Kinh

Lời Giới Thiệu Sách Kết Tập - Mười Một Bài Kinh Phật (Lý Tứ Chú Giải)

Quản trị viên 11.03.2022

Lời Giới Thiệu Sách Kết Tập - Mười Một Bài Kinh Phật

Các bạn! [[1]]

Bất kỳ người tu hành nào trong Phật đạo, cũng bắt đầu bằng việc Quy Y Tam Bảo... Quy Y Tam Bảo gồm ba điều đó là, Quy Y Phật Bảo, Quy Y Pháp Bảo và Quy Y Tăng Bảo!

Quy Y Phật Bảo là, một lòng một dạ hướng về Trí Tuệ tối thượng hay còn gọi là Vô Thượng Bồ Đề... Quy Y Pháp Bảo là, quyết tâm biến những lời dạy của Đức Phật trở thành hành động của Trí Tuệ ngay trong hiện thực đời sống này... Quy Y Tăng Bảo là, vâng nghe theo lời của bậc Đạo Sư, người đã giúp ta biết cách sử dụng ngọn đuốc giáo pháp một cách hiệu quả, dắt ta ra khỏi mê muội, từng bước hướng dẫn ta dùng vũ khí trí tuệ thành tựu những đạo quả cần thiết cho đến tối thượng!

Trong ba pháp Quy Y nói trên, Quy Y Pháp Bảo chính là Quy Y Kinh Điển... Kinh điển của Đức Phật để lại, là ngọn đuốc soi đường, là tấm bản đồ vạch ra hướng đi đúng nhất, và là cái la bàn tiêu chuẩn, giúp người tu hành tiến về Vô Thượng Quả không sai lệch!

Tuy vậy, để có thể đọc tụng hết những lời dạy của Đức Phật trong một thời gian nhất định, là việc làm không thể, chưa nói đến việc lãnh hội trọn vẹn ý nghĩa của những lời dạy này sau lớp vỏ ngữ ngôn, là việc làm càng khó khăn hơn... Ngoài những điều vừa nêu, bằng cách nào tự thân có thể phân loại, chọn lựa những bài kinh phù hợp với việc tu tập trong mỗi giai đoạn, giữa rừng kinh điển đồ sộ là việc làm nhất định không thể thiếu!

Kinh điển của Đức Phật để lại chính là một bộ sách giáo khoa hoàn hảo, giúp người học tiếp cận kiến thức từ thấp lên cao, từ cạn đến sâu, từ đại cương đến chi tiết, từ những ứng dụng thô sơ đến các thứ triết lý cao thâm... Vì thế, không biết phân loại, sắp xếp, đọc tụng theo thứ lớp, để có thể lãnh hội và ứng dụng phù hợp từng giai đoạn tu tập, sẽ giống như người bệnh uống nhầm thuốc, hệ quả sẽ là, "tiền mất tật mang" đã không ích lợi nhiều, bệnh tình có khi trầm trọng hơn, điều này không phải là hiếm gặp trong thực tế tu hành!

Chính vì những yêu cầu trên, để giúp các bạn có được bức tranh tổng thể, có được cái nhìn khái quát về hệ thống kinh điển của Phật Đạo từ thấp lên cao, từ cạn đến sâu... Cuốn MƯỜI MỘT BÀI KINH PHẬT mà các bạn đang cầm trên tay có mặt! ... Thật ra, mười một bài kinh trong vô lượng kinh điển của Phật để lại, chỉ là một nắm lá nhỏ so với số lượng lá của một rừng cây... Nhưng ít ra, "mười một bài kinh tiêu biểu" này, sẽ giúp các bạn có được những kiến thức cơ bản, tiêu biểu nhất về quá trình tu tập từ sơ cơ đến đạo quả sau cùng trong Phật đạo!

− Nói tiêu biểu là vì, khi thấu suốt và thể nhập được bài kinh trước, các bạn sẽ dễ dàng tiếp cận và thấu suốt tinh thần của bài kinh kế tiếp, đến khi thấu suốt trọn vẹn và ứng dụng hoàn hảo cả mười một bài kinh tiêu biểu này, các bạn sẽ nắm vững được "giáo trình tu tập từ thấp lên cao" của Phật đạo!

− Nói tiêu biểu là vì, khi bạn thấu suốt, nắm vững cách ứng dụng một bài kinh nào đó của giai đoạn tu tập nào đó từ mười một bài kinh này thì, các bài kinh khác thuộc dạng tu tập như thế, được Phật dạy trong các kinh khác, khi đọc lên, các bạn sẽ thấu đáo lời dạy đó... Nó giống như người đã học tốt, học xong lớp năm thì, các bài giảng từ lớp một đến lớp bốn các bạn có thể hiểu một cách dễ dàng!

  • Về cách bố trí:

Mười một bài kinh, được sắp xếp theo trình tự từ Giáo Tông sang Tâm Tông, rồi đến Nhất Thiết Trí Môn và cuối cùng là Pháp Vân Môn...!

  • Đại diện cho Giáo Tông gồm các bài kinh từ Thập Thiện đến Đại Thí Dụ Lõi Cây... 
  • Đại diện của Tâm Tông gồm kinh Kim Cang... 
  • Đại diện của Nhất Thiết Trí Môn gồm kinh Thắng Man...  
  • Đại diện của Pháp Vân Môn gồm kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa!  

Khi đã tiếp cận hoàn hảo tiến trình này, các bạn sẽ thấy rằng giáo trình tu tập trong Phật đạo có thứ lớp rất rõ ràng, có chỉ thú hẳn hoi, có điều ta đã nắm bắt được hay chưa mà thôi!

Ví dụ, từ một phàm phu vô văn mới bắt đầu tu tập trong Phật đạo, để có thể thành tựu quả vị Vô Tu Vô Chứng trước khi thành Đẳng Chánh Giác, người tu hành phải lần lượt trải qua các địa vị:

‣ “Phàm phu vô văn”, thấy khổ khởi tu: Người bắt đầu tu hành chưa có quả chứng tối thiểu.

Tiến lên địa vịHữu Học”, dứt Tập Đế: Gồm ba quả thánh Hữu Học là Tu Đà Hườn, Tư Đà Hàm và A Na Hàm.

Tiếp đến địa vịVô Học”, chứng Diệt Đế: Gồm các quả vị A La Hán của Nhị Thừa và Thất Địa hoặc Bát Địa của Bồ Tát.

Vào Địa: Vị này Phát Tâm Bồ Đề Chơn Thiệt, học Nhất Thiết Trí Môn cho đến viên mãn Đạo Đế, đăng Cửu Địa Bồ Tát.

BậcVô Tu Vô Chứng’: Vị tu hành này sau khi thành tựu trí tuệ, vào Đẳng Giác Bồ Tát, tức “Bồ Tát biết cái Phật biết, thấy cái Phật thấy, chứng điều Phật chứng...” Thế nên, đạo quả này còn gọi là Vô Tu Vô Chứng...

Gọi Vô Tu Vô Chứng là vì Bồ Tát này không còn gì để tu, không còn gì để chứng, chứ chẳng phải Vô Tu Vô Chứng là không biết cái để tu, chẳng biết cái để chứng như đa số người tu hành thường hiểu...

Phật đạo còn gọi quả vị này là Vô Dị Biệt Quả, tức Vị ấy với chánh pháp không còn khác biệt...

Sau cùng, vị Vô Tu Vô Chứng này, đăng Diệu Giác vào Pháp Vân Địa: Nổi mây pháp, giáo hoá chúng sanh, chờ ngày thành Đẳng Chánh Giác đủ mười danh hiệu!

Có liệt kê, đào sâu từng mảng tu tập, ta mới thấy, Phật đạo tuy mênh mông nhưng có trật tự, mực thước, khuôn mẫu chặt chẽ... Phật đạo tuy Vô Đạo (không thấy có một đạo mới chân thật là Phật đạo), nhưng đường đi nước bước có lề lối hẳn hòi...

Giống như trong không trung, không thấy có đường lối cụ thể, nhưng mỗi chiếc máy bay phải bay theo hành trình nhất định, có bay theo hành trình nhất định và người Phi Công có xử lý đúng mức, chiếc máy bay đó mới có thể đi và đến an toàn, không gặp rủi ro...

Vì thế, người xưa từng cảnh báo: "Hào ly hữu sai, thiên địa huyền cách", có nghĩa rằng, tu hành trong Phật đạo mà hiểu sai nghĩa lý một chút xíu, ứng dụng không chuẩn xác, thì sẽ cách xa đạo quả như trời với đất!

  • Về chú thích:  

Phần lớn, các chú thích trong cuốn mười một bài kinh, những gì thuộc Giáo Tông vẫn giữ nguyên chú thích của những bậc Cao Đức đi trước, không chỉnh sửa nhiều...

− Trong đó, hai bài kinh Kim CangThắng Man thuộc Tâm TôngNhất Thiết Trí Môn, nên buộc phải “chú thích theo ý nghĩa đặc thù” của hai môn học này...

− Riêng, kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa thuộc Pháp Vân Môn, có nhiều HĐ yêu cầu mình chú thích... Nhưng xét cho cùng, cái khó của người tu hành là, làm thế nào "để biến thành Rồng", mà kinh Kim Cang và Thắng Man đã đảm đương tốt công việc này rồi.

Một khi "đã thành Rồng" thì, chuyện biết nổi mây, làm mưa là chuyện tự nhiên của loài Rồng như người ta mặc áo ăn cơm, không nhất thiết phải hướng dẫn... Hoặc ngược lại, loài không phải là Rồng, cho dù có dạy cách nổi mây làm mưa, mãn kiếp cũng chỉ là việc làm của kẻ...dư...hơi!

− Kinh Các Căn Tu Tập, được xếp vào mười một bài kinh, vì kinh này là chiếc bản lề, là bước đệm không thể thiếu đối với người tu hành bước từ Hữu Lậu sang Vô Lậu, bước từ “Thế Gian Giới” sang “Xuất Thế Gian Giới”, cho nên trong kinh mới đề cập đến “vô thượng căn tu tập trong giới luật bậc Thánh”... Có nghĩa rằng, có thành tựu các căn tu tập, sau đó mới thành tựu "Vô Lậu Giới", Vô Lậu Giới của Bậc Thánh chẳng đồng cấm giới (quy ước giới) của Thế Gian Giới!

− Kinh Đại Thí Dụ Lõi Cây đóng vai trò rất quan trọng trong Phật đạo... Đây là năm bước giúp người thợ điêu khắc biết cách tìm một lõi cây đúng nghĩa, để chuẩn bị thực hiện công việc chế tác hoàn hảo một Phật Tánh ở vị lai!

Nói chung, mười một bài kinh tuy không nhiều, nhưng được coi là “những bài kinh căn bản” giúp người tu hành biết được các cột mốc Thế Tôn đã cắm, làm chỉ dấu cho cuộc hành trình dài hơi đi từ Khổ Đế đến hết Đạo Đế, chỉ ra bốn giai đoạn: Từ Tục Đế chuyển sang Thánh Đế, đến Chân Đế và cuối cùng là thấu suốt viên mãn Tứ Diệu Đế!

Nó giống như quá trình chuyển tiếp "từ sữa, sang lạc, đến tô, và cuối cùng là đề hồ"! ... Ví như bốn nguyên tố C, H, O, N, làm căn bản của sự sống!

Hy vọng, trong một tương lai gần, tất cả HĐ chúng ta, sẽ lần lượt chiếm lĩnh từng cao điểm, cho đến cao điểm cuối cùng trong trận chiến sanh tử khổ, để giải phóng toàn bộ tâm thức u tối của Vô Minh Trụ Địa, mang về thắng lợi Trí Tuệ, trong công cuộc chinh phục đỉnh cao Vô Thượng Đạo!

Chúc mọi người tinh tấn!

Ngày 14/8/2017   
Lý Tứ

[[1]] Trích Email của Lý Tứ gửi cho các Huynh Đệ (HĐ) Lý Gia.

Kinh

Phật Thuyết Kinh Bốn Mươi Hai Chương - Phần 1

Quản trị viên 18.03.2022
Kinh bốn mươi hai chương

Kinh bốn mươi hai chương

Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời

PHẬT THUYẾT KINH BỐN MƯƠI HAI CHƯƠNG

Phạn dịch Hán: Ca Diếp Ma Đằng (Kashyapa maganta) và

Trúc Pháp Lan (Gobharana) thời Hậu Hán.

(Hán dịch Việt: Các bản dịch của TK. Thích Tâm Châu; TK. Thích Trí Quang; TK. Thích Thanh Cát;…; Ban Phiên dịch Việt Ngữ ‘Tổng Hội  Phật giáo Pháp Giới Vạn Phật Thánh Thành’; Đoàn Trung Còn , Nguyễn Minh Tiến;…; Trích TÌM HIỂU KINH 42 CHƯƠNG  TK. Thích Nhật Từ; … )

(Nguồn_https://thuvienhoasen.org/p17a8872/kinh bon muoi hai chuong)

 TỰA [[1]]

Sau khi Đức Thế Tôn thành Đạo, Ngài suy nghĩ rằng: "Xa lìa dục vọng, được sự tịch tịnh, là thù thắng nhất!" Rồi Ngài trụ trong Đại Thiền định mà hàng phục ma đạo. Tại vườn Lộc dã, Ngài chuyển Pháp luân Tứ Đế, độ nhóm năm người của Tôn giả Kiều Trần Như đều chứng được Đạo quả.

Lại có các vị Tỳ Khưu nói lên những điều ngờ vực của mình, xin Phật chỉ dạy cho điều gì nên tiến và điều gì nên ngưng.

Đức Thế Tôn dạy bảo, ai cũng đều khai ngộ. Các vị chắp tay, kính vâng và thuận theo lời Ngài chỉ dạy.

Chương 1: XUẤT GIA, CHỨNG QUẢ

Đức Phật dạy: "Những vị từ giã người thân để xuất gia, biết tường tận tâm tánh,[[2]] thấu hiểu pháp Vô vi,[[3]] được gọi là Sa Môn.[[4]] Họ thường xuyên hành trì 250 giới,[[5]] tiến chỉ thanh tịnh,[[6]] tu hành bốn đạo hạnh chân chánh,[[7]] nên được thành bậc A la hán."

"Các bậc A la hán[[8]] đều có thể phi hành, biến hóa, có thọ mạng lâu dài tới cả khoáng kiếp và làm động trời đất nơi họ an trụ."

"Thứ đến là A na hàm.[[9]] Khi bậc A na hàm mạng chung, linh thần sẽ lên trên cõi thứ mười chín,[[10]] và chứng được quả vị A la hán."

"Thấp hơn là Tư đà hàm.[[11]] Bậc Tư đà hàm còn một lần lên và một lần trở lại nữa là đắc quả A la hán.

Thấp nữa là Tu đà hoàn.[[12]] Bậc Tu đà hoàn còn bảy lần sanh và bảy lần tử nữa mới chứng được quả vị A la hán.

Đoạn trừ ái dục[[13]] thì cũng như chặt đứt tứ chi,[[14]] không còn dùng lại nữa."

Chương 2: TRỪ DỤC VỌNG, DỨT MONG CẦU

Đức Phật dạy: "Những người xuất gia làm Sa môn đoạn dục, khử ái, nhận biết nguồn tâm[[15]] của mình, thông đạt đạo lý thâm sâu của Phật và tỏ ngộ pháp Vô Vi.

Họ trong không sở đắc,[[16]] ngoài không sở cầu;[[17]] tâm không ràng buộc nơi Đạo, và cũng chẳng kết nên nghiệp.

Họ không nghĩ họ làm,[[18]] chẳng tu chẳng chứng, không trải qua các quả vị mà tự nhiên lại cao tột bực. Đó gọi là Đạo!"

Chương 3: CẮT ÁI DỤC, XẢ BỎ LÒNG THAM

Đức Phật dạy: "Những vị cạo bỏ râu tóc[[19]] làm bậc Sa môn, thọ nhận Đạo Pháp, từ bỏ của cải thế gian, khất thực chỉ nhận đủ dùng, giữa ngày ăn một bữa, dưới cội cây nghỉ một đêm, và thận trọng, không cầu mong nhiều hơn.

Chính ái dục làm cho con người bị ngu tế vậy!" [[20]]

Chương 4: THIỆN ÁC PHÂN MINH

Đức Phật dạy: "Chúng sanh[[21]] lấy mười việc làm điều thiện, cũng lấy mười việc làm điều ác. Những gì là mười? Thânba, miệngbốn, ýba.   

  • Thân có ba là sát sanh,[[22]] trộm cắp,[[23]] dâm dục.[[24]]
  • Miệng có bốn là nói hai lưỡi,[[25]] nói lời ác,[[26]] nói dối[[27]] và nói thêu dệt.[[28]]
  • Ý có ba là đố kỵ, sân hận và ngu si.[[29]]

Mười việc này không thuận với Thánh Đạo, gọi là Thập Ác Hạnh. Nếu dứt được những việc ấy thì gọi là Thập Thiện Hạnh vậy."

Chương 5: CHUYỂN NẶNG THÀNH NHẸ

Đức Phật dạy: "Người có nhiều điều lỗi mà không tự hối, lại khiến tâm kia chợt dứt, thì tội lại dấn vào thân, như nước đổ về biển, lâu dần thành sâu rộng.

Nếu người có lỗi tự biết nhận lỗi, đổi ác làm lành, thì tội sẽ tự nhiên tiêu diệt,[[30]] như bệnh mà được ra mồ hôi, bệnh dần dần thuyên giảm vậy!"[[31]]

Chương 6: NHỊN KẺ ÁC VÀ KHÔNG OÁN HẬN

Đức Phật dạy: "Khi kẻ ác nghe các ông làm việc thiện và cố ý đến nhiễu loạn,[[32]] các ông hãy tự ngăn dứt chứ không nên giận trách. Kẻ mang điều ác đến sẽ phải tự nhận lấy điều ác."

Chương 7: Ở ÁC GẶP ÁC

Đức Phật dạy: Có người nghe tiếng Phật giữ Đạo và thực hành hạnh đại nhân từ, bèn cố ý đến mắng Phật. Phật làm thinh, chẳng đáp.    

Khi người kia mắng xong, Phật hỏi: "Ông lấy lễ đãi người, người kia không nhận; lễ ấy có về lại ông chăng?"

Đáp rằng: "Về lại!"

Phật bảo: "Nay ông mắng Ta nhưng Ta không nhận, ông tự đem họa về thân ông vậy; như vang ứng theo tiếng, như bóng hiện theo hình, cuối cùng vẫn chẳng tránh được. Hãy thận trọng, chớ làm điều ác!"

Chương 8: GIEO GIÓ GẶP BÃO                

Đức Phật dạy: "Kẻ ác hại người hiền, như người ngước lên trời phun nước miếng, nước miếng không tới trời mà trở lại rơi nhằm mình; hoặc như người ngược gió tung bụi, bụi chẳng đến nơi khác mà trở lại làm dơ mình; người hiền không hại được, mà họa tất diệt mình."

Chương 9: VỀ NGUỒN GẶP ĐẠO

Đức Phật dạy: "Học rộng,[[33]] đắm say Đạo lý,[[34]] thì Đạo ắt

khó lãnh hội được.[[35]] Giữ vững quyết tâm, thấu suốt diệu lý, y nơi trí tuệ mà hành Đạo,[[36]] thì Đạo kia rất lớn."

---

Phần chú giải

[[1]] Bài “TỰA” kinh có lẽ do những người soạn kinh đưa vào, cho thấy kinh này được biên soạn từ những lời chỉ dạy của Phật, ghi lại những chỗ cốt yếu làm kim chỉ nam.

[[2]] tường tận tâm tánh: Hiểu biết rằng tâm nầy vốn thanh tịnh, chân thật. Kinh Bát nhã nói: "Đối với tất cả các pháp, tâm là thiện đạo." (bậc dẫn dắt giỏi). Vì thế nên “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”.

[[3]] Pháp vô vi (Ngược với pháp hữu vi, tạo tác, làm ra): là pháp không tạo tác (không làm ra), vậy nên không có bốn tướng “sanh, trụ, dị, diệt”.

[[4]] Sa môn: Viết trọn là sa môn na, do tiếng Phạn là Sramana, nghĩa là vị tu sĩ xuất gia giữ tịnh hạnh. Có các nghĩa là: cần giả (Người siêng năng làm các điều thiện), tức giả (người dứt bỏ các nghiệp ác), bần giả (người chịu sống cảnh tiết giảm, biết đủ về vật chất).

[[5]] 250 giới: là toàn bộ các điều khoản giới luật quy định cho một Tỳ kheo Tăng (cũng gọi là Cụ túc giới; Theo truyền thống Luật tạng của Phật giáo Nam tông chỉ có 227 giới.)

[[6]] Kinh văn là "tấn chỉ", nghĩa là "tới lui đều thanh tịnh” (hàm ý chỉ hết thảy mọi hành động). Bản khác là "tấn chí thanh tịnh", nghĩa là "tiến tới chỗ thanh tịnh", thấy không hợp với chỗ đang nói về 250 giới. Theo như nghĩa "tấn chỉ" thì hợp lý hơn, vì nói rộng thêm về oai nghi của vị sa môn.

[[7]] Bốn Đế (Tiếng Phạn là Catvariaryasatyanu): Tức là Tứ đế (Bốn đế) do Phật thuyết dạy là: Khổ đế; Tập đế; Diệt đế; Đạo đế. Ý nghĩa 1)Khổ đế: đặc trưng gồm tám món khổ nhân sinh (sanh, già, bệnh, chết, mong cầu không được, thương yêu phải xa lìa, oán thù hay gặp, ngũ ấm xí thịnh). 2)Tập đế: Nguyên nhân sinh khổ, phiền não, lậu (rỉ chảy) hoặc (che mờ).  3)Diệt đế: là cảnh giới “khổ, phiền não, lậu hoặc” không còn trong tâm thức (tạm gọi là Niết Bàn). 4)Đạo đế: gồm Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.

[[8]] A la hán (Tiếng Phạn là Arahat): Quả thánh cao nhất trong bốn quả thánh của Nhị Thừa. Người đắc quả thánh này gọi là A la hán, có ba nghĩa:

  • Sát tặc: giết giặc nghịch, ở đây là chỉ giặc phiền não. ●Ứng cúng: Xứng đáng thọ nhận sự cúng dường của chư thiên, nhân loại, nghĩa là có đầy đủ oai nghi, phước đức.     ●Bất sanh: Nghiệp lực đã dứt, chẳng còn phải sanh trở lại ba cõi.

[[9]] A na hàm (tiếng Phạn là Anãgãmin; Hán dịch nghĩa là Bất lai hoặc Bất hoàn): Quả thánh thứ ba, chỉ thấp hơn quả A la hán, nghĩa là không còn phải tái sanh trở lại ba cõi.

[[10]] Tầng trời thứ 19: Các cảnh trời trong Tam giới phân ra làm ba mươi tầng. Từ dưới kể lên có 6 tầng thuộc Dục giới, 20 tầng thuộc Sắc giới, và 4 tầng thuộc Vô sắc giới. Tầng trời thứ 19 tức là Quảng quả Thiên (Brhatphala) ở Sắc giới, là cảnh cao nhất trong ba cảnh của Tứ thiền thiên. Trên tầng trời ấy là 5 Bất hoàn thiên (Vô phiền, Vô nhiệt, Thiện hiện, Thiện kiến, Sắc cứu cánh), thuộc cõi Sắc, mà vẫn như không lệ thuộc 3 cõi, và là chỗ của các thánh giả A na hàm (Bất hoàn) cư trú.

[[11]] Tư đà hàm (tiếng Phạn là Sakrdãgãmin; Hán dịch nghĩa là Nhất lai): Quả thánh thứ hai. Người chứng đắc quả thánh này còn một lần sanh trở lại cõi trời người trước khi chứng quả A la hán.

[[12]] Tu đà hoàn (tiếng Phạn là Srotãpanna): Quả thánh đầu tiên, hay Sơ quả, thấp nhất trong bốn quả thánh của Nhị thừa. Hán dịch là Nhập lưu hay Dự lưu, nghĩa là người mới nhập vào dòng. (Ở đây có nghĩa là dòng thánh.)

[[13]] Ái dục: Ái là tham ái, dục là tham dục, đôi khi cũng chỉ gọi là ái. Đó là lòng luyến ái ham muốn do sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tâm) đối với sáu trần (hình sắc, âm thanh, hương, vị, xúc cảm, các pháp) mà khởi lên.   Cũng có thể hiểu:

  1. ●1. Sự tham muốn và đắm chấp mạnh nhất trong đời sống mà con người trải qua, như vợ chồng, con cái v.v... (s: kāma, icchā); ●2. Sự đánh bẫy của năm giác quan do cảnh trần; ●3. Đam mê hư vọng (s: tṛṣṇā); ●4. Đam mê tình dục, phạm sắc giới. (s: maithuna); ●5. Phiền não, nhiễm ô (s: kleśa).
  2. Luyến ái và dục vọng, hoặc tình thương yêu gia đình.
  3. Khát ái (P: Taṇhā, S: Tṛṣṇā; Desire; Craving), thô kệch hay vi tế, luôn ngủ ngầm trong mỗi người, là nguyên nhân chủ yếu những bất hạnh lớn trong đời. Ái dục làm ta bám víu vào đời sống với mọi hình thức, do đó dẫn dắt ta mãi mãi phiêu bạt trong vòng luân hồi. (Đối với người trí, sự trói buộc bằng dây gai, bằng cây, bằng sắt chưa phải kiên cố, chỉ có lòng luyến ái vợ con tài sản mới thật sự là sự trói buộc chắc bền)

[[14]] Cả bốn thánh quả đều do cắt đứt ái dục mà chứng đắc. Ái dục làm cho con người tạo nghiệp quả, do nghiệp quả mà lưu chuyển trong luân hồi. Ái dục bị cắt đứt cũng như tay chân bị cắt đứt, không còn tạo nghiệp nữa.

[[15]] Nguồn tâm: Bản thể của tâm, hay bổn tâm.

[[16]] Không có chỗ chứng đắc: Vô sở đắc, tự thấy mình không có gì gọi là chứng đắc. Kinh Niết bàn nói: "Không chỗ chứng đắc, đó gọi là Huệ; có chỗ chứng đắc, đó gọi là Vô minh... Có chỗ chứng đắc gọi là vòng sanh tử. Tất cả phàm phu đều luân hồi sanh tử, nên có chỗ chứng đắc. Bồ Tát đoạn dứt sanh tử, cho nên không có chỗ chứng đắc."

[[17]] Không có chỗ mong cầu: Vô sở cầu, không cầu mong gì cả. Nếu cầu mà chẳng được thì sanh khổ. Người không có chỗ mong cầu tức thoát được mối khổ này.

[[18]] Không tạo tác: Vô tác, mọi hành vi không còn sự cố ý tạo tác nữa, chỉ tùy theo nhân duyên mà sanh khởi, diệt mất. Kinh Vô lượng thọ nói: "Không tạo tác, không sanh khởi, nhìn thấy các pháp như huyễn hóa."

[[19]] ...cạo bỏ râu tóc: Đức Phật quy định rất rõ: “cạo bỏ râu tóc, làm thầy sa môn là người lãnh thọ đạo pháp”. Người xuất gia theo Phật cạo bỏ râu tóc là bước ngoặt để xác định rằng mình đã từ bỏ những ham muốn, ràng buộc thế tục và dẹp trừ lòng kiêu mạn, tự thị...   Đánh đổi một đời sống mới, đời sống tu sĩ, nơi không dung chứa những hình thức thế gian trước khi trở thành người thọ lãnh đạo pháp.    Đạo pháp là nền tảng chính của đời sống sa môn Thích tử mà hình thức bên ngoài chỉ là những yếu tố nhằm minh họa nét đặc thù của đạo pháp đó mà thôi.

[[20]] Vị Tỳ kheo ăn mỗi ngày một lần vào giờ ngọ, quá giờ thì chẳng ăn. “Trong khi ăn hay đang khi thọ lãnh vật thực, tâm vị sa môn không tham đắm. Chẳng vì thân mạng mà vì chánh pháp. Chẳng vì da thịt mà cốt vì chúng sinh. Để trị bệnh đói mà hành đạo… dầu đặng thức ăn ngon cũng không tham đắm.” (Đại Bát Niết Bàn II, tr. 49).

  “Này các Tỳ kheo, Ta ăn, từ bỏ ăn ban đêm, từ bỏ ăn phi thời, Ta cảm thấy ít bệnh, ít não, khinh an, có sức lực và an trú. Này các Tỳ kheo, khi ăn các vị hãy từ bỏ ăn ban đêm, từ bỏ ăn phi thời, các vị sẽ cảm thấy ít bệnh, ít não, khinh an, có sức lực và an trú.” (Trung Bộ II, tr. 209)

   Không ngủ dưới một gốc cây trong hai đêm liên tiếp, vì sợ rơi vào chỗ ham thích, tham luyến nơi gốc cây ấy.   Phật dạy: “Có 5 nguy hại này, này các Tỳ kheo, nếu sống quá lâu ở một trú xứ: 1/ Đồ dùng nhiều, cất chứa nhiều đồ dùng. 2/ Nhiều dược phẩm, cất chứa nhiều dược phẩm. 3/ Nhiều công việc phải làm, nên không khéo léo trong những công việc phải làm. 4/ Sống lẫn lộn với gia chủ, tùy thuận trong sự liên hệ với gia chủ. 5/ Và khi ra đi, bỏ trú xứ ấy, vị ấy ra đi với sự luyến tiếc.” (Tăng Chi Bộ II, tr. 260 261)

[[21]] Chúng sanh: (S: sattva, P: satta, 眾生; Hán dịch âm là Tát đỏa, dịch nghĩa là Chúng sanh, hay hữu tình, hữu thức, hàm sanh..): Phật đạo gọi chung cho tất cả các sinh vật hữu tình (có tri có giác) của thế gian và xuất thế gian. Tuy nhiên, phần lớn người ta thường phân biệt và xem hạng phàm phu là chúng sanh, còn các bậc Thánh như Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, La Hán, v.v... thì không phải là chúng sanh. (Nghĩa thường dùng: Chỉ chung cho các loài trong Ba cõi, Sáu đường. Thọ nghiệp sanh tử liên miên trong vòng luân hồi. Chúng sanh sanh ra bằng bốn cách: Thai sanh (sanh từ bào thai), noãn sanh (sanh ra từ trứng), thấp sanh (sanh từ chỗ ẩm ướt), hóa sanh (sanh ra do sự biến hóa).)

[[22]] Sát sanh: giết chết, đoạn dứt một hay nhiều sanh mạng với ác ý. Kinh Niết bàn nói: Tội sát có ba bực: Hạ, Trung, Thượng.  Hạ là giết hại mạng chúng sanh, cho dù là một con kiến, cho đến bất kỳ loài nào trong các loại súc sanh. Do tội ấy, kẻ phạm tội sẽ đọa vào ba đường ác: Địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, chịu khổ bậc dưới, bậc nhẹ. Tại sao vậy? Vì những súc sanh ấy có thiện căn nhỏ, cho nên kẻ giết thọ đủ quả báo theo bậc ấy. Trung là giết từ kẻ phàm phu lần lên đến vị chứng quả A na hàm. Kẻ phạm tội sẽ đọa ở ba nẻo ác, chịu khổ báo bậc trung. Thượng là giết cha, giết mẹ hoặc một vị A la hán, hoặc Phật Bích chi. Kẻ phạm tội sẽ đọa ở địa ngục Vô gián, chịu khổ báo không gián đoạn, nặng nề nhất.

[[23]] Trộm cắp: Nói chung bất cứ vật gì thuộc sở hữu kẻ khác, chẳng đồng ý cho mà mình tìm cách để đoạt lấy, dù công khai hay lén lút, đều là phạm vào tội này.

[[24]] Dâm dục: Tình dục giữa nam nữ với nhau. Người tu Phật xuất gia dứt bỏ hẳn sự dâm dục. Người tại gia thì tránh sự tà dâm, nghĩa là không làm sự dâm dục với người không phải vợ hoặc chồng mình.

[[25]] Hai lưỡi: Tức là nói lời không chân thật, trước sau chẳng như nhau, thường là nhằm để ly gián người khác, hoặc làm cho người nầy và người kia ghét nhau, oán nghịch nhau.

[[26]] Nói ác: Là những lời nói cộc cằn, thô lỗ, độc ác… như mắng, chửi, phỉ báng, nguyền rủa… người khác (gây phiền não cho người).

[[27]] Nói dối: Lời không đúng sự thật, chuyện không nói có, chuyện có nói không...

[[28]] Nói thêu dệt: Lời nói ra có dụng ý uốn nắn, thêu dệt, cố tình dùng văn chương hoa mỹ mà làm cho người nghe hiểu sai sự thật hoặc phải theo ý mình.

[[29]] Tâm lý tham lam, đố kỵ, sân hận, si mê… quyết định sự thi thố các hành vi, nó chính là ý tưởng hay tác ý.

   Kệ Pháp Cú nói: ●“Ý dẫn đầu các pháp/   Ý làm chủ, ý tạo/   Nếu với ý nhiễm ô/  Nói lên hay hành động/ Khổ não bước theo sau/  Như xe, chân vật kéo.”(Dhp Pháp cú.1) 

   Hoặc là không tham lam, không đố kỵ, không sân hận, không si mê. thì…●“Ý dẫn đầu các pháp,/  Ý làm chủ, ý tạo,/  Nếu với ý thanh tịnh,/  Nói lên hay hành động,/   An lạc bước theo sau,/   Như bóng, không rời hình” (Dhp _Pháp cú.2)

[[30]] “Tự mình điều ác làm/  Tự mình làm nhiễm ô/  Tự mình bỏ điều ác/ Tự mình làm thanh tịnh /  Thanh tịnh hay nhiễm ôĐều do tự chính mình / Không ai thanh tịnh ai.”(Dhp _Pháp cú.109)

[[31]] “Ai chậm làm việc lành / Ý ưa thích việc ác / Hãy gấp làm điều lành/ Để xóa mờ tâm ác.” (Dhp _Pháp cú.116);       

 “Ai dùng các hạnh lành /   Làm xóa mờ nghiệp ác /   Chói sáng cuộc đời này /   Như trăng thoát mây che.” (Dhp _Pháp cú.173)

[[32]] “Những người hay khuyên dạy / Ngăn người khác làm ác / Được người hiền kính yêu / Bị người ác không thích.” (Dhp _Pháp cú.77).   

   Đức Phật cũng tự thuật trong kệ Pháp cú: “Ta như voi giữa trận/   Hứng chịu cung tên rơi /   Chịu đựng mọi phỉ báng /   Ác giới rất nhiều người.”

   Ngài vẫn giữ được thái độ bình thản, không chao động, ngay cả khi được khen: “Như tảng đá vững chắc, /   không lay động trước gió. /   Cũng vậy, tán dương hay khiển trách, /   người trí không dao động .” (Dhp _Pháp cú.81)

[[33]] Đức Phật gọi người bác học đa văn về Phật học: “Những người nào học rộng nghiên cứu nhiều, thông hiểu các tập Kinh Nikaya, thường tham vấn học hỏi, trau dồi pháp nghĩa để khai mở những gì chưa biết và giải quyết mọi nghi vấn. Hạng người như vậy được gọi là người đã xây dựng được cơ bản.” (Tăng Chi I, tr. 131).    

  Đức Phật xác quyết là quý hiếm: “Này các Tỳ kheo, số ít là các chúng sinh học rộng hiểu nhiều pháp và luật của Như Lai thuyết. Số nhiều là các chúng sinh không thông hiểu.” (Tăng Chi I, tr. 46).      

  Đức Phật còn nêu ra năm lợi ích của đa văn Phật học, mà sự bất thoái trong chánh pháp là chính: “Này các Tỳ kheo, người học rộng nghiên cứu nhiều được năm lợi ích sau: 1/ Biết những gì chưa biết. 2/ Làm trong sạch những gì được biết. 3/ Đoạn trừ các nghi hoặc. 4/ Tạo nên tri kiến chánh trực. 5/ Làm tâm bất thoái.”( Tăng Chi II, tr. 250).

[[34]] Đối với người tri mà thiếu hành, Đức Phật phê phán rất nhiều, ví họ như loài chuột đào hang nhưng không ở, uổng công vô ích: “Có hạng người thuộc lòng nhiều pháp, giảng thuyết nhiều pháp, nhưng không thực hành Tứ diệu đế. Ta gọi đây là hạng người đào hang nhưng không ở.” (Tăng Chi I, tr. 483).    Lần khác, Đức Phật bảo đó là người có sấm nhưng không mưa: “Có hạng người nói nhưng không làm, đó là hạng người có sấm không mưa.” (Tăng Chi II, tr. 477)

[[35]] Thái độ biết để mà biết, không thực nghiệm, ứng dụng vào cuộc sống tu tập, dẫn đến mắc vào sở tri chướng, có nhiều sự vụng về trong hành vi, trong nếp nghĩ, tri hành trái nhau, cuối cùng bị phiền não chinh phục, đau khổ, nên Đức Phật mới bảo là xa với Đạo.

[[36]] Đức Phật dạy tương tự: “Tâm Như Lai là tâm đại bi. Hạnh Như Lai là hạnh vô úy, luôn giáo huấn cho chúng sinh trí tuệ giác ngộ. Đức Như Lai là đạo sư của chúng sinh. Các người phải học hỏi, thực hành giáo pháp của Như Lai.” (Kinh Pháp Hoa, phẩm Chúc Lụy, tr.509)

Sinh Hoạt Lý Gia

Bài Viết Của Lý Ngân Thoa Khi Đọc Và Cảm Nhận Về Sách Tâm Pháp

Quản trị viên 05.03.2022

Cái ấn tượng đầu tiên trong con, đây là một cuốn Phật Pháp lạ đời, không kinh viện, không bác học, không một hình tượng đặc trưng nào về Phật Giáo giống như thế gian mô tả.

              Tâm sự huynh đệ số 02

Con kính chào Thầy. 

Đệ tử chẳng biết nói gì thêm trước sự kì diệu, nhiệm màu cùa Tâm Pháp mang lại. Con cảm ơn Thầy sâu sắc. Con xin viết chút cảm nhận của mình gửi đến Thầy. 

Vì quá xúc động, con viết hơi dài nên con viết thành một văn bản gửi đến Thầy. Văn ngôn còn nhiều hạn chế, nên con mong thầy thông cảm. Thêm nữa, con có làm hai ảnh cho lần xúc động này. 

Con chúc thầy nhiều sức khoẻ! 
Con kính chào thầy ạ ! 

Hôm nay, lạ lắm thầy ạ. Cả tuần nay, con cứ sáng cầm Tâm Pháp lên cơ quan, tối lại cầm Tâm Pháp về nhà. Trước đó, con đã đọc Tâm Pháp rồi. Kì lạ ở chỗ, lần nào đọc, cũng vẫn câu từ đó, mà lại cảm thấy như là lần đầu mới đọc. 

Lần về Việt Nam, con được thầy tặng sách, số lượng chắc cũng bằng một tủ sách cá nhân. Ấy vậy mà, con vẫn chưa lật cuốn nào ngoài cuốn Tâm Pháp, mặc dù đã đọc xong nó, nhưng rồi đọc lại, đọc lại, mỗi lần đọc cảm xúc mỗi lần đều dâng lên khó tả. 

Con đến với Tâm Pháp bằng nhận thức của một đứa trẻ nghèo nàn về Phật Giáo. Thoạt đầu, khi đọc, con cảm giác đây như là một cuốn tiểu thuyết kiếm hiệp, như một cuộc ngao du sơn thuỷ. Vì thế mà so với Vô Đối Môn, Tâm Pháp lúc thời điểm đó là một sự lựa chọn an toàn. 
Có lẽ con là đệ tử chậm tiêu nhất trong Lý Gia nhà mình, cộng thêm bản tánh lạ thường khác đời. Việc đọc đối với con lúc nào cũng đi đôi với sự tưởng tượng. Để có thể dễ hiểu, mỗi khi đọc, con luôn thường hình dung ra những thứ liên quan với nó, bằng một dạng hình ảnh tưởng tượng được vẽ ra trong đầu. Có lẽ mà vì thế, con hợp với lối văn bay bổng, tự do và khoáng đạt. 
Việc đọc đó không là ngoại lệ khi con đến với thế giới Tâm Pháp. Bởi lẽ cái ấn tượng đầu tiên trong con, đây là một cuốn Phật Pháp lạ đời, không kinh viện, không bác học, không một hình tượng đặc trưng nào về Phật Giáo giống như thế gian mô tả. 

Ngay từ những trang đầu tiên, con đã bị hấp dẫn bởi dòng sông Ô Giang, bởi sông núi nơi đây. Con nghĩ, nếu vừa được ngồi trên thuyền, được thư thả trôi theo dòng nước, vừa đọc sách của thầy, có lẽ thật sự vô cùng thích thú. 

Những trang đầu khiến trong con mơ hồ, tưởng tượng ra mình như đang được ngồi trên mạn thuyền, đưa tay chạm xuống mặt hồ, cứ thế trôi theo cùng dòng nước. Đôi lúc phóng tầm mắt ra xa để thấy những ngọn núi cao, thấy mây trôi bồng bềnh, thấy cảnh vật đất trời như hoà quyện hữu tình. Đôi lúc lại thu tầm mắt lại, vểnh tai lên nghe cuộc trò chuyện giữa Lý Tứ cùng huynh đệ Trung Nguyên Cửu Tuyệt. 

Thế rồi, khi Lão Đại kể “Ô Giang tháng nắng thì trong, tháng mưa thì đục’’. Con lại ngửi thấy mùi ảm đạm, một mùi phong trần sương gió qua gương mặt của huynh đệ nhà họ. Như thể, họ vừa trải qua một cuộc hơn thua, tranh danh đoạt lợi, cố chiếm cho bằng được một chút hư vị ở đời, để rồi đã quá mệt mỏi. Sống nửa cuộc đời, mà anh em họ chẳng thể hiểu nổi sinh ra để làm gì? Chết rồi sẽ lại đi về đâu? 

Lý Tứ chẳng nói họ sinh ra để làm gì, cũng chẳng bảo họ chết sẽ đi về đâu, chả nói tiền kiếp cũng chả phán hậu kiếp. Lý Tứ chỉ hỏi họ về cái nghĩa thế nào gọi là Trung Nguyên, cái gì gọi là là Cửu Tuyệt! Câu hỏi khiến con cười phá lên khi nhận ra lâu nay cái gọi là cửu tuyệt chỉ là hư danh, thì ra nó chẳng hay ho gì. Trong cái cười phá đó, có cả sự rùng mình nổi da gà khi bỗng nhận ra, thế gian này, cả con và cả bao người ngoài kia cũng đang đều ôm những cái ''Cửu Tuyệt'' đó để mà sống. Bảo sao đời có lắm oan than, bảo sao đời có lắm dối lừa, ganh ghét. Cũng chẳng phải bởi vì một chữ ''sinh”, rồi chấp mắc cột trói đó ư.

Con mường tượng ra được cái cảnh anh em huynh đệ họ bừng tỉnh sau một cơn ngu mê chấp niệm thế nào, thấu suốt được cái danh mà họ cột trói, ràng buộc bấy lâu nay. Rồi thì Lý Tứ lại bàn đến đục trong của Ô Giang. Vậy rốt cuộc bản chất của dòng sông này là đục hay trong ? Bỗng rồi con nhận ra, đục hay trong là bởi do tướng nước bị nhiễm hoặc không nhiễm, nhiễm ô thì mắt ta nhìn thấy nó đục, không nhiễm thì mắt của ta thấy nó trong, chứ hổi nào đến giờ, bản chất tánh của nước chả có đục trong. 
Mắt ta nhìn, đầu óc tư duy phán xét, để rồi “lúc trong” tâm vui, “lúc đục” tâm sinh phiền não. Lúc này đây, khi ông lão lái đò cất lời, con như mường tượng ra trước mắt con, lão xúc động cảm thán khôn cùng, buông mái chèo, bái lạy Lý Tứ. ‘’Bao nhiêu lần đi trên Ô Giang mà lòng trĩu nặng vì cái nghĩa đục trong. Bao nhiêu lần đi qua Lưu Khanh mà lòng chưa dứt bỏ’’. Bỗng con như người mê đi lạc tìm được ánh sáng để ra khỏi khu rừng.


Con rùng mình khi nhận ra, người thế gian như con, không chỉ cột trói ở một thứ, mà là nhiều, rất nhiều thứ, trói tầng tầng lớp lớp. Bởi do không hiểu, không thấu suốt nên cho dù miệng niệm Phật, thân lạy trăm ngàn cái, nói buông bỏ, nói từ bi hỉ xả, nói lùi một bước để thấy trời cao biển rộng nhưng hoá ra cuối cùng, lùi cũng bị cột trói, mà tiến thẳng hay xoay trái xoay phải thì xung quanh bốn phương tám hướng đều là sự trói buộc. 

Dong thuyền về đến thôn Lưu Khanh, con như thể được bám áo thầy mà vào nhập tiệc ở đại bản doanh. Cái cách thầy miêu tả về địa hình vị thế đại bản doanh khiến con cảm thấy hào hứng, và thích thú như thể mọi hình tượng ngôn từ câu chữ tháo bỏ khỏi gồng xích, tự do bay nhảy, nối đuôi nhau xếp thành một bức tranh phong cảnh. Mon men vào bàn trà đạo, cứ qua một trang sách con lại thêm một lần hiểu biết. 

Khi thầy nhắc đến Chánh Tư Duy, Chánh Định. Những văn tự này trước đây con đã từng nghe qua nhưng không ngấm được vào đầu. Cái hay của Tâm Pháp ở chỗ, khi nhắc đến những văn tự này, thầy đưa một ví dụ rất đời thường, và dễ hiểu. Chỉ qua việc người kia một hồi suy luận logic về việc tại sao có một ly nước thơm ngon giữa đường, cuối cùng quyết định không uống mà làm con hiểu ra việc hành Chánh Tư Duy và Chánh Định như thế nào. 

Hóa ra lại quá đơn giản, suy nghĩ biết cái gì nên làm hay không nên làm. Nếu không nên làm thì đừng làm. Nếu không đáng thì đừng ôm nó vào lòng. Mà đã biết là không đáng, thì lúc đó tự ngay tức khắc tâm cũng dừng sinh luyến ái. Tâm Thanh Tịnh phải chăng là Tâm không vọng động? Vậy để có được Tâm không vọng động thì phải thấu hiểu, thông suốt một cách rõ ràng. Thông suốt rồi, ắt sẽ không sinh luyến ái, tức khắc bình an tự tại. 

Mỗi một câu hỏi, thắc mắc của chín huynh đệ, con như nhận ra chín huynh đệ này, mặc dù sinh ra ở thời cổ trang, sống dưới binh đao kiếm pháp, nhưng cái cách thầy phác hoạ câu hỏi của họ lại vô cùng Thời Đại. 

Ví dụ Lục Đệ, văn hay chữ tốt, hình tướng vị này như khắc đậm về một người đọc rất nhiều kinh điển, nghe qua rất nhiều bài pháp, rất ham đọc, một cái tâm cầu đạo rất lớn. Nhưng chính vì đọc quá nhiều, nghe quá nhiều, mà lại vô tình chấp vào văn tự, ngôn ngữ. Ngài ấy khổ công nghiên cứu quá nhiều, thông thạo kinh điển văn tự quá nhiều nhưng đến hồi, lại quên hai từ ''TÂM XẢ''. Thế là nhờ Lý Tứ, mà ngài ta như từ tối mà bước ra ánh sáng, hiểu thấu được cái gốc của Phật Pháp. 

Trái với Lục Đệ, hình tướng của Cửu Đệ lại phác họa một cách chân thực về những con người thế gian hơn hẳn, trong đó có con. Thích ăn chay, niệm Phật, phóng sanh, cúng dường, ngồi thiền, nghe Pháp, xây chùa, đúc chuông, làm công quả để tích phước đức. Thật ra những việc ở trên nếu thực hiện thường xuyên thì thật sự tốt. Bởi nếu ai cũng làm việc thiện, tránh xa việc xấu thì thế gian này có lẽ chẳng cần đến các tôn giáo, đạo pháp làm chi. 

Thế nhưng, có một điều mà xưa nay, con luôn băn khoăn trăn trở. Phải tu sao để giải nghiệp, phải tu sao để phước đức, phải tu sao để nhân quả về sau tốt đẹp, rồi thì suốt ngày nghe thầy bà nói có hạn này hạn kia, cần phải giải nghiệp. Thế là cứ loanh quanh luẩn quẩn mãi trong cái nghiệp ở đời. Nhưng khi nghe thầy giảng về nghiệp, con bỗng như hiểu ra, nếu cứ tu tập để cầu cho hết nghiệp xấu, để phước đức về sau, an nhàn hạnh phúc, nhân tốt bây giờ thì ắt quả tốt về sau thì há chẳng phải chăng con cũng đang sinh lòng tham, chấp mắc vào cái danh của bình an tự tại. Tham an nhàn, cơm no áo mặc đầy đủ. Sợ duyên xấu, sợ quả báo, sợ nghiệp nặng muôn đời khổ đau. Nhưng do đâu mà khổ đau, do đâu mà muộn phiền thì lại không thấu suốt được. Cứ chấp vào điều này, thì cho dù kiếp sau, có sinh vào một nhà giàu có, có hanh thông thuận lợi dài dài thì cái tâm vẫn phiền não. Phiền não là phải làm sao để kiếp sau, kiếp sau nữa được tốt hơn. Cuối cùng thì con vẫn chỉ là loanh quanh ở trong ba cõi mà không thoát ra được. Vậy thì tu thế này có ích chi ? Phật Giáo là đạo giải thoát, giác ngộ, thoát khỏi xiềng xích. Nhưng nếu tu phước đức như trên, há phải chăng chỉ thoát được chữ khổ của thế gian, nhưng lại vẫn mắc vào cái ngã của tham bình an, tham thanh tịnh mà vô tình hiểu rằng làm phước đức để cầu thanh tịnh. Mọi người chẳng hề biết rằng, chỉ cần một phen giác ngộ, tâm tự thanh tịnh thì tức khắc phước đức vô lậu cùng công đức phát sinh.

Việc đọc của con giờ đây thực hành một cách tự nhiên, không dừng lại ở việc tưởng tượng nữa mà bắt đầu thêm một bước ghi nhớ. Ghi nhớ một cách tự nhiên hồi nào không hay. Một cách rất lạ kỳ, con đọc con hiểu, con lại quên. Con nghe thầy giảng con hiểu, sau rồi con lại quên. Thế nhưng, mỗi lần con va chạm tiếp xúc với thế giới, đụng chuyện gì, con lại mờ mờ ảo ảo: Hình như thầy có giảng. 

Bảo con tường thuật lại kiến thức thầy giảng thì như đánh đố, nhưng cái đầu con thì đã hình dung ra được đôi ba vấn đề. Giống như bữa, có huynh đệ hỏi về một câu ”Mừng Xuân Di Lặc” ở một ngôi chùa nào đó có treo, hoặc như vô vàn bài thuyết pháp được những người thầy thế gian chỉ dạy. Người đời dạy cho đệ tử sao con không biết, riêng thầy, thầy dạy cho con sự khiêm nhường, vô ngã. Tui biết nhiều không có nghĩa tui biết tất tần tật. Cái gì không nắm rõ ràng hiểu thấu, tui sẽ nói cái đó tui không biết. Bạn muốn rõ hãy hỏi người viết ra nó thì sẽ được chính xác nhất. 

Thầy dạy chúng con, không trả lời ẩu tả, không phán xét lung tung, tránh rơi vào tình trạng cái gì cũng tưởng mình biết mà chẳng có điều gì biết cho ra hồn, dẫn đến việc quan trọng nhất đó là tự thân cần phải giác ngộ để hết u mê thì lại không biết, hậu quả thành ra kẻ tự dối mình, gạt người. Điều này con thấy nhan nhản trong đời, cho nên con rất thích câu nói của thầy: “Trong đám mù, khi anh mù lẻo mép cao hứng nhảy lên làm thầy, nói năng vung vít, chỉ trỏ lung lung, cả đám mù nghe theo mà không sụp hầm hay té giếng chết nhăn răng mới là chuyện loạ”. Từ ngày gặp thầy đến nay, con nhận ra kiếm một anh chột mắt khó hơn lên trời, chỉ thấy toàn mấy anh mù loà lẻo mép, vung vít lung tung, thầy thấy có chán không? 

Thầy chỉ huynh đệ chúng con về cách làm người, không được quy chiếu một điều gì về một vấn đề nào mà ta mới quan sát. Không được đánh giá đúng sai khi ta không phải người trong cuộc và chưa biết rõ bản chất của nó. Trước mọi vấn đề hãy quan sát, hãy tĩnh lặng để mà ngẫm nghĩ, tư duy. Tự nhiên, con lại ngẫm nghĩ. Quả đúng, người ở trong bóng râm đâu thể nào cùng một cảm xúc với người đi ngoài nắng. Người nếm thử vị chanh mà chưa từng nếm qua vị chua của quả khác đâu thể nào phán bất kỳ thứ gì đều chua như chanh. 

Rồi sự ghi nhớ trước đó giúp con bắt đầu nhớ ra, à, cái này chẳng phải là lặng thinh của Duy Ma Cật hay sao. Hồi mới nhập môn, thầy đưa con đọc qua bài viết “Cái Lặng Thinh Của Duy Ma Cật”, rồi bảo con làm hình ảnh minh hoạ. Lúc đầu đọc, con bị choáng ngợp vì sự mông lung, không biết nói sao về cái lặng thinh này. Nhưng thời gian sau, khi sinh hoạt, rõ là thầy chả đả động gì đến Bồ tát Duy Ma Cật, nhưng lại khiến con tự động hiểu được lặng thinh của Duy Ma Cật rốt cuộc thì ra làm sao. Thì ra tĩnh lặng ở đây không phải giả câm, giả điếc, giả mù như một pho tượng mà chính là đang Chánh Tư Duy và giảng nói cho người về Pháp Môn Bất Nhị một cách trí tuệ. 

Giờ đây con tự đúc kết lại hành trang của mình qua nhiều lần góp nhặt, đi theo thầy học đạo. 
Cái cột trói vào hư danh như của Trung Nguyên Cửu Tuyệt, hay sự giác ngộ đục trong của ông lão lái đò thì ra chính là bước đầu tiên cơ bản khi tu tập. Đó là sự thấu suốt được vấn đề để rồi xả. Xả cho sạch nhưng quan niệm, chấp mắc trói buộc ở đời. 

Giờ đây, đối với việc xoay chuyển muôn biến vạn hoá của thế gian, ta đừng mang nó vào trong tâm, cũng đừng ràng buộc với những điều đó để rồi tự mình rước khổ vào thân. Không cột trói, không mang mọi thứ đổ vào tâm, tuy nhiên, theo con vẫn chưa đủ. Bởi lẽ thân này là do nhiều duyên tạo thành, không ai sống một mình trên cái thế gian này mà nói rằng tôi chẳng liên quan đến bất kỳ một ai cả. Vậy thì lại đến lúc dùng Chánh Tư Duy và Chánh Định. Tư duy đúng, hiểu đúng, việc nên làm thì làm, việc không nên làm thì không nên làm. Vậy muốn hiểu đúng, muốn thông suốt tường tận để hành đúng, chẳng phải ta lại phải học cách sống Lặng Thinh của Duy Ma Cật đó sao. Trước bất cứ một vấn đề gì, đừng vội phán xét, đừng vội quăng phán xét của mình ra ngoài thế gian. Lặng lẽ quan sát, lặng lẽ nhìn, lặng lẽ tư duy. Đừng vội vàng đưa ra bất kỳ một phán xét nào về bất cứ điều gì khi ta và họ không ở cùng một chỗ, một vị thế. Những gì của thế gian chạy qua chạy lại xung quanh, ta lại dùng tâm tĩnh lặng để mà đối đãi. 

Con cảm tạ ơn thầy đã dạy dỗ, giúp con giác ngộ, hiểu được và xả được những cột trói trước đây. 

Thầy đưa đường chỉ lối cho con bước ra khỏi bóng tối, mà tìm về với ánh sáng của Chánh Pháp. Những ngày đầu năm 2020, nhìn lại 2019, con cảm thấy thật sự không uổng phí. THẬT XỨNG ĐÁNG. 

Đọc lại Tâm Pháp, cảm xúc dâng trào thôi thúc con viết ra đây. Mà viết xong, con đọc lại, cảm thấy những lời bộc bạch này không khác gì một nồi lẩu thập cẩm. Không đầu không cuối. Mong thầy khai sáng thêm cho con, và cảm thông trước sự nghèo nàn về ngôn giáo. 

Sự học biết của con vẫn còn nhiều hạn chế. Con cảm ơn ơn đức thầy. 

Con, đệ tử Lý Ngân Thoa kính chúc thầy sức khoẻ ! 
10/02/2020 

Lý Tứ Hỏi Đáp

Tam Pháp Ấn

Quản trị viên 06.03.2022

Pháp Ấn chính là “con dấu pháp” ấn chứng đạo quả của người tu hành. Phật đạo có rất nhiều Pháp ấn, nhưng tựu trung có ba Pháp ấn quan trọng người tu hành thường nghe nói, đó là: Tứ Pháp Ấn, Tam Pháp Ấn và Đệ Nhất Pháp Ấn !!!

Lý Tứ Hỏi Đáp Số 5

Các bạn !!! 
Tuần này, mình sẽ trả lời câu hỏi của Minh Nguyệt !!! Nội dung câu hỏi như sau:

Thầy Lý Tứ kính !!! 
Đại gia đình Lý Gia kính !!! 
Minh Nguyệt có hai câu muốn hỏi ạ…!!!

1/ Xin hỏi công dụng của Tam Pháp Ấn (không, vô tướng, vô tác) là gì ???

2/ Mối liên hệ giữa Tam Pháp Ấn và người tu tập khi dứt hai thứ vô minh (Nhuận Chi Vô Minh và Căn Bổn Vô Minh) là gì ???

Bạn Minh Nguyệt thân mến !!! 
Về hai câu hỏi của bạn, mình xin trả lời như sau:

1/ Xin hỏi công dụng của Tam Pháp Ấn (không, vô tướng, vô tác) là gì ???

Phật đạo có rất nhiều Pháp ấn, nhưng tựu trung có ba Pháp ấn quan trọng người tu hành thường nghe nói, đó là: Tứ Pháp Ấn, Tam Pháp Ấn và Đệ Nhất Pháp Ấn !!!

– Tứ Pháp Ấn gồm: Vô thường, khổ, không, vô ngã (cũng có nơi gọi là Tam Pháp Ấn gồm vô thường, khổ và vô ngã)… Đây là Pháp Ấn của Nhị thừa !!!

– Tam Pháp Ấn gồm: Không, vô tướng, vô tác…Đây là Pháp Ấn dành cho người tu tập tiến về đạo quả vô lậu bằng con đường Tam Giải Thoát Môn…Pháp Ấn này thuộc về Bồ Tát Quyền Thừa !!!

– Đệ Nhất Pháp Ấn hay Thiệt Tướng Pháp Ấn: Đây là Pháp Ấn, dành cho người thấy thiệt tướng, Pháp Ấn này của Bồ Tát Nhất Thừa !!!

Công dụng của các Pháp ấn trong Phật đạo dùng để ấn tâm…Có nghĩa rằng, để biết mình có tu đúng chánh pháp hay không, người tu hành căn cứ vào các Pháp Ấn, lấy Pháp Ấn làm bản đối chiếu với tâm thức, khi nào tâm thức tương ưng với một Pháp Ấn nào đó, biết rằng con đường ta đang đi là đúng !!! Ta có thể tạm hiểu, Pháp Ấn chính là “con dấu pháp” ấn chứng đạo quả của người tu hành !!!

2/ Mối liên hệ giữa Tam Pháp Ấn và người tu tập khi dứt hai thứ vô minh (Nhuận Chi Vô Minh và Căn Bổn Vô Minh) là gì ???

Bồ Tát Quyền Thừa thành tựu Tam Pháp Ấn, tịch diệt hai thứ vô minh, đó là Nhuận Chi Vô Minh và Căn Bản Vô Minh… Bồ Tát Nhất Thừa thành tựu Đệ Nhất Pháp Ấn, tịch diệt Vô Minh Trụ Địa !!!

Các bạn !!! 
Trong tuần, mình cũng nhận được một số câu hỏi sau… Nhân tiện, mình xin giải thích trong bài viết này !!!

Bạn Thái Hùng Cường: Kinh thưa thầy Lý Tứ ,xin phép đt hỏi thầy như sau :  
1.Con người thường tham lam ích kỷ ? 
2.Con người có tánh hay sân giận ? 
3. Con người thường sống trong si ái..sau khi chết họ sẽ sanh về cõi giới nào vậy? 
Kinh xin thầy Lý Tứ hoan hỷ chỉ dạy, xin chân thành cảm ơn.

Bạn Thái Hùng Cường thân mến !!! 
Phật dạy: “Như một cái cây, nó sẽ ngã theo hướng (người đốn cây dùng búa) mở miệng”. Câu này có nghĩa rằng, những người có các thứ tánh như bạn kể ở trên, nếu không giác ngộ, nhất định họ sẽ sanh về cõi giới của những chúng sinh có các thứ tánh ấy !!!

Bạn Lê Ngọc Tới: Tôi đã thỉnh cuốn VÔ ĐỐI MÔN của tác giả LÝ TỨ nhưng đang cho ông cụ nhà đọc trước. 
Hỏi ! Làm thế nào để cho một người chưa hiểu PHẬT PHÁP đọc (lý) thể nghiệm (sự) để có thể nhập được. 
Cám ơn BQT đã tạo được sân chơi bổ ích.  
Cám ơn.

Bạn Lê Ngọc Tới thân mến !!! 
Một người chưa hiểu Phật pháp, muốn từ nơi lý thể nhập sự… Người này phải học và học thôi !!! Theo mình thì, không có con đường khác !!! Thân !!!

Bạn Kim Diễm Văn hỏi: 
Thầy ạ! Con có vấn đề sau muốn hỏi Thầy ạ! Nếu câu hỏi của con không đúng mong thầy bỏ qua cho con! Khi con nghe bài Ngũ ấm và Ngũ uẩn hình như là Thầy viết phân tách rạch ròi làm hai phần riêng biệt, nhưng thật ra ngũ ấm và ngũ uẩn phải liên kết chặt chẽ với nhau phải không ạ? Một người muốn giải thoát phải quán chiếu diệt trừ rốt ráo ngũ ấm muốn vậy thì phải nhờ ngũ uẩn giúp đỡ cho nên trong khi hành thiền ngũ ấm và ngũ uẩn phải tiến hành nối tiếp nhau. Con nghĩ như vậy là đúng hay sai ạ! Sự vận hành ngũ ấm và ngũ uẩn trong khi hành thiền như thế nào mới đúng theo tinh thần Phật đạo ạ? Con tên là Kim Diễm Văn. Con xin cảm ơn Thầy rất nhiều?

Bạn Kim Diễm Văn thân mến !!! 
Ngũ ấm và ngũ uẩn không phải hai thứ khác nhau, mà nó là hai mặt của một vấn đề… Khi nào năm món sắc, thọ, tưởng, hành, thức mang tính chất trói buộc thì gọi là ngũ ấm…Khi nào, năm món đó tích chứa nguyên nhân phát sinh khổ phiền não, gọi là ngũ uẩn !!!

* Muốn không bị năm ấm trói buộc, phải dùng thiền định để yểm li, do tính chất của thiền định là: Tuần tự đưa người ra khỏi dục, sắc và vô sắc (ba cõi chính là nhân biến năm món sắc, thọ, tưởng…từ không tánh trở thành năm ấm) !!!

* Muốn không bị năm uẩn làm cho ta khổ phiền não, phải dùng trí tuệ quán sát để thấu suốt bản chất tự không của ngũ uẩn, kinh gọi là “chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thế khổ ách” !!! Thân !!!

Bạn Jessica Nguyên hỏi: 
Thầy, con muốn hỏi thầy pháp vô vi là thế nào, con mơ hồ, con nghĩ là phép Phật phải không thầy?

Bạn Jessica Nguyen thân mến !!! 
Trong Phật đạo, vô vi là cảnh giới của tâm thức khi các hữu vi pháp đã tịch diệt…Khi tâm thức không hiện khởi các hữu vi pháp, Phật đạo gọi (tâm thức) đó là vô vi, chứ không có một vô vi pháp !!! Vì thế Phật dạy: “Vô vi như sừng thỏ lông rùa”, câu này có nghĩa vô vi chỉ có tên gọi mà không có một pháp thực thể !!! Thân !!!

– BQT cũng nhận được một số câu hỏi liên quan đến thời khoá tụng niệm, hay các câu hỏi liên quan đến tông phái tu hành !!!

BQT xin thưa với các bạn có những câu hỏi thuộc dạng đã nêu như sau: Lý Gia chỉ tìm hiểu Phật pháp (thuần tuý), nên không chuyên về thời khoá tụng niệm, cũng như không tham gia vào các tông phái tu hành !!! Vì thế, chúng tôi không thể trả lời thoả đáng các câu hỏi liên quan đến những vấn đề vừa nêu…Mong các bạn thông cảm !!!

– BQT cũng nhận một vài câu hỏi nhưng rất tối nghĩa, khi đọc lên chẳng hiểu các bạn hỏi gì… Rất mong, khi đặt câu hỏi, các bạn cần viết rành mạch, văn tự rõ ràng dễ hiểu…Có như thế, chúng ta mới trao đổi với nhau được !!!

Tuần tới, chúng ta sẽ tiếp tục trao đổi câu hỏi của bạn Nhất Vi, câu hỏi như sau:

1) Người tu có cần đọc kinh điển hay không? Có người bảo rằng chỉ cần hành, không cần đọc kinh vì tâm chính là kinh, câu nói này đúng hay chưa?

2) Lên mạng tôi thấy ai cũng tự cho rằng mình đã ngộ, chê kẻ khác là chạy theo tưởng tri gì đó rất khó hiểu, làm thế nào để phân biệt được người nào ngộ thiệt người nào ngộ giả? Xin Lý Tứ giải đáp dùm Nhất Vi những thắc mắc vừa nêu, cảm ơn BQT và Lý Tứ đã có nhiều bài viết và trả lời bổ ích.

BQT LÝ GIA rất mong, nhận thêm những câu hỏi liên quan đến Phật pháp từ các bạn !!!

Các bạn !!! 
Trong ngày, mình cũng nhận được các câu trả lời Trò Chơi Trí Tuệ – 02/2019 của Lý Giác Thư, Lý Phan Nhân và Lý Phương Anh (trả lời câu 1, đã yêu cầu PA trả lời thêm câu 2) !!! Trả lời của Lý Giác Thư và Lý Phương Anh theo đánh giá của mình là rất hay, không muốn nói là xuất sắc… Trả lời của Lý Phan Nhân đúng, nhưng cần trau chuốt hơn nữa !!!

LÝ TỨ

Bài viết Lý Tứ

Tắt Nguồn Tâm Thức

Quản trị viên 15.03.2022

Chuyện Bên Lề - Tác giả Lý Tứ

Câu chuyện xảy ra cách đây trên bảy năm, lúc ấy Lý Gia còn lèo tèo... HĐ chừng dăm ba chục !!!

Một hôm, mình và một vị HĐ còn rất trẻ rủ nhau đi nhâm nhi cà phê ở một quán cóc ven đường... Sau một hồi tâm sự, mình nhìn ra “một cộng tóc công đức” nổi lên từ tâm thức vị HĐ ấy !!! Thế là mình quyết định đưa vị HĐ này vào quỹ đạo !!!

Ngặt nỗi, tuy trước khi gặp mình, vị HĐ này cũng có thời gian chừng bốn năm năm tu tập, nhưng kiến thức Phật đạo thì rất tạp nhạp, lơ tơ mơ, hiểu đâu sai đó... Mà thời gian quen mình lại quá ngắn, chưa kịp trang bị cho bạn ấy các kiến thức cơ bản...Nhưng, nhờ vị bằng hữu này là một kĩ sư công nghệ, mình lập tức khai thác nhanh chuyên môn của bạn ấy !!!

Mình hỏi bạn ấy:

-Bạn giảng giải cho mình, nguyên lí thu phát tín hiệu của chiếc điện thoại di động là như thế nào, có được không ???

-Thế là bạn ấy thao thao bất tuyệt về công nghệ !!!

Mình lại hỏi:

-Bạn có bao giờ tự hỏi, vì sao chiếc điện thoại di động cũng thu phát tín hiệu mà vẫn bất động, an nhiên...Còn con người ta, khi thu và phát tín hiệu lại bị dao động và phát sinh phiền não hay không ???

Bạn ấy cười và bảo:

-Thầy so sánh thú vị thiệt, chuyện này con chưa từng nghĩ... Thầy phân tích cho con nghe đi !!!

Thế là cơ duyên đã đến, mình giảng giải cho vị ấy cơ chế sinh tâm, sinh pháp của một hữu tình !!!

Mình hỏi vị ấy:

-Như vậy, bạn có nhận ra sự khác biệt về cơ chế hoạt động khi thu phát tín hiệu của người và máy hay không ???

Bạn ấy trả lời:

-Con đã mơ hồ hiểu ra điều gì đó !!!

-Thế, muốn thu phát tín hiệu một cách rõ ràng mà không phát sinh phiền não, theo bạn thì ta nên thế nào ???

-Chỉ thu phát tín hiệu, nhưng tắt nguồn tâm thức !!!

-Ha ha ha ha !!! Bạn hay đó !!! Ngay tại thời điểm này, bạn có thể tắt cái “nguồn tâm thức lu bu” của mình được hay không ???

Bạn ấy ngồi chiêm nghiệm một hồi, rồi trả lời:

-Thưa thầy được !!! Nhưng còn chập chờn và hay bị nhiễu !!!

Mình nói với bạn ấy:

-Mình truyền cho bạn một câu chơn ngôn... Bạn hãy tắt nguồn tâm thức, đồng thời dùng câu chơn ngôn này để hộ trì, nhằm giúp tâm thức tịch diệt những chập chờn do nhiễu loạn từ thấy nghe gây nên !!! Câu chơn ngôn đó là: “Thuê bao quý khách vừa gọi tạm thời không liên lạc được, xin quý khách vui lòng gọi...lại...sau” !!! Bạn có nhớ câu chơn ngôn này không ???

-Thưa thầy con nhớ rất rõ !!!

-Nào! Ngay từ bây giờ, bạn thử áp dụng nguyên lí tắt nguồn tâm thức và hộ trì bằng câu chơn ngôn đó, xem nó ra sao !!!

Thế là bạn ấy chìm trong công việc của bạn ấy, mình thì lặng lẽ bỏ đi đến một quán cà phê khác để nhâm nhi một mình !!!

Trong lúc nhâm nhi tách cà phê bốc khói, mình thầm nghĩ: May thiệt! Nếu bạn ấy làm tài khôn trong lúc trao đổi, đặt ra câu hỏi: “Tu là biến mình thành chiếc điện thoại di động hay sao hả Thầy !!!” Chắc chắn mọi thứ đã hỏng bét rồi, người không làm tài khôn cũng có cái lợi của nó !!!

Chừng một giờ sau, mình trở lại quán cà phê, vị HĐ ấy vẫn còn chìm trong bất động !!!

Mình đánh động vị ấy, và hỏi:

-Thế nào, khả quan không ???

Vị ấy chợt tỉnh và nói:

-Rất tốt Thầy ơi !!! Gần như đã tịch diệt đến 90% lăng xăng, phiền não !!!

-Tốt lắm !!! Tốt lắm !!!

-Bạn có cảm nhận rõ những gì xảy ra chung quanh hay không ???

-Cảm nhận mọi thứ xảy ra chung quanh rất rõ, nhưng tâm thức vắng lặng, không chút muộn phiền !!!

-Bạn có thể duy trì được không ???

-Mỗi lúc một tốt hơn !!! Con nghĩ là được !!! Không thành vấn đề !!!

-.........

Chiều hôm đó, mình lại gặp bạn ấy, và bạn ấy đã thật sự bay vào quỹ đạo !!! Mình lại tiếp tục giúp bạn ấy “mở nguồn” !!!

Kể lại câu chuyện này, mình chợt nhớ câu chuyện Ngài Xá Lợi Phất và người đệ tử trẻ trao đổi với nhau khi gặp người vót tên và con kênh dẫn nước trên đường đi khất thực, hình ảnh người vót tên và con kênh dẫn nước đã giúp vị đệ tử trẻ chứng quả Giải Thoát ngay tại thời điểm ấy !!!

Thế đấy các bạn !!! Công đức hội đủ, thời cơ chín muồi, thiện xảo phương tiện...v...v...nếu khéo biết tận dụng, có thể giúp người bay vào quỷ đạo xuất thế ngay hiện tiền không một chút khó khăn !!!

Đây cũng là lí do vì sao, các câu nói như: “Phật pháp bất li thế gian pháp” hay “Nhất thiết pháp, giai thị Phật pháp” ra đời !!! Câu này có nghĩa là, “tạp” hay “xảo” là do người sử dụng, một pháp tự bản chất của nó chẳng có tính chất thế gian hay xuất thế !!! Giống như con dao, thiện hay ác là do người sử dụng !!!

Hơn bảy năm trôi qua !!! Sau bảy năm miệt mài ôn luyện giáo pháp kể từ ngày đọc câu “thần chú tắt nguồn”, giờ đây vị HĐ của ngày ấy đã trưởng thành rất nhiều trong Phật đạo, không muốn nói, là một trong những HĐ kiệt xuất của chúng ta !!!

Các bạn !!!

Bài viết chỉ giúp các bạn tham khảo, để thấy sự diệu dụng từ câu nói: “Phật pháp bất li thế gian pháp” của người xưa !!!

Khi chưa thông đạt giáo pháp, khi chưa biết tâm người, khi chưa thấy được lúc nào là thời cơ, khi chưa nắm vững kĩ thuật khai thị, khi chưa nhìn ra sợi tóc công đức của người nổi lên khi kẻ ấy bị chìm...v..v...Xin các bạn “ĐỪNG DÙNG THỬ” câu chuyện này !!! “

“DÙNG THỬ”, chẳng những nó không đem đến lợi ích, mà có thể khiến người phát sinh tà kiến !!!

“Độ ta xong, mới độ đến nàng...

Ta còn chìm nghỉm, đừng màng...độ...ai” !!!!!!!

Kinh

Kinh Thập Thiện

Quản trị viên 18.03.2022

Kinh Thập Thiện

Tôi nghe như vầy;[[1]] Một thời kia đức Phật ở chốn Long Cung Sa Kiệt La,[[2]] cùng với tám nghìn chúng Đại Tỳ Khưu[[3]] và ba vạn hai nghìn vị Đại Bồ Tát.[[4]]

Bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Long Vương rằng:

“Tâm tưởng của hết thảy chúng sinh khác nhau, sự tạo nghiệp của họ cũng khác, nên mới có sự luân chuyển trong mọi thú”.

  • Này Long Vương! Ông có thấy những vị đương trong hội này cũng như những hình sắc của mọi loài trong đại hải này, mỗi mỗi không đồng nhau không?

Những hình sắc ấy hết thảy do nghiệp thiện và bất thiện của nghiệp thân, nghiệp miệng, nghiệp ý đều do tâm mà tạo ra.

Song, TÂM không có hình sắc, không thể nào nhận thấy được. Và, đó chỉ là sự không thật của mọi pháp hợp tập gây nên, rốt ráo không có chủ, không có ta, cũng không có cái gì của ta.

Tuy đều theo nghiệp, hiện ra không đồng, mà trong ấy, thực không có tác giả, nên hết thảy các pháp tự tánh như huyễn, đều không thể nghĩ, bàn được.

Bậc trí giả biết thế rồi, nên tu thiện nghiệp nhờ vậy Uẩn,[[5]] Xứ,[[6]] Giới[[7]]... Đều được đoan chánh; Người trông không chán.

  • Này Long Vương! Ông xem thân của Phật, từ trăm, nghìn, ức phúc đức sinh ra, mọi tướng trang nghiêm, ánh sáng rực rỡ, tỏa khắp đại chúng; dù có đến vô lượng ức vị Tự Tại Phạm Vương cũng không thể hiển hiện như thế được. Những ai chiêm ngưỡng thân của Như Lai không ai là chẳng lóa mắt.

Ông lại xem thân của các vị Đại Bồ Tát đây, diệu sắc nghiêm tịnh, hết thảy đều do tu tập phúc đức thiện nghiệp sinh ra.

Lại, các hàng Thiên, Long bát bộ,[[8]]... có uy thế lớn cũng bởi phúc đức thiện nghiệp sinh ra.

Và, ngay như trong đại hải này có những chúng sinh hình sắc thô xấu, hoặc lớn hoặc nhỏ cũng đều do những tưởng niệm nơi tự tâm, tạo ra những nghiệp bất thiện của thân, miệng, ý, nên tùy nghiệp, họ tự chịu lấy báo thân như thế.

  • Nay ông thường nên tu, học như thế và cũng nên làm sao cho chúng sinh hiểu thấu nhân quả, tu tập thiện nghiệp như thế. Được thế, nhân chỗ chánh kiến bất động ấy ông sẽ không rơi vào đoạn kiến, thường kiến.[[9]] Đối với những ruộng phước[[10]] các ông hoan hỷ, cung kính, cúng dường, nên các ông cũng được Nhân, Thiên tôn kính, cúng dường.
  • Long Vương nên biết! Bồ Tát có một pháp dứt được hết thảy khổ não trong mọi đường ác.

Một pháp ấy là gì?

− Nghĩa là ngày đêm thường nhớ, nghĩ, quán sát thiện pháp, làm cho những thiện pháp ấy, niệm niệm tăng trưởng và không cho một hào ly bất thiện xen lẫn vào. Tức là hay khiến mọi ác pháp dứt hẳn, thiện pháp viên mãn, thường được thân cận chư Phật, Bồ Tát và Thánh Chúng.  

Thiện pháp ấy là gì?

− Nghĩa là, thân của Nhân, Thiên, đạo Bồ Đề của hàng Thanh Văn, đạo Bồ Đề của hàng Độc Giác và đạo quả Vô Thượng Bồ Đề, đều y vào pháp ấy làm căn bản mà được thành tựu, nên gọi là thiện pháp. Và, thiện pháp ấy tức là mười thiện nghiệp đạo.    

Những gì là mười?

− Nghĩa là, xa hẳn những nghiệp: sát sinh; trộm cắp; tà hạnh; nói dối; hai lưỡi; ác khẩu; nói khéo (thêu dệt); tham dục; giận dữ và tà kiến.

1.1.  CÔNG ĐỨC XA LÌA SỰ SÁT SANH

  • Này Long Vương! Nếu tránh nghiệp sát sinh, liền thành tựu được mười pháp lìa xa phiền não. Những gì là mười?

− Một là, phổ thí đức vô úy đối với mọi chúng sinh.

− Hai là, thường khởi tâm đại từ đối với chúng sinh.

− Ba là, dứt hẳn hết thảy tập khí[[11]] giận dữ.

− Bốn là, thân thường không có tật bệnh.

− Năm là, thọ mệnh lâu dài.

− Sáu là, thường được hàng Phi nhân[[12]] thủ hộ.

− Bảy là, thường không ác mộng, thức, ngủ an vui.

− Tám là, diệt trừ oán kết, mọi oán tự giải.

− Chín là, không sợ sa vào đường ác.

− Mười là, sau khi mệnh hết được sinh lên cõi trời.

Ấy là mười pháp. Nếu đem mười pháp ấy hồi hướng đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, thọ mệnh sẽ tùy tâm tự tại, vị lai thành quả vị Phật.

1.2.  CÔNG ĐỨC XA LÌA TRỘM CẮP

  • Lại nữa, Long Vương! Nếu xa lìa nghiệp trộm cắp, liền được mười pháp có thể bảo đảm, tin tưởng. Những gì là mười?

− Một là, của cải đầy dẫy, vua, giặc, nước, lửa và con hư không thể làm tan mất được.

− Hai là, nhiều người yêu mến.

− Ba là, người không lừa gạt.

− Bốn là, mười phương khen ngợi.

− Năm là, không lo tổn hại.

− Sáu là, tiếng lành đồn xa.

− Bảy là, ở chốn đông người không sợ.

− Tám là, của cải, thọ mệnh, hình sắc, sức lực, yên vui, biện tài đầy đủ không thiếu.

− Chín là, thường sẵn lòng bố thí.

− Mười là, sau khi mệnh hết được sinh lên cõi trời.

Ấy là mười pháp. Nếu đem mười pháp ấy hồi hướng đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vị lai thành Phật chứng được trí Thanh tịnh Đại Bồ Đề.

1.3.  CÔNG ĐỨC XA LÌA TÀ HẠNH (TÀ DÂM)

  • Lại nữa, Long Vương! Nếu xa lìa nghiệp tà hạnh, liền được bốn pháp mà bậc trí giả khen ngợi. Những gì là bốn?

− Một là, mọi căn điều hòa, thuận lợi.

− Hai là, xa hẳn sự xôn xao.

− Ba là, được đời khen ngợi.

− Bốn là, vợ không bị ai xâm phạm.

Ấy là bốn pháp. Nếu đem bốn pháp ấy hồi hướng đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, được Đại Trượng Phu ẩn mật tàng tướng, vị lai thành Phật.

1.4.  CÔNG ĐỨC XA LÌA NGHIỆP VỌNG NGỮ

Lại nữa, Long Vương! Nếu xa lìa nghiệp nói dối, liền được tám pháp mà chư Thiên khen ngợi.  Những gì là tám?

− Một là, miệng thường thơm, sạch như hoa sen.

− Hai là, được mọi người đời tín phục.

− Ba là, nói lời thành chứng; Nhân, Thiên kính ái.

− Bốn là, thường đem lời dịu dàng, an ủi chúng sinh.

− Năm là, được ý vui thù thắng,[[13]] ba nghiệp thanh tịnh.

− Sáu là, nói không lầm lẫn, tâm thường hoan hỷ.

− Bảy là, nói lời tôn trọng; Nhân, Thiên vâng làm.

− Tám là, trí tuệ thù thắng, không ai chế phục.

Ấy là tám pháp. Nếu đem tám pháp ấy hồi hướng đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, được chân thiệt ngữ của Như Lai, vị lai thành Phật.

1.5.  CÔNG ĐỨC XA LÌA NGHIỆP HAI LƯỠI

  • Lại nữa, Long Vương! Nếu xa lìa nghiệp hai lưỡi, liền được năm pháp không thể phá hoại. Những gì là năm?

− Một là, được thân bất hoại, không gì có thể hoại được.

− Hai là, được quyến thuộc bất hoại, không gì có thể phá được.

− Ba là, được lòng tin bất hoại, thuận theo bản nghiệp.

− Bốn là, được pháp hạnh bất hoại, chỗ tu kiên cố.

− Năm là, được thiện tri thức bất hoại, không bị lừa dối.

Ấy là năm pháp. Nếu đem năm pháp ấy hồi hướng đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, được quyến thuộc chân chánh, các ma ngoại đạo không thể làm tan hoại được, vị lai thành Phật.

1.6.  CÔNG ĐỨC XA LÌA NGHIỆP ÁC KHẨU

Lại nữa, Long Vương! Nếu xa lìa nghiệp ác khẩu, liền thành tựu được tám thứ tịnh nghiệp. Những gì là tám?

− Một là, lời nói không trái pháp độ.

− Hai là, lời nói đều lợi ích.

− Ba là, lời nói quyết định hợp lý.

− Bốn là, lời nói đẹp đẽ.

− Năm là, lời nói ra người ta thừa lãnh được.

− Sáu là, lời nói ra người ta tin dùng.

− Bảy là, lời nói không thể chê trách được.

− Tám là, lời nói ra người ta đều ưa thích.

Ấy là tám pháp. Nếu đem tám pháp ấy, hồi hướng đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, được đầy đủ Phạm âm thanh tướng của Như Lai, vị lai thành Phật.

1.7.  CÔNG ĐỨC XA LÌA Ỷ NGỮ (nói thêu dệt)

Lại nữa, Long Vương! Nếu xa lìa nghiệp nói khéo (thêu đệt), liền thành tựu được ba thứ quyết định. Những gì là ba?

− Một là, quyết định được bậc trí nhân yêu mến.

− Hai là, quyết định thường dùng trí tuệ như thực vấn đáp.

− Ba là, quyết định đối với Nhân, Thiên uy đức tối thắng, không có dối trá.

Ấy là ba pháp. Nếu đem ba pháp ấy, hồi hướng đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, được Như Lai thọ ký, chẳng có luống dối, vị lai thành Phật.

1.8.  CÔNG ĐỨC XA LÌA THAM DỤC

Lại nữa, Long Vương! Nếu xa lìa tham dục, liền thành tựu được năm thứ tự tại. Những gì là năm?

− Một là, ba nghiệp tự tại, mọi căn đầy đủ.

− Hai là, của cải tự tại, hết thảy oán tặc không hề cướp đoạt.

− Ba là, phúc đức tự tại, tùy tâm muốn gì, vật dụng đều đủ.

− Bốn là, vương vị tự tại, đồ vật quý lạ đều được phụng hiến.

− Năm là, những vật được dùng, thù thắng gấp trăm lần bản tâm mong cầu, vì thời trước không bỏn xẻn, ganh ghét.

Ấy là năm pháp. Nếu đem năm pháp ấy, hồi hướng đạo Vô thượng Chánh đẳng, Chánh giác, ba cõi[[14]] đặc biệt tôn trọng và đều cung kính, cúng dường, vị lai thành Phật.

1.9.  CÔNG ĐỨC XA LÌA SÂN NHUẾ (sân hận)

Lại nữa, Long Vương! Nếu xa lìa giận dữ, liền được tám thứ tâm pháp hỷ duyệt.   Những gì là tám?

− Một là, không có tâm làm tổn não ai.

− Hai là, không có tâm giận dữ.

− Ba là, không có tâm gây sự kiện cáo.

− Bốn là, có tâm nhu hòa, ngay thực.

− Năm là, được từ tâm của bậc Thánh giả.

− Sáu là, tâm thường làm việc lợi ích, an vui cho chúng sinh.

− Bảy là, thân tướng đoan nghiêm, chúng đều tôn kính.

− Tám là, vì sự hòa nhẫn, chóng sinh lên thế giới Phạm thiên.

Ấy là tám pháp. Nếu đem tám pháp ấy hồi hướng đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, được tâm vô ngại của Phật, người trông không chán, vị lai thành Phật.

1.10.  CÔNG ĐỨC XA LÌA NGHIỆP TÀ KIẾN

Lại nữa, Long Vương! Nếu xa lìa tà kiến, liền thành tựu được mười pháp công đức.  Những gì là mười?

− Một là, được ý vui chân thiện và bạn bè chân thiện.

− Hai là, thâm tín nhân quả, thà bỏ thân mệnh trọn không làm ác.

− Ba là, chỉ quy y Phật, không quy y các Thiên thần.

− Bốn là, lòng ngay, thấy chánh, lìa hẳn hết thảy lưới ngờ: tốt, xấu.

− Năm là, thường sinh trong cõi Nhân, Thiên, không sa đường ác.

− Sáu là, vô lượng phúc tuệ, dần dần thêm hơn.

− Bảy là, lìa hẳn tà đạo, tu hành Thánh đạo.

− Tám là, không khởi thân kiến,[[15]] bỏ mọi nghiệp ác.

− Chín là, trụ vào kiến giải vô ngại.

− Mười là, không sa vào những nạn xứ.

Ấy là mười pháp. Nếu đem mười pháp ấy hồi hướng đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, mau chứng hết thảy pháp của Phật, thành tựu thần thông tự tại, vị lai thành Phật.

  • Bấy giờ, đức Thế Tôn lại bảo Long Vương rằng:

Nếu có vị Bồ Tát nào y vào thiện nghiệp ấy, trong khi tu đạo: 

Xa lìa nghiệp sát hại, chăm làm bố thí, thường giầu của báu, không ai xâm đoạt, được sống lâu không chết non và không bị hết thảy oán tặc làm tổn hại.

Xa lìa nghiệp không cho mà lấy, chăm làm bố thí, thường giầu của báu, không ai xâm đoạt, được sự tối thắng, không ai sánh kịp và đều hay tập hợp đầy đủ những pháp tạng của chư Phật.

Xa lìa nghiệp không đúng Phạm hạnh, chăm làm bố thí, thường giầu của báu, không ai xâm đoạt, mà mình trinh thuận, mẹ và vợ, con, không ai đem lòng dục mà xâm phạm.

− Xa lìa lời nói dối trá, chăm làm bố thí, thường giầu của báu, không ai xâm đoạt, tránh mọi hủy báng, thu giữ chánh pháp, như lời thệ nguyện của mình, việc làm kết quả.

− Xa lìa lời ly gián (hai lưỡi), chăm làm bố thí, thường giầu của báu, không ai xâm đoạt, quyến thuộc hòa mục, đồng vui một chí, thường không trái chống.

− Xa lìa lời thô ác, chăm làm bố thí, thường giầu của báu, không ai xâm đoạt, hết thảy chúng hội, hoan hỷ quy y và lời nói ra ai cũng đều tín thọ, không chút trái nghịch.

− Xa lìa lời nói vô nghĩa, chăm làm bố thí, thường giầu của báu, không ai xâm đoạt, lời nói không hư thiết, người đều kính thọ, hay dùng thiện phương tiện, dứt mọi ngờ vực.

− Xa lìa tâm tham cầu, chăm làm bố thí, thường giầu của báu, không ai xâm đoạt, hết thảy vật sở hữu, đều đem ban cấp, tín giải kiên cố, đủ uy lực lớn.

− Xa lìa tâm bực tức, chăm làm bố thí, thường giầu của báu, không ai xâm đoạt, chóng tự thành tựu tâm trí vô ngại, mọi căn nghiêm trang, tốt đẹp, ai thấy cũng đều kính ái.

− Xa lìa tâm tà đạo, chăm làm bố thí, thường giầu của báu, không ai xâm đoạt, thường sinh vào nhà kính tín chánh kiến, thấy Phật, nghe Pháp, cúng dường chúng Tăng và thường không quên mất tâm Đại Bồ Đề.

Ấy là bậc Đại Sĩ trong khi tu đạo Bồ Tát, làm mười nghiệp thiện, dùng bố thí trang nghiêm, được lợi ích lớn.”

Như vậy Long Vương! Tóm lại mà nói, thực hành mười thiện đạo;

− Dùng trì giới trang nghiêm, hay sinh hết thảy nghĩa lợi của Phật Pháp và đầy đủ nguyện lớn.

− Dùng kham nhẫn trang nghiêm, được viên âm của Phật, đủ mọi tướng tốt.

− Dùng tinh tiến trang nghiêm hay phá ma oán, nhập Pháp tạng của Phật.

− Dùng thiền định trang nghiêm, hay sinh niệm, tuệ, tàm quý, khinh an.[[16]]

− Dùng trí tuệ trang nghiêm, hay dứt hết thảy phân biệt vọng kiến.

− Lòng từ trang nghiêm, đối với chúng sinh không khởi não hại.

− Lòng bi trang nghiêm, thương mọi chúng sinh thường không chán bỏ.

− Lòng hỷ trang nghiêm, thấy người tu thiện, tâm không hiềm ghét.

− Lòng xả trang nghiêm, đối cảnh thuận, nghịch, tâm không thương, giận.

Bốn nhiếp pháp[[17]] trang nghiêm, thường siêng nhiếp hóa hết thảy chúng sinh.

Niệm xứ trang nghiêm, khéo hay tu tập bốn quán niệm xứ.[[18]]

Chánh cần[[19]] trang nghiêm, đều hay dứt trừ hết thảy bất thiện pháp, thành hết thảy thiện pháp.

Thần túc[[20]] trang nghiêm, thường khiến thân tâm vui vẻ, nhẹ nhàng.

Năm căn[[21]] trang nghiêm, thâm tín kiên cố, tinh cần không biếng, thường không mê vọng, vắng lặng điều thuận, dứt mọi phiền não.

Năm lực[[22]] trang nghiêm, mọi oán diệt hết, không gì hoại được.

Giác chi[[23]] trang nghiêm, thường khéo giác ngộ hết thảy mọi pháp.

Chánh đạo[[24]] trang nghiêm, được chánh trí tuệ, thường hiện ở trước.

− CHỈ trang nghiêm nên gột bỏ được hết thảy kết sử.

− QUÁN trang nghiêm nên hay như thực biết được tự tính của mọi pháp.

− PHƯƠNG TIỆN trang nghiêm, chóng thành đầy đủ sự vui vô vi.

Long Vương nên biết! “Mười nghiệp thiện ấy hay khiến mười LỰC,[[25]] bốn pháp VÔ ÚY,[[26]] mười tám pháp BẤT CỘNG[[27]] cùng hết thảy Phật Pháp đều được viên mãn. Vì thế, các ông nên siêng tu học”.

Này Long Vương! ví như hết thảy thành, ấp, làng, xóm, đều y vào đại địa mà được an trụ, hết thảy dược thảo, cỏ cây, rừng rú cũng y vào đại địa mà được sinh trưởng.

Mười thiện đạo ấy cũng lại như thế; Hết thảy Nhân, Thiên y vào đó mà an lập; hết thảy Thanh Văn, Độc Giác, Bồ Đề, mọi hạnh Bồ Tát và hết thảy Phật Pháp, cùng y vào đại địa của mười thiện mà được thành tựu.

Đức Phật nói kinh này rồi, Sa Kiệt La Long Vương cùng toàn thể đại chúng hết thảy thế gian Thiên, Nhân, A Tu La... thảy đều hoan hỷ, tín thọ phụng

---

Phần chú giải

[[1]] Tôi nghe như vầy: Là lời Tôn Giả A Nan tự xưng. Ít lâu sau khi đức Phật nhập Niết Bàn, chư vị Thánh Tăng nhóm họp lại để kết tập những lời Phật dạy. Tôn Giả A Nan được đề cử tụng Kinh tạng, do đó, đầu mỗi kinh đều có ghi câu “Tôi nghe như vầy” để chứng tín (theo lịch sử PG).

[[2]] Sa Kiệt La (Sàgara; Hán dịch là Hàm Hải): Biển nước mặn.

[[3]] Tỳ Khưu (Bhiksu; Hán dịch nghĩa là “Khất sĩ”): Nghĩa là người tu hành, trên cầu đạo của chư Phật để tu tỉnh, dưới đi xin ăn nơi quần chúng để tiện hóa độ. Tỳ Khưu có hai phái. Phái nam gọi là Tỳ Khưu. Phái nữ gọi là Tỳ Khưu ni (Bhiksuni).

[[4]] Bồ Tát (Bodhisattva; Gọi đủ là Bồ đề tát đỏa. Hán dịch là “Giác Hữu tình”): Nghĩa là những vị phát đại tâm cầu đạo Vô Thượng và giúp chúng sinh giác ngộ, thành tựu Vô thượng đạo.

[[5]] Uẩn (5 uẩn): Là (năm) thứ tích chứa phiền não làm người không giác ngộ; Gồm có: Sắc uẩn; Thọ uẩn; Tưởng uẩn; Hành uẩn và Thức uẩn!

[[6]] Xứ (12 Xứ): Gồm sáu Căn (Mắt “Nhãn”; Tai “Nhĩ”; Mũi “Tỷ”; Lưỡi “Thiệt”; Thân; Ý) và sáu Trần (Sắc; Thanh; Hương; Vị; Xúc; Pháp).

[[7]] Giới (18 Giới): Gồm sáu Căn, sáu Trần và thêm sáu Thức (Nhãn thức; Nhĩ thức; Tỷ thức; Thiệt thức; Thân thức và Ý thức) thành 18 Giới.

[[8]] Thiên, Long bát bộ: Là nói về tám bộ chúng thường tới nghe Phật thuyết pháp và hộ trì chính pháp mà mắt người không thể trông thấy được; Gồm: 1) Thiên (Deva: các vị trong cõi trời).   2) Long (Nàga: rồng là loài vua dưới nước).  3) Dạ Soa (Yaksa: quỷ thần bay trên không; cũng có chỗ gọi là Dược Soa).  4) Càn Thát Bà (Gandharva: dịch là Hương Ấm, là Nhạc Thần trong cung vua Đế Thích).  5) A Tu La (Asura: dịch là Phi Thiên, tức là một loại quỷ thần có phúc báo gần như trời...).  6) Ca Lâu La (Garuda: dịch là Kim Sí Điểu).  7) Khẩn Na La (Kimnara: dịch là Ca Thần cũng là vị Nhạc thần trong cung vua Đế Thích).  8) Ma Hầu La Già (Mahoraga: dịch là Đại Mãng Thần, tức là loài địa long vậy).

[[9]] Đoạn kiến; Thường kiến: Đây là hai thứ kiến giải của những con người thiên chấp.

    − Đoạn kiến là không tin nghiệp quả, cố chấp thân tâm con người chết đi là hết, không tục sinh nữa (dễ phóng tâm làm ác, không sợ hậu báo).

   − Thường kiến là cố chấp thân tâm con người thường trụ không gián đoạn mặc dầu trải qua thời gian quá khứ, hiện tại, vị lai (tạo nghiệp thiện, ác cho là không quan hệ gì đến sự khổ vui của thân này).

[[10]] ... ruộng phước (phước điền): Là nơi gieo trồng mầm phước đức. Ruộng phước phân tích có 8; Tóm lại thì có 3 thứ:  1) Kính điền: Cung kính chư Phật, Thánh nhân, chư Tăng.  2) Ân điền: Hiếu thuận với những người có ân như: cha mẹ, Hòa Thượng, A Xà Lê...  3) Bi điền: Thương xót, cứu giúp chúng sinh cùng những người yếu đau…

[[11]] Tập khí: Là thói quen vô thức, là cái hơi hướng do sự huân tập mà thành!

[[12]] Phi nhân: Là chỉ vào các hàng quỷ thần.

[[13]] Thù thắng: Là chỉ cho những sự siêu tuyệt, mà đời (thế gian) khó có.

[[14]]Tam Giới (ba cõi, 3 cảnh giới của tâm): Gồm cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô Sắc!

[[15]] Thân kiến (Satkàyadrsti): Thấy biết lệch lạc (tà kiến) đối với thân, chấp là thực ngã (có ngã).

[[16]] Niệm, tuệ, tàm quý, khinh an: Đây là nói về những tâm sở thiện, phát hiện trong khi nhập định (trạng thái tâm thanh tịnh)…

[[17]] Bốn nhiếp pháp: Bốn phương pháp nhiếp phục, hóa độ chúng sinh, gồm có bố thí; ái ngữ; lợi hànhđồng sự

[[18]] Bốn niệm xứ: Bốn pháp quán niệm gồm quán thân, quán thọ, quán tâm, quán pháp

[[19]] Chánh cần: Gồm 4 pháp, siêng năng hành trì một cách chân chánh:    1)Điều ác đã sinh, làm cho dứt hẳn. 2) Điều ác chưa sinh, làm cho không thể sinh được. 3) Điều thiện chưa sinh làm cho chóng sinh. 4) Điều thiện đã sinh làm cho tăng trưởng…

[[20]] Thần túc (còn gọi là 4 như ý túc): Là 4 pháp thực hành làm cho sự tu tập được đầy đủ như ý (Dục như ý túc; Tinh tấn như ý túc; Nhất tâm như ý túc; Quán (niệm) như Ý túc).

[[21]] Năm căn: Tín; Tinh tấn; Niệm; Định và Tuệ…

[[22]] Năm lực: Tín lực; Tinh tấn lực; Niệm lực; Định lực và Tuệ lực…

[[23]] Giác chi (là 7 chi giác ngộ): Trạch pháp giác chi; Niệm giác chi; Tinh tấn giác chi; Hỷ giác chi; Khinh an giác chi; Định giác chi và Xả giác chi…

[[24]] Chánh đạo (là 8 Chánh đạo): Chánh kiến; Chánh tư duy; Chánh ngữ; Chánh nghiệp; Chánh mạng; Chánh tinh tấn; Chánh niệm và Chánh định.

[[25]] Mười lực: Đây là 10 lực của Như Lai gồm 1)Trí lực biết chỗ giác ngộ, hay chẳng phải chỗ giác ngộ.   2)Trí lực biết nhân quả nghiệp báo ba đời của chúng sinh.  3)Trí lực biết mọi phép thiền giải thoát tam muội.  4) Trí lực biết mọi pháp thiền định và 8 giải thoát tam muội.  5)Trí lực biết mọi tri giải.  6)Trí lực biết mọi cảnh giới.  7)Trí lực biết được chỗ sẽ đến của mọi đường (đạo).  8)Trí lực biết dùng thiên nhãn không chướng ngại.   9)Trí lực biết túc mệnh vô lậu.  10)Trí lực biết dứt hẳn tập khí…

[[26]] Bốn pháp Vô úy: Là bốn pháp nói về tâm hóa độ tha nhân không khiếp sợ. Vô úy có hai: Vô úy của Bồ Tát và Vô úy của Phật:

  1. Vô úy của Phật: 1)Nhất thiết trí vô úy.     2)Lậu tận vô úy.   3)Chướng đạo vô úy.  4)Tận khổ đạo vô úy!
  2. Vô úy của Bồ Tát: 1)Ghi nhớ không quên nên thuyết pháp không sợ. 2)Biết pháp dược và biết căn tính chúng sinh nên thuyết pháp không sợ. 3)Khéo hay vấn đáp nên thuyết pháp không sợ. 4)Hay ngắt dứt nỗi ngờ của chúng sinh nên thuyết pháp không sợ!

[[27]] Mười tám pháp Bất Cộng: Vì không cộng đồng với các hàng Nhị Thừa và Bồ Tát, nên 18 công đức này chỉ có ở nơi Phật nên gọi là “bất cộng”:

   1)Thân không lầm.   2)Miệng không lầm.   3)Niệm không lầm.   4)Không có tưởng khác.   5)Không có cái gì là không định tâm.   6)Không có cái gì là không biết xả.    7)Lòng mong muốn độ sinh không diệt.   8)Tinh tiến không diệt.   9) Niệm không diệt.   10)Tuệ không diệt.   11)Giải thoát không diệt.   12)Giải thoát tri kiến không diệt.     13)Hết thảy nghiệp thân làm theo trí tuệ.    14)Hết thảy nghiệp khẩu làm theo trí tuệ.     15)Hết thảy nghiệp ý làm theo trí tuệ.   16)Trí tuệ biết được đời quá khứ không bị chướng ngại.    17)Trí tuệ biết được đời vị lai không bị chướng ngại.    18)Trí tuệ biết được đời hiện tại không bị chướng ngại.

Subscribe to