vải đen bịt kín hai con mắt, nhưng lại đeo lên cặp kiếng màu và nhìn thấy tất cả dưới lăng kính ấy!
Biểu hiện của mê vi tế là, trong sinh hoạt, giao tiếp hay nói chuyện, bằng cách này hay cách khác người còn mê thường đưa sự mê làm tiền đề, lặp đi lặp lại sự việc hay đối tượng đã mê một cách vô thức hoặc có chủ ý! Hậu quả của nó là, tự đóng khung tâm thức dưới hình thức ngã chấp hay pháp chấp (Phật đạo gọi là ngã chấp, pháp chấp vi tế)!
Các bạn!
Hai thứ mê nói trên, là cản ngại đầu tiên trên bước đường tu tập! Vượt qua hai thứ mê này, là bước qua nấc thang thứ nhất để vị lai có thể bước qua những nấc thang kế tiếp trên con đường tìm về chân lý tuyệt đối!
Rất mong, tất cả HĐ chúng ta hãy làm “kiểm định viên”, tự kiểm định tâm thức của mình để biết rằng bản thân còn “mê hay không”!
Năm mới - 2022! Chúc bạn đọc và tất cả HĐ Lý Gia An vui - Tinh tấn - Thành ở đời - Đạt ở đạo!
03/01/2022
LÝ TỨ
RRLM.37 - Tịch Diệt Tham, Sân, Si
Mọi người đều biết, Đạo Phật là Đạo Giác Ngộ! Người tu hành khi chưa thật sự Giác Ngộ thì, nếu có quyết tâm đoạn dứt tham sân si, nếu có nỗ lực dùng mọi cách để dẹp bỏ ba của nợ này, nhất định tham sân si cũng không vì thế mà vĩnh viễn tịch diệt!

Các bạn!
Thời gian gần đây, lúc rảnh rỗi, tiếp xúc với một số người tu hành (ngoài HĐ chúng ta), khi hỏi thăm về hiệu quả tu tập, các vị ấy cho biết: “Mặc dù rất nỗ lực, rất tinh tấn. Thậm chí có nhiều vị bỏ công sức tu tập, hành trì (công phu) được cho là không nhỏ. Thế nhưng, ba kiết sử đầu trong mười kiết sử là Tham, Sân, Si giảm thiểu không đáng kể, nếu không muốn nói là không thể tịch diệt vĩnh viễn!”
Từ thực tế trên, khiến chúng ta không thể không suy nghĩ! Để giải quyết vấn nạn này, nhất định HĐ chúng ta phải đi tìm nguyên nhân cốt lõi của nó, có tìm ra nguyên nhân, mới hy vọng rốt ráo chữa khỏi ba thứ bịnh nêu trên...
Mình có một số câu hỏi, giúp tìm ra các giải pháp hữu hiệu trong tu tập, nhằm dứt trừ ba kiết sử quái ác này... Rất mong nhận được những kiến giải bổ ích từ các bạn.
Nội dung các câu hỏi như sau:
1) Xin các bạn cho biết, trong mười kiết sử: Tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến và tà kiến... Nhóm kiết sử nào thuộc về (lỗi) “Hành Vi”, nhóm kiết sử nào thuộc về (lỗi) “Nhận Thức”?
2) Giữa hai nhóm kiết sử “Hành Vi” và “Nhận Thức”... Người tu tập trong Phật đạo cần đoạn trừ (phần lớn) nhóm nào trước? Vì sao phải đoạn phần lớn nhóm này trước? Và làm thế nào để đoạn trừ? Xin cho ví dụ minh hoạ!
3) Theo bạn, người tu hành chọn “tham, sân, si” là ba mục tiêu cần tiêu diệt đầu tiên, việc làm này có hợp lý hay không? Vì sao?
4) Trong Phật đạo, quả vị đầu tiên là Tu Đà Hoàn các kiết sử nào được đoạn tận? Những kiết sử đã được một Tu Đà Hoàn đoạn tận, có liên hệ gì đến việc tịch diệt “tham, sân, si” sau này?
Gợi ý:
Các bạn!
Hầu hết các HĐ của chúng ta cơ bản trả lời đúng yêu cầu câu hỏi đặt ra... Điều này cho thấy rằng, HĐ chúng ta nắm rất vững giáo pháp, biết cách làm thế nào để có thể đoạn tận các kiết sử một cách nhanh nhất và dễ dàng nhất...
Các bạn đã cho thấy đâu là phương pháp tối ưu, chẳng cần dụng công, thậm chí không nhất thiết phải dụng công, mà hiệu quả lại như mong muốn, kết quả này đúng với tinh thần “Vô Công Dụng Đạo”! Đây chính là nét đặc trưng của Đạo Giác Ngộ, là hình ảnh minh hoạ rõ nét nhất của Đạo Trí Tuệ!
Trong đời, có hai loại lao động, đó là lao động trí óc và lao động chân tay! Lao động trí óc hay Thiền Tư, tức là lặng lẽ tư duy để thấu suốt một vấn đề nào đó của Đạo Pháp rồi ứng dụng vào đời sống, từ đó sẽ sản sinh một đời sống như pháp! Đây chính là cách tu tập, cách hành trì của Đạo Trí Tuệ!
Với cách này, chúng ta đã ứng dụng triệt để ba pháp văn, tư, tu mà Đạo Pháp đã đề ra (Văn: Tiếp nhận kiến thức... Tư: Tư duy thấu đáo kiến thức đó... Tu: Ứng dụng vào đời sống)! Cách làm này, hoàn toàn không giống những thứ công phu cưu mang trong nó sự lao nhọc, hay dụng công!
Giống như người ta có thể phá đổ san bằng một quả núi trong thời gian cực ngắn chỉ bằng một phát minh nhỏ từ trí tuệ, và điều này nếu được thực hiện bởi một người dùng sức mạnh cơ bắp với cái búa trên tay, sẽ vĩnh viễn chẳng làm xong trong một đời!
Những câu hỏi mình đặt ra cho các bạn đợt này, chính là phép thử, nhằm thẩm định các giá trị tối ưu của trí tuệ mà các bạn đã tiếp nhận bấy lâu nay! Bằng cách nào, các bạn có thể phá đổ vỡ ba ngọn núi lớn “tham, sân, si” trong một quãng thời gian cực ngắn thông qua sản phẩm trí tuệ?
Các câu trả lời, cho thấy các bạn đã làm rất tốt! Những giải pháp các bạn đưa ra, minh chứng con đường tu tập của chúng ta hoàn toàn ưu việt! Đây là sự đền đáp chân thật bởi một Giáo Pháp chân thật! Về hai nhóm kiết sử thuộc lỗi hành vi và lỗi nhận thức! Một số bạn cho rằng nhóm hành vi có ba hoặc bốn kiết sử, nhận thức có bảy hoặc sáu kiết sử... Một số bạn lại cho rằng, hành vi có năm kiết sử và nhận thức có năm kiết sử... Xét trên nhiều phương diện, theo mình thì, hai cách phân chia này đều đúng!
- Nếu đứng ở góc độ dùng sức Thiền Định để đoạn tận kiết sử thì ba kiết tham, sân, si hoặc bốn kiết tham, sân, si, mạn thuộc lỗi hành vi, các kiết sử còn lại thuộc lỗi nhận thức...
- Nhưng, nếu xét trên bình diện dùng sức Giác Ngộ để đoạn tận các kiết sử thì, nhóm độn sử là lỗi hành vi, nhóm lợi sử thuộc về lỗi nhận thức!
Ở đây, chúng ta chủ trương dùng sức Giác Ngộ để đoạn tận các kiết sử, nên chúng ta chọn hai nhóm độn sử và lợi sử làm ranh giới phân chia là phù hợp nhất! Cho dù phân chia như thế nào, vấn đề cốt lõi ở đây, vẫn là phương thức chọn mục tiêu và phương pháp tiêu diệt... Nắm vững hai điều này, nhất định 10 hay 100 hoặc 1.000 kiết sử... bây giờ không còn là điều quan trọng!
Nhìn chung, hầu như mọi người đều trả lời tốt, những phân tích và các giải pháp các bạn đưa ra được coi là “thấu tình đạt lý”, mang tính ứng dụng cao, khả năng giúp mình giúp người làm sạch các kiết sử là có thể!
Với người tu hành trong Phật đạo, tham sân si được ví như ba “của nợ tiền khiên”, nếu không giải quyết, sẽ là tấm bia để người đời nhìn vào đó chỉ trích! Một người bình thường, nếu tham sân si có khởi lên, trong con mắt quần chúng, điều này chẳng có gì nghiêm trọng! Thế nhưng, người tu hành lỡ dính vào một trong ba thứ này, sẽ là cơ hội để những người đời lấy đó làm cơ sở mỉa mai, chỉ trích...
Cái cớ sự này, theo mình, thiệt là “oan ông địa”! Người tu hành nào, chẳng canh cánh trong lòng việc dứt bỏ ba của nợ “tham sân si”, sở dĩ họ chưa thể dứt bỏ được, chẳng qua hiệu quả tu tập chưa cao, thời gian chưa đủ, “Giác Ngộ” chưa đến... Vì thế, không thể bắt người tu hành hễ tu là phải dứt sạch tham sân si!
Giống như hễ đi học là phải văn hay toán giỏi! Muốn văn hay toán giỏi cũng phải có thời gian, đâu nhất thiết đi học là phải giỏi liền! Ha ha ha ha! Tuy những chỉ trích, những mỉa mai trên thuộc về “nỗi oan ông địa”, nhưng nó lại thường xuyên xảy ra, chuyện này... mới... “lạ”. Có lẽ, do sức ép từ bên ngoài, do nôn nóng phải đoạn tận “ba của nợ tiền khiên” nói trên, dẫn đến việc người tu hành không đủ bình tâm tìm ra những giải pháp thoả đáng!
Mọi người đều biết, Đạo Phật là Đạo Giác Ngộ! Người tu hành khi chưa thật sự Giác Ngộ thì, nếu có quyết tâm đoạn dứt tham sân si, nếu có nỗ lực dùng mọi cách để dẹp bỏ ba của nợ này, nhất định tham sân si cũng không vì thế mà vĩnh viễn tịch diệt!
- Vì sao nó lại như vậy?
* Vì rằng “tham sân si” không thật có!
- Không thật có sao lại hiện hữu?
* Nó hiện hữu, vì bởi cái gốc sản sinh ra nó chưa được chuyển hoá!
Giống như các cành cây che khuất tầm nhìn, để không bị che khuất, người ta chặt bỏ những cành cây! Nhưng rồi, vài ba tháng sau, các cành cây khác lại mọc ra, nó mọc nhiều hơn lúc trước, mức độ che chướng đôi khi khốc liệt hơn!
Giải quyết vấn nạn che lấp này, đâu là giải pháp tối ưu đối với các cành cây... chết... tiệt... kia! Nếu chúng ta biết gốc rễ của tham sân si là gì? Nguyên nhân nào khiến nó hiện khởi? Nhất định một giải pháp hữu hiệu sẽ có ngay tức thì! Khi giải pháp đã có, việc thực hiện các giải pháp này để cho ra một kết quả như ý chỉ là... chuyện... nhỏ!
Các bạn!
Thời gian trước, mình có đề cập với các bạn “ba yếu tố đưa đến thành công” trong tu tập, đó là:
- Xây dựng thái độ tu hành!
- Nỗ lực tu hành!
- Phương pháp tu hành!
Không riêng gì chuyện tu hành, kể cả việc đời, nếu có được ba yếu tố này, thành công là chuyện phải đến!
Rất mong sau gợi ý vừa rồi... Sẽ nhận thêm nhiều câu trả lời lí thú và bổ ích từ các bạn!
27/12/2021
LÝ TỨ
RRLM.36 - Khéo Hỏi và Khéo Trả Lời
Phật dạy: “Có hai hạng người hiếm có trong đời, đó là hạng khéo hỏi và hạng khéo trả lời”! Thực tế điều này thường xảy ra trong tu tập, thấu suốt để trả lời thỏa đáng một câu hỏi trong Phật đạo đã khó, biết mình không biết điều gì để đặt thành câu hỏi trong quá trình học tập lại càng khó!

Các bạn!
Phật dạy: “Có hai hạng người hiếm có trong đời, đó là hạng khéo hỏi và hạng khéo trả lời”! Thực tế điều này thường xảy ra trong tu tập, thấu suốt để trả lời thỏa đáng một câu hỏi trong Phật đạo đã khó, biết mình không biết điều gì để đặt thành câu hỏi trong quá trình học tập lại càng khó!
Để trả lời thông suốt một số điều trong Phật đạo, là cả một quá trình tu tập, kèm theo đó là những nỗ lực tư duy, quán sát không mệt mỏi... Vì rằng, muốn trả lời thấu đáo những câu hỏi của Phật đạo, đòi hỏi người trả lời phải giác ngộ tương ưng với ý nghĩa của nó, giác ngộ chưa tương ưng, dù có suy lường đến bao nhiêu thì cũng không thể biết được...
Điều này cũng giống như muốn trả lời hình dáng một vật như thế nào, người đó phải tận mắt nhìn thấy hình dáng của vật đó.
Giác ngộ chính là tận mắt nhìn thấy “hình dáng của vật được hỏi” hiện lên trong tự tâm. Chỉ cần nhìn vào tâm, quán sát thật kỹ sẽ có ngay lời giải đáp thấu đáo. Một khi tâm còn bị che khuất bởi nhiều thứ, hoặc giác ngộ chưa tương ưng, thì rất khó tìm thấy một ý nghĩa để trả lời như pháp!
LUẬN VỀ CHÁNH TINH TẤN
Các bạn!
Hôm nay Chủ Nhật là ngày nghỉ, dự tính thứ Hai chúng ta mới tiếp tục công việc tu học! Nhưng rồi bốn câu kệ của Thế Tôn, lại văng vẳng vang lên trong lúc đang ngồi uống trà. Bốn câu kệ như “một mệnh lệnh” thôi thúc bản thân dẹp chuyện nghỉ ngơi để viết email này cho mọi người!
“Thị nhật dĩ quá
Mạng diệc tùy giảm
Như thiểu thủy ngư
Tư hữu hà lạc?
Đại chúng!
Đương cần tinh tấn
Như cứu đầu nhiên
Thân vật phóng dật!”
Tạm dịch:
Hiện tại sẽ qua mau
Quỹ thời gian còn mấy
Như cá gặp mùa hạn
Thế gian có gì hay?
Mọi người!
Phải cần cù tinh tấn
Như cứu lửa cháy đầu
Chớ vui theo thế gian
Phóng dật (ngày) sau sẽ khổ!
Mình lại suy nghĩ, việc tu tập cũng giống như chuyện học ở đời, nếu không siêng năng, không có định hướng đúng, không xây dựng thái độ tu hành nghiêm túc (Giống như đứa trẻ cắp sách đi học mà không đến lớp, chỉ quanh quẩn trong các phòng game, hoặc mải mê theo thú vui bên ngoài) tương lai, chắc chắn không thể thành tựu việc học tập!
Nhưng rồi mình lại suy nghĩ, hai chữ Tinh Tấn người tu hành nào cũng biết. Nhưng Tinh Tấn như thế nào, ý nghĩa ra làm sao để người tu hành bỏ công sức và gặt hái được kết quả như Phật đạo mong muốn (gọi là Chánh Tinh Tấn) lại là việc cần bàn!
Nếu chưa thấu suốt ý nghĩa đích thực của Chánh Tinh Tấn, chắc chắn công sức bỏ ra sẽ không thể có được một kết quả như ý, thậm chí ngược lại, điều này không phải là chuyện hiếm của người tu hành! Đây là lý do vì sao các câu hỏi được gởi đến các bạn. Nội dung các câu hỏi như sau:
1) Làm thế nào để biết chắc rằng, việc tu học trong hiện tại của bản thân đang đúng với ý nghĩa của Chánh Tinh Tấn trong Phật đạo? Có thể đưa ra một vài ví dụ của bản thân, để minh hoạ cho việc tu tập của bạn đúng với ý nghĩa của Chánh Tinh Tấn (minh hoạ này không bắt buộc)!
2) Xin nêu lên, có bao nhiêu mục tiêu cơ bản trong Phật đạo người tu hành cần phải biết rõ, để vị lai có thể chiếm lĩnh từng quả vị (tuần tự từ thấp lên cao) cho đến Đạo quả cao nhất?
Rất mong nhận được những kiến giải lý thú từ mọi người, những kiến giải lý thú của các bạn, sẽ giúp chúng ta hiểu rõ thế nào là Chánh Tinh Tấn, từ đó chúng ta mới vững tin tu hành, không sợ lạc vào Tà Tinh Tấn (có Tinh Tấn nhưng lệch hướng)!
20/12/2021
LÝ TỨ
P/s! Tài liệu tham khảo, bạn đọc không trả lời câu hỏi!
RRLM.35 - Tâm Sự với Huynh Đệ Mới!
Con đường giáo pháp các bạn đang đi đã được hướng dẫn cụ thể, những mục tiêu cần đến đã được xác định rành mạch, thành quả bước đầu trên hành trình của các bạn cho thấy con đường đang đi và mục tiêu sẽ đến của các bạn là đúng đắn!

Các bạn!
Mấy ngày gần đây, mình nhận được rất nhiều tâm sự của các HĐ mới với nội dung gần như giống nhau! Các vị HĐ ấy tâm sự như sau:
-“Thầy ơi! Khổ, phiền não, kiết sử của bản thân giảm thiểu rất nhiều từ khi trở thành HĐ Lý Gia! Tuy nhiên, thỉnh thoảng vẫn còn sinh tâm, sinh pháp, thậm chí lo âu! Tất nhiên những thứ ấy khi hiện lên, chúng con mau chóng phát hiện và quở trách... Có lúc chúng lặn mất sau khi phát hiện, nhưng cũng có lúc phải mất vài ba giờ chúng mới tịch diệt! Làm thế nào để vĩnh viễn các thứ ấy không còn hiện khởi...?”
Các bạn!
Chỉ trong thời gian ngắn, với quá trình tu tập một vài tháng từ ngày trở thành HĐ Lý Gia mà những thứ như khổ, phiền não, kiết sử, lậu hoặc đã tịch diệt phần lớn trong tâm thức của các bạn... Theo mình, đây là một trong những thành quả được coi là “hiếm có khó được” đối với người tu hành xưa nay! Những món như vậy, thật tình mà nói, trước giờ hầu như đa số người tu hành phải cất công cả một đời tu tập vẫn chưa thể giải quyết!
Về việc, các món ấy tuy có tịch diệt nhưng thỉnh thoảng tâm pháp hư vọng vẫn còn hiện khởi, và chúng lặn mất ngay hay sau vài ba tiếng đồng hồ mới tịch diệt chẳng có gì là ghê gớm và cần quan tâm đâu các bạn ạ!
Vì rằng, quá trình tu tập một vài tháng của các bạn chưa phải là thời gian rèn luyện đủ để tâm thức hoàn toàn tịch diệt các thứ hư vọng! Khổ, phiền não, kiết sử, lậu hoặc, lo âu, sinh tâm, sinh pháp v.v... là những thứ đã được các bạn huân tập bao nhiêu đời kiếp, nay những thứ ấy đã trở thành vết hằn trong tâm thức, trở thành nếp nghĩ suy khó bỏ! Nó giống như con đường mòn có từ lâu xa, giống như vết thương hằn sâu trong da thịt! Bây giờ các bạn đã giác ngộ, lối mòn cũ không còn sử dụng, vết thương đã bắt đầu lành... Nhưng không vì thế mà lối mòn không còn dấu tích tức thì, hoặc vết thương dù đã lành không có nghĩa vết sẹo trên da thịt liền ngay như những nơi không có thương tích! Mà tất cả còn phải đợi thời gian mọi thứ mới có thể trở về nguyên trạng!
Để minh hoạ cho việc tu tập hiện tại của các bạn, mình xin đưa ra một ví dụ! Nhân ví dụ, các bạn sẽ tự biết bản thân cần làm gì trong thời gian tới!
Giống như một người lữ hành, người ấy biết rõ con đường đi, các mục tiêu mình sắp đến và đã sắm sửa đầy đủ phương tiện!
Trên lộ trình người lữ hành đi qua, có những đoạn đường thuận lợi, nhưng cũng có những đoạn đường trắc trở cần phải giải quyết mới có thể tiếp tục hành trình! Vấn đề đặt ra ở đây là, người lữ hành sau khi giải quyết những trắc trở, người ấy có tiếp tục đi tới hay không? Nếu người ấy sau khi vượt qua các trở ngại, rồi nỗ lực đi tiếp thì, sớm muộn gì người ấy cũng sẽ đặt chân đến những nơi cần đến!
Điều quan trọng đối với người lữ hành, không phải chuyện buồn, vui, thuận lợi hay gian nan trên hành trình của mình mà, con đường người lữ hành đã chọn có đưa đến các mục tiêu cần đến hay không? Và người lữ hành có biết rõ các nơi mình cần đến? Nếu con đường đang đi là đúng, dấu hiệu các nơi cần đến giống như những gì đã được chỉ dẫn thì, một vài trở ngại nhỏ không phải là điều gì lớn lao cần quan tâm!
Các bạn!
Con đường giáo pháp các bạn đang đi đã được hướng dẫn cụ thể, những mục tiêu cần đến đã được xác định rành mạch, thành quả bước đầu trên hành trình của các bạn cho thấy con đường đang đi và mục tiêu sẽ đến của các bạn là đúng đắn! Giờ là lúc, như người đi xa, thỉnh thoảng ghé lại thăm thú vài thị trấn, uống vài li cà phê, nghe một buổi ca nhạc, mua thêm đôi giày mới, thậm chí viếng một đám tang v.v... rồi đi tiếp không phải là trở ngại đâu các bạn ạ! Thậm chí những thứ ấy sẽ giúp các bạn hiểu hơn về con đường mình đã đi qua, làm phong phú thêm vốn kiến thức để sau này các bạn giúp người đi sau thuận lợi hơn!
Việc học tập giáo pháp cũng giống như việc học tập văn hoá! Một đứa trẻ cho dù học hết một cấp học nào đó, không có nghĩa đứa trẻ đó giải quyết rốt ráo tất cả các bài toán trong cấp học của mình! Chỉ cần bạn ấy nỗ lực học lên các cấp học cao hơn, những bài toán khó trong cấp học hiện tại lúc ấy sẽ tự giải quyết một cách dễ dàng! Vì thế, những tập khí, những thói quen sinh tâm, sinh pháp của các bạn trong giai đoạn này không phải là thứ gì ghê gớm đâu các bạn ạ, thời gian sau các thứ ấy sẽ tự hết!
Chúc các bạn an vui, tinh tấn trên con đường các bạn đang đi, nhất định một vài tập khí sinh tâm, sinh pháp, lo âu v.v... sẽ như vài đám mây phiêu lãng, điểm xuyết để bầu trời trong xanh ngày thu thêm đẹp!
16/12/2021
LÝ TỨ
RRLM.34 - Vãng Sanh hay Vô Sanh
Có phân tích thấu đáo 16 pháp quán, chúng ta mới nhận ra mỗi một pháp quán đều ẩn chứa trong nó một giai đoạn nhất định của giáo pháp, đây là các giai đoạn bắt buộc người tu hành phải học tập, đúc kết và ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống để chuyển hoá tâm thức!

Các bạn!
Phần lớn người tu hành trong Phật đạo đều nghe câu chuyện A Xà Thế giết cha là vua Tần Bà Sa La để đoạt ngôi, giam cầm mẹ mình là hoàng hậu Vi Đề Hi nơi cung cấm!
Tần Bà Sa La, Vi Đề Hi, A Xà Thế đều là những người theo Phật đạo, và trong bi kịch gia đình đau buồn ấy, giáo pháp của đức Phật đã giúp vua Tần Bà Sa La chứng A Na Hàm quả, hoàng hậu Vi Đề Hi chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn, A Xà Thế sau khi can tội đại nghịch bất đạo giết cha cướp ngôi vua, giam mẹ nơi cung cấm... đã vô cùng ăn năn và tìm đến Phật, được Phật giáo huấn, cuối cùng A Xà Thế chứng được “Niềm tin vô căn”, không phải bị đọa vào ba đường dữ!
Trước thảm cảnh gia đình, với nỗi khổ cùng cực của một phụ nữ, chán ngán tâm địa ác độc của con người mà cụ thể là con ruột của mình, bà Vi Đề Hi chỉ muốn từ bỏ cõi đời ác thế ngũ trược để tìm đến một thế giới nào đó, mà nơi ấy không có những tâm địa ác độc, không còn những sự khổ của trần gian!
Biết được tâm nguyện của Bà Vi Đề Hi, để giúp bà và vua Tần Bà Sa La thoát khỏi các món khổ nhân sinh, đức Phật với sức thiện xảo của mình, đã hoá hiện ra các tịnh quốc độ! Nương theo sức hoá hiện và sự ham thích chán khổ tìm vui của bà Vi Đề Hi, Phật đã dạy cho bà con đường học tập giáo pháp thông qua 16 phép quán để chứng Niết Bàn hiện tiền bằng lộ trình tu tập sau:
- Bước đầu, để tạm giúp bà dừng khổ đau! Phật đã dạy bà ta phép “nhật quán”! Nhật quán là công cụ chuyển hoá từ “đa tâm” đến “nhất tâm” theo nguyên lí “nhất tâm dừng hiện nghiệp”!
- Sau khi hiện nghiệp đã dừng, khổ phiền não không còn chiếm hữu tâm trí! Thế Tôn lại tiếp tục chuyển cảnh giới tâm thức của bà bằng cách đưa tâm thức của bà vãng sanh vào thiên giới bằng các phép “thuỷ quán, địa quán và thọ quán”! Căn bản của ba phép quán này là một trong những hình thức “khai thiên nhãn”!
Nâng nhục nhãn lên thiên nhãn, là quá trình không thể thiếu đối với người tu hành, đây là bước đệm quan trọng làm thay đổi nhãn lực bằng cách thay đổi nhận thức! Từ bước khởi đầu này, hành giả nhận ra rằng “nghiệp quả thông qua thấy nghe của nghiệp thức đều không thật”... Kinh cũng dạy: “Đồng một sông Hằng, chư thiên thấy đó là lưu li, loài người thấy đó là nước, ngạ quỷ thấy đó là lửa...”! Ba cái thấy sai biệt từ sông Hằng là tiền đề quan trọng giúp tâm ý người tu hành rời xa chấp nhất, phiền não không sanh, lậu hoặc hết che mờ khi căn cảnh phối ngẫu, hoàn thành học pháp vô lậu! Thành tựu học pháp vô lậu là công cụ giúp chuyển hoá “hữu lậu tâm thành vô lậu tâm”, biến “hữu lậu nghiệp thành vô lậu nghiệp”! Tinh yếu của phép quán trên chính là bệ phóng tốt nhất, là sự khởi đầu hoàn hảo đưa tâm thức người tu hành chuẩn bị bay vào quỹ đạo xuất thế theo lời dạy: “Như Lai đặt yên người tu hành nơi cõi trời Sắc Cứu Cánh...”! Sắc cứu cánh thiên tương đương thiền thứ tư, bất khổ bất lạc thọ!
- Các phép quán tiếp theo là “Bảo trì, bảo lâu và tổng quán” được Thế Tôn triển khai cho bà Vi Đề Hi sau khi khai thiên nhãn từ các pháp quán trước! Đây là cách thức “khai pháp nhãn thanh tịnh”! Khai pháp nhãn tịnh, là một trong những biện pháp biến phước đức hữu lậu của đạo thế gian thành công đức vô lậu của đạo xuất thế! Công việc này, giống như người sắp định cư nước ngoài quy đổi nội tệ thành ngoại tệ! Có ngoại tệ mới có thể sinh sống ở quốc gia khác, có công đức mới có thể sinh tồn ở quốc độ xuất thế!
- Để có thể trở thành công dân thực thụ và sinh sống ở một quốc gia nào đó, điều đầu tiên người ta phải học văn hoá của quốc gia ấy! Hiểu rõ, học thuộc văn hoá bản địa nơi mình sắp đặt chân đến là điều kiện giúp ta dễ dàng hòa nhập với xã hội mới! Các phép quán “toà tưởng, hình tượng, thân tâm Phật, Quan âm, Đại thế chí, phổ tưởng quán và tạp tưởng quán”... là cách giúp tâm thức bà Vi Đề Hi tương ưng với đạo quả xuất thế thông qua văn hoá xuất thế!
- Và cuối cùng, lời khai thị tối hậu của Thế Tôn chính là đòn quyết định đưa ý niệm vãng sanh trở thành nhân tố chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn hiện tiền bằng lời dạy mang quyết định nghĩa: “Chư Phật Như Lai là thân pháp giới vào trong tất cả tâm tưởng của chúng sanh. Cho nên khi tâm các ngươi tưởng Phật, tâm ấy chính là ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp tùy hình. Tâm ấy làm Phật, tâm ấy là Phật. Biển Chánh Biến Tri của Phật từ nơi tâm tưởng mà sanh”! (Trích Thập Lục Quán Kinh)!
Đến đây, ta mới thấy các mục tiêu của Phật đạo là nhất quán! Mục tiêu cơ bản của Phật đạo mà bất kì người tu hành nào học tập giáo pháp của đạo này chính là chứng Niết Bàn (hai vô sanh) ngay hiện tiền, chứ không phải một kết quả vãng sanh về cõi nước nào đó ở vị lai sau khi thân hoại mạng chung! Và kết quả ấy phải được học tập thông qua cách này hay cách khác dưới sự hướng dẫn của một đạo sư chân chánh và thông tuệ!
Các điểm nhấn trong quá trình học tập của bà Vi Đề Hi giúp chúng ta nhận ra, dưới sức thiện xảo của một bậc đại giác, việc dùng ngữ ngôn trực tiếp giảng dạy, hay việc sử dụng hình ảnh quán tưởng nhưng trong đó lại “ẩn chứa” đầy đủ ý vị giáo pháp thông qua “Phật âm” một cách sâu kín, được coi là một “độc chiêu vô tiền khoáng hậu” của lịch sử giáo pháp, cách giáo hoá này chẳng khác trong nước lã nhưng lại ẩn chứa dược tính trị bịnh...
Cuối cùng, câu khai thị tối hậu chính là chiêu thức quyết định đẩy tâm thức vô lậu của bà Vi Đề Hi thành tâm thức xuất thế khi tâm thức ấy đã đến độ chín mùi! Đây chính là “yếu quyết tối vi mật” của đạo trí tuệ! Cũng chính điều này, một người bình thường cho dù có học và ứng dụng triệt để 16 pháp quán như những gì Phật dạy bà Vi Đề Hi nhưng thiếu chất liệu “Phật âm” mang rong nó thì cũng không thể thành tựu đạo quả xuất thế! Giống như người uống nước lã không được gia thêm dược tính chữa bệnh nhất định sẽ không hết bệnh từ thứ nước lã ấy!
- Các phép quán “thượng, trung, hạ phẩm” (14, 15, 16)... Chỉ là bài giảng cuối cùng giúp bà Vi Đề Hi nhận ra các tầng sâu của Niết bàn Diệt đế! Kinh Kim Cang Phật dạy: “Đồng là pháp (cảnh giới) vô vi, nhưng chư hiền thánh thấy có sai biệt...”! Chính sự sai biệt này mà: “Khi đức Thế Tôn nói lời ấy rồi, Vi Đề Hy phu nhơn cùng năm trăm thị nữ liền thấy tướng rộng dài của thế giới Cực Lạc, sắc thân của Phật A Di Đà và hai vị Bồ Tát. Tất cả đều sanh lòng vui mừng, khen là việc chưa từng có. Phu nhơn hoát nhiên đại ngộ, chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn. Năm trăm thị nữ phát tâm A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, nguyện sanh về Cực Lạc. Đức Thế Tôn thọ ký cho tất cả đều được vãng sanh và sau khi sanh về tịnh độ đều chứng Chư Phật Hiện Tiền tam muội. Vô lượng chư thiên phát tâm Vô Thượng Bồ Đề...”! (Trích Thập Lục Quán Kinh)
Vâng! Vô sanh hay vãng sanh mới là mục tiêu của Phật đạo? Và, muốn thành tựu đạo quả vô sanh, người tu hành nên học tập như thế nào? Chắc giờ này các bạn đã có thể tự trả lời cho mình hai câu hỏi vừa nêu!
Các bạn!
Để giúp bà Vi Đề Hi và Tần Bà Sa La thoát khỏi bi kịch gia đình! Thế Tôn của chúng ta đã đi những bước ngoạn mục như:
1- Sử dụng Xá Lợi Phất trong vai trò tiếp thị, giới thiệu đến người tiêu dùng mà cụ thể là bà Vi Đề Hi sản phẩm độc đáo, đó là Thế Giới Cực Lạc qua bài Kinh A Di Đà!
2- Trưng bày sản phẩm và người tiêu dùng lựa chọn: “Bấy giờ đức Thế Tôn đang ở núi Kỳ Xà Quật biết rõ tâm niệm bà Vi Đề Hy, liền bảo hai tôn giả Mục Kiền Liên, A Nan theo lời yêu thỉnh bay đến cấm thất. Và chính Ngài cũng ẩn thân tại núi Kỳ Xà Quật, hiện ra nơi vương cung. Khi bà Vi Đề Hy lễ xuống vừa ngước đầu lên, đã thấy đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn ngồi trên tòa sen bá bảo. Thân sắc tử kim rực rỡ bên tả có Mục Liên, bên hữu có A Nan đồng đứng hầu.
.........
Vi Đề Hy phu nhân thấy đức Thế Tôn, liền tự bứt chuỗi Anh Lạc đeo nơi thân, gieo mình phủ phục xuống đất, khóc lóc và thưa rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Kiếp trước con có tội chi nay sanh ra đứa con ác này. Và đức Như Lai lại có nhân duyên gì, mà cùng với Đề Bà Đạt Đa đồng làm quyến thuộc? Cúi xin đức Thế Tôn vì con giảng giải rộng những cõi nào không còn lo buồn khổ lụy để con được vãng sanh về đó.
Hiện nay con rất nhàm chán cõi Diêm Phù Đề nhơ khổ. Bởi cõi này dẫy đầy chúng địa ngục, ngạ quỷ, bàng sanh, cùng nhiều điều lỗi lầm xấu ác. Con nguyện kiếp sau không còn thấy người dữ, không còn nghe tiếng ác nữa! Nay con gieo năm vóc trước đức Thế Tôn, tha thiết cầu xin sám hối! Nguyện đấng Đại Từ soi ánh huệ nhật, chỉ dạy cho con phép quán để sanh về chỗ nghiệp lành thanh tịnh.“
Lúc bấy giờ đức Thế Tôn, từ nơi tướng bạch hào giữa đôi mi, phóng ra ánh sáng vàng rực rỡ soi khắp vô lượng thế giới ở mười phương. Hào quang ấy trở lại trụ trên đảnh của Phật, hóa thành đài vàng như núi Tu Di. Những cõi nước trong sạch nhiệm mầu của chư Phật mười phương đều hiện rõ nơi tòa quang minh đó. Trong vô số quốc độ ảnh hiện ấy, có cõi do bảy báu hợp thành, có cõi thuần là hoa sen. Có cõi tráng lệ như cung trời Đại Tự Tại, có cõi sáng suốt như gương pha lê.
Vô lượng Tịnh Độ hiện bóng nơi đài quang minh, mỗi miền một vẻ rất rõ ràng, cực nghiêm đẹp. Sau khi dùng thần thông hiển thị các cõi trang nghiêm xong. Đức Thế Tôn bảo bà Vi Đề Hy nên tùy ý mình lựa quốc độ nào mà tâm mình ưa thích...
Bà Vi Đề Hy phu nhơn quan sát kỹ các Phật quốc rồi thưa rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Các Tịnh Độ ấy tuy đều nghiêm sạch và có ánh quang minh. Nhưng nay con chỉ thích được sanh về thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà. Cúi xin đức Thế Tôn dạy con phép tư duy và chánh thọ”.
Khi ấy đức Thế Tôn liền mỉm cười, từ nơi miệng tuôn ra năm sắc quang minh, mỗi tia sáng đều chiếu đến đỉnh đầu vua Tần Bà Sa La. Lúc đó vua Tần Bà Sa La tuy bị giam cầm song tâm nhãn không chướng ngại. Từ nơi xa trông thấy đức Thế Tôn liền cúi đầu đảnh lễ, đạo căn tự nhiên tăng tiến, chứng được quả A Na Hàm....”! (Trích Thập Lục Quán Kinh)
3- Chuyển giao sản phẩm và hướng dẫn cách sử dụng:
“Phật bảo Vi Đề Hy: “Ngươi là phàm phu, tâm tưởng yếu kém, chưa được thiên nhãn, không thể ở xa mà trông thấy cõi Cực Lạc. Chư Phật Như Lai có phương tiện lạ khiến cho ngươi được thấy cõi kia”.
Vi Đề Hy thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Hôm nay con nhờ sức Phật được thấy quốc độ kia. Nếu sau khi Thế Tôn tịch diệt, những chúng sanh trược ác không lành, bị ngũ khổ bức não. Phải làm thế nào để được thấy Phật A Di Đà và cõi Cực Lạc?”
Đức Phật bảo: “Vi Đề Hy! Ngươi và chúng sanh nên chuyên tâm, buộc niệm một chỗ, để tưởng cảnh giới Tây phương. Phương pháp quán tưởng ấy như thế nào? Phàm tất cả những người, nếu không phải bị mù từ lúc sơ sanh, đều thấy mặt trời lặn. Vậy ngươi nên ngồi ngay thẳng, hướng về phương Tây, tâm chú định một chỗ không được di động. Rồi quán tưởng mặt trời sắp lặn hình như cái trống treo. Khi đã thấy hình tướng ấy, phải chú tưởng cho thuần thục. Làm sao lúc nhắm mắt, mở mắt đều được thấy rõ ràng. Môn Nhật Quán này là phương pháp quán tưởng thứ nhứt.
Kế lại quán tưởng nước, thấy một vùng nước trong suốt đứng lặng. Phải thấy cho rõ ràng, ý đừng phân chia rối loạn. Khi thấy tướng ấy rồi nên tưởng nước đóng thành băng. Đã thấy băng trong ngần sáng ánh, lại tưởng đó là đất lưu ly. Đây là môn thủy tưởng, cũng là phép quán thứ hai....”! (Trích Thập Lục Quán Kinh)
4- Kết quả: “Khi đức Thế Tôn nói lời ấy rồi, Vi Đề Hy phu nhơn cùng năm trăm thị nữ liền thấy tướng rộng dài của thế giới Cực Lạc, sắc thân của Phật A Di Đà và hai vị Bồ Tát. Tất cả đều sanh lòng vui mừng, khen là việc chưa từng có. Phu nhơn hoát nhiên đại ngộ, chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn. Năm trăm thị nữ phát tâm A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, nguyện sanh về Cực Lạc. Đức Thế Tôn thọ ký cho tất cả đều được vãng sanh và sau khi sanh về tịnh độ đều chứng Chư Phật Hiện Tiền tam muội. Vô lượng chư thiên phát tâm Vô Thượng Bồ Đề...”! (Trích Thập Lục Quán Kinh)!
Điều ngoạn mục của các bài kinh này ta có thể thấy là: Hứa vãng sanh ở vị lai, nhưng lại chứng vô sanh ngay hiện tại! Đây mới đích thực là mục tiêu chân chánh của Phật đạo!
Các bạn!
Có phân tích thấu đáo 16 pháp quán, chúng ta mới nhận ra mỗi một pháp quán đều ẩn chứa trong nó một giai đoạn nhất định của giáo pháp, đây là các giai đoạn bắt buộc người tu hành phải học tập, đúc kết và ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống để chuyển hoá tâm thức!
Và suốt 16 phép quán không thiếu bóng dáng của giáo trình từ hết khổ, dứt tập và chứng diệt! Xét đến đây, chúng ta mới thấy sức hoá hiện thiện xảo ẩn chứa trong bài kinh là như thế nào!
Cho đến hiện tại, tính xác thực cùng xuất xứ của các cuốn kinh như A Di Đà, Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ v.v... còn nhiều nghi vấn!
Tuy nhiên, nếu xét tính tích cực về nội dung của các bản kinh này một cách như pháp (như lí tác ý), ta thấy trong đó ẩn chưa một quy trình giáo hoá ngoạn mục, không muốn nói là độc đáo theo hướng tiếp cận phi truyền thống nhưng lại đạt được các mục tiêu của giáo pháp một cách chắc thật!
Tất nhiên, điều này chỉ có thể xảy ra khi chúng ta trực nhận chiều sâu của giáo pháp được ẩn chứa dưới lớp vỏ ngữ ngôn thông qua hình ảnh từ các phép quán, cũng như logic giáo hoá của cách này so với mục tiêu của Phật đạo là hợp lí hay không!
Nhưng, cũng chính tính chân thực, xuất xứ và một số ngữ ngôn có thể đã bị thêm bớt hoặc thay đổi theo kiến giải chủ quan của người biên tập đời sau trong các bài kinh gây hiểu nhầm, hiểu sai... dẫn đến việc phát sinh một vài cách tu tập và mục tiêu không chính thống, nhưng được cho là của Phật đạo, điều này gây ra sự phản bác, đồng thời không được một số người chấp nhận! Vì thế vô hình trung, mọi giá trị tích cực từ các bài kinh nói trên bị phủ nhận theo cách đánh đồng chỉ vì một vài đáp án sai lầm do vô tình hay cố ý hoặc không nhận ra tinh tuý trong ấy!
Để làm rõ những gì liên quan đến đề tài này, phạm vi một bài viết chưa thể nêu hết quan điểm của mình! Bài viết như một tư liệu tham khảo trước, buổi sinh hoạt trực tuyến kì này chúng ta sẽ trao đổi sâu hơn những khúc mắc, những ẩn mật, những điều vô lí (nếu có) trong các tư liệu nêu trên!
Để buổi sinh hoạt đạt kết quả tốt, các bạn có thể tìm hiểu trước các bài kinh A Di Đà và Thập Lục Quán!
10/12/2021
LÝ TỨ
RRLM.33 - Pháp Môn và Phép Tu
Hai khái niệm cơ bản của Phật đạo là phép tu và pháp môn có hai công dụng khác nhau! Nếu người dạy và học nhầm lẫn, ứng dụng sai, không thấu suốt đặc tính của hai khái niệm này... Như người thầy cùng bệnh nhân hiểu sai thuốc giảm đau và thuốc điều trị, thử hỏi điều gì sẽ xảy ra?

Các bạn!
Khi người tu hành gặp nhau, có những câu nói vừa mang tính xã giao, vừa mang tính giới thiệu, vừa mang tính thăm dò, vừa mang tính tìm hiểu (đối tượng tiếp xúc) ta thường bắt gặp như:
- “Anh (chị) tu theo pháp môn gì”?
- “Thầy A dạy pháp môn C (hoặc D) hay lắm”!
- “Pháp môn E mới là pháp môn tối thượng!
- “Pháp X chỉ dành cho bậc đại căn”!
- “Xin thầy dạy cho con một pháp để con tu ạ”!
- “Con thấy mình hợp với pháp H, I...”!
- “... Vân vân... và...vân vân...”
Và, phần lớn người tu hành đã dành trọn cuộc đời để gắn bó với một vài phép tu nào đó một cách miên mật (lầm tưởng pháp môn) với hy vọng đạt thành điều gì đó ở vị lai, thậm chí hi vọng rằng sau khi từ bỏ cõi đời ô trọc này sẽ sanh về một thế giới tốt đẹp nào đó!
Ngoài những câu nói trên, hầu như tất cả người tu hành đều thuộc nằm lòng bốn lời thệ nguyện cao cả của Phật đạo:
1- Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ!
2- Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn!
3- Pháp môn vô lượng thệ nguyện học!
4- Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành!
Có xét hai vấn đề trên (câu nói của người tu hành và bốn hoằng thệ nguyện), ta mới thấy rằng, giữa khẩu hiệu được Phật đạo đề ra, và sự tu học của người tu hành có sự chênh nhau rất lớn về mục tiêu và nội dung giáo dục! Điều này có nghĩa rằng, Phật đạo chủ trương người học phải học vô lượng pháp môn! Nhưng, thực tế thì ngược lại, người dạy chỉ dạy một (hoặc vài ba) phép tu! Thế là, người học cũng không thể học hơn những gì người thầy đã biết và dạy cho họ!
I - Bản chất và mục tiêu!
Vì sao có sự chênh nhau này? Muốn trả lời câu hỏi trên, đầu tiên ta phải tìm xem bản chất và mục tiêu của Phật đạo là gì? Có hiểu được bản chất và mục tiêu của Phật đạo, người học mới có cơ may biết được điều ta đã được dạy và những gì ta đã được học có đúng với bản chất và đạt được các mục tiêu của Phật đạo đề ra hay không? Nếu chưa giải quyết thỏa đáng hai vấn đề nêu trên, nhất định việc dạy và học cần phải coi lại!
II- Sự khác nhau về pháp môn và phép tu!
Phật đạo có hai khái niệm quan trọng đó là pháp môn và phép tu! Hai khái niệm này giữ hai nhiệm vụ khác nhau, phần lớn người tu hành nhầm lẫn, chính sự nhầm lẫn đó đã khiến người tu hành ứng dụng sai, vì thế không thể thành tựu những điều cần thành tựu trong quá trình tu học!
II. 1- Phép tu là gì?
Phép tu là các phép ứng dụng nhất thời, có tính đối trị, là biện pháp tình thế, được chỉ định trong một vài trường hợp đặc biệt, giúp người tu hành (đặc biệt, cá biệt) vượt qua một vài khó khăn nào đó, trong một hoàn cảnh đặc biệt nào đó, bằng một sở pháp nào đó! Sau khi người tu hành đã vượt qua khó khăn, phép tu không còn giá trị!
Ta có thể thấy các phép tu tiêu biểu như niệm Phật, quán sổ tức, trì chú, quán bạch cốt, quán ánh sáng, quán từ bi v.v... (hay các phép đình tâm khác) có công dụng như những chỉ định bắt buộc mang tính tình thế, nhằm giúp người tu hành vượt qua một vài khó khăn nhất thời đối với những ai có biểu hiện chướng đạo thô trọng, cần dập tắt như: Nhiều tham dục, loạn tâm, sân hận, ngủ gục v.v... Các ứng dụng này chỉ là phép ứng phó tạm thời, có công năng giúp vượt qua khó khăn trước mắt của tự thân, không có giá trị tu chứng các đạo quả thuộc về vô lậu hay xuất thế! Những người tâm ý bình thường, không cần thiết phải sử dụng các phép tu nêu trên!
II. 2- Pháp môn là gì?
Pháp môn là những lời kinh, câu pháp, lời dạy, lời khai thị v.v... nhằm khai mở (cánh cửa) tâm trí người tu hành!
Phật đạo có vô lượng lời dạy, vô lượng câu pháp, vô lượng lời kinh, vô lượng lời khai thị v.v... giúp người tu hành khi nghe, khi hiểu, khi nhận... đúng thời, đúng căn, đúng cơ... Tuỳ giai đoạn tu tập, tâm trí sẽ được khai mở bằng chính lời pháp đó, sau khi tâm trí được khai mở, người tu hành thành tựu cảnh giới trước mắt cần đạt đến theo yêu cầu của giáo pháp!
Trong suốt quá trình tu học từ sơ cơ đến đạo quả tối hậu, người tu hành được học tập liên tục và xuyên suốt! Cứ mỗi giai đoạn học tập, mỗi một mục tiêu trước mắt cần đạt đến lại có những lời kinh, câu pháp người tu hành phải được nghe, được giảng giải rồi ứng dụng để tâm trí tương ưng với giai đoạn và mục tiêu mới! Chỉ khi nào đạt đến mục tiêu cuối cùng, các lời kinh, lời pháp... nói nôm na là pháp môn mới chấm dứt!
Ta có thể hiểu, tiến trình tu hành từ sơ cơ đến quả chứng sau cùng của Phật đạo đối với người tu hành, giống như người đi tìm kho báu phải vượt qua vô số cánh cửa (môn) được khóa bằng những ổ khóa kiên cố! Mỗi lời kinh, lời pháp, lời khai thị (pháp) v.v... chính là những chiếc chìa khoá lần lượt mở các ổ khoá sai khác, kiên cố đó!
Vấn đề được đặt ra là, có vô vàn ổ khoá sai khác, kiên cố đang khóa chặt tâm trí một hữu tình! Phật đạo lại có vô số lời kinh, lời pháp, lời khai thị... như những chiếc chìa khoá khác nhau giúp người tu hành có thể mở toàn bộ các ổ khoá! Làm thế nào để ta có thể tìm đúng từng chiếc chìa khoá cho từng ổ khoá? Đây là câu hỏi không dễ trả lời! Giống như trong một nhà kho chứa vô số các loại thuốc khác nhau, dùng để chữa vô số bệnh khác nhau! Làm thế nào để tìm đúng thuốc cho mỗi căn bệnh? Nếu tìm sai chìa và ổ khoá, tìm không đúng thuốc... điều gì sẽ xảy ra!
Có xét đến đây ta mới hiểu vì sao Phật đạo lại có tứ hoằng thệ nguyện: “Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ! Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn! Pháp môn vô lượng thệ nguyện học! Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành”! Nếu chỉ có một vài pháp môn, một vài phép tu, vài câu nói vô nghĩa... như người đời đã dạy, người đời đã học, người đời đã hiểu, người đời đã nói, người đời đã hành trì v.v... phỏng có thể giải quyết tận gốc bốn lời thệ nguyện chứa đựng đầy đủ bản chất và mục tiêu của
Phật đạo hay không?
III- Kết luận
Trên đời, không có một thứ thuốc nào chữa lành mọi căn bệnh, không có một phương tiện nào giúp ta hoàn thành mọi cung đường, không có một thứ chìa khoá nào có thể mở tất cả mọi ổ khóa trần gian, không có một công thức nào có thể giải tất cả các bài toán cuộc đời!
- Phép tu là hữu hạn, thuộc về thế gian pháp! Như những viên thuốc giảm đau chỉ giúp người đau xoa dịu cơn đau trong nhất thời, không có công dụng chữa lành bệnh!
- Pháp môn là vô hạn, thuộc về vô lậu, xuất thế! Như những chiếc chìa khóa mở cánh cửa vô lậu, xuất thế... giúp người tu hành đoạn dứt ba lớp ngăn che tâm trí gồm ngu, mê và lầm lẫn!
Hai khái niệm cơ bản của Phật đạo là phép tu và pháp môn có hai công dụng khác nhau! Nếu người dạy và học nhầm lẫn, ứng dụng sai, không thấu suốt đặc tính của hai khái niệm này... Như người thầy cùng bệnh nhân hiểu sai thuốc giảm đau và thuốc điều trị, thử hỏi điều gì sẽ xảy ra?
Có bao giờ các bạn ngồi xuống, tự thẩm định, đánh giá trung thực việc tu học và tự hỏi bản thân những điều sau:
- “Ta đã tìm hiểu bản chất và mục tiêu đích thực của Phật đạo là gì hay chưa”?
- “Vì sao ta hết sức tinh tấn, công phu miên mật, nỗ lực học tập... mà thành công không như ý”?
- “Trong quá trình dấn thân, ta đã đạt được mục tiêu nào của Phật đạo hay không”?
Các bạn!
Không ai có thể trả lời các câu hỏi nêu trên một cách thỏa đáng cho các bạn hơn là chính các bạn! Hãy tự đặt câu hỏi, hãy tự trả lời cho bản thân, nhất định các bạn sẽ biết con đường ta đang đi là gì, biết được ta cần làm gì cho hiện tại và vị lai!
Chúc mọi người an vui, tinh tấn!
02/12/2021
LÝ TỨ