Tác Phẩm Lý Tứ

Tinh Tấn

Quản trị viên 16.02.2022
TP.29. Tinh Tấn

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ

Sáng hôm nay, gặp nhau muộn hơn những ngày trước... Suốt đêm mọi người về phòng mình và thiền định... Đợi tập trung đông đủ, Lý Tứ lên tiếng: 

Thưa các bằng hữu!... Tôi thật lấy làm khâm phục và cảm kích trước những nỗ lực cũng như sức tinh tấn của các bạn... Nỗ lực không mệt mỏi, tinh tấn không giảm sút... Đây là thái độ đúng đắn của người tu hành và là nét đặc thù tôi tìm thấy trong các vị... 

Tôi thành tâm tán thán những gì các vị đã thu hoạch được trong những ngày vừa qua... Các vị!... Đức Phật có Thập Bát Bất Cộng, trong đó Tinh Tấn Không Giảm... Thế Tôn như vậy, lẽ nào chúng ta lại làm khác đi... 

⁎ Thưa các vị!... Tôi có đọc một bài kinh lâu lắm rồi, bài kinh này đã gây cho tôi một ấn tượng tốt đẹp về thế nào là ý nghĩa của tinh tấn

Tôi xin lược kể nội dung bài kinh: 

“Một hôm Thế Tôn ốm nặng, phải nằm trên giường, A Nan ngồi một bên chăm sóc... Thế Tôn nói với A Nan: 

A Nan!... Ông hãy tụng kinh cho ta nghe... Xin vâng bạch Thế Tôn!... 

Rồi A Nan với giọng nói trong trẻo của mình đã tuyên đọc lại những bài kinh mà A Nan được nghe Thế Tôn Giảng dạy... Khi A Nan tuyên đọc đến nghĩa tinh tấn... Thế Tôn hỏi: 

A Nan!... Có phải ông đang tụng về pháp tinh tấn phải không A Nan? 

Bạch Thế Tôn con đang tụng về pháp tinh tấn!... Thế Tôn ba lần hỏi và A Nan ba lần đáp như vậy... 

Rồi Thế Tôn, trong cơn đau nhức của tuổi già... Thế Tôn như một người trẻ, khỏe mạnh vụt ngồi dậy và khoanh chân kiết già lưng thẳng... Thế Tôn nói với A Nan: 

֎ Này A Nan!... Thế Tôn cũng phải tinh tấn.” 

⁎ Các vị!... Khi kể lại câu chuyện này, trong lòng Lý Tứ vẫn như ngày đầu mới đọc bài kinh.

Một cảm giác thương mến Đấng Từ Phụ, một cảm giác kính phục Đấng Từ Phụ và một cảm giác hoan hỷ với ý nghĩa tinh tấn. 

֎Các vị!... Thế Tôn đã thành Đẳng Chánh Giác mà còn như vậy... hà huống chúng ta là ai mà được phép phóng dật!... 

Các vị!... Hôm qua sau buổi tâm tình với các vị, khi về phòng của mình... Lý Tứ tôi suy nghĩ những gì chúng ta đã trao đổi với nhau... Những gì đã nói, những gì chưa có cơ duyên chia sẻ và những gì hôm nay cần nói... 

Tôi quyết định, hôm nay chúng ta sẽ tiếp tục trao đổi, mổ xẻ một vài mẩu chuyện được ghi lại trong kinh... Những mẩu chuyện này... hầu như người tu hành ai cũng có một vài lần đọc qua... 

Nhưng hình như rất ít khi được phân tích, để ý và học tập từ nó!... 

Câu chuyện tôi muốn trao đổi hôm nay với các vị, đó là mẩu đối thoại ngắn giữa Phạm Chí Trường Trảo và Thế Tôn... 

Câu chuyện có nội dung như sau: “Phạm Chí Trường Trảo là em ruột của mẹ Xá Lợi Phất, tức là cậu của ngài Xá Lợi Phất... 

Lúc mẹ ngài Xá Lợi Phất còn là thiếu nữ, hai chị em thường đàm luận với nhau... Các cuộc đàm luận diễn ra cả hai “bất phân thắng bại”... Sau đó người chị có chồng, chồng bà ta là một luận sư nổi tiếng... và bà ta mang thai... 

Kể từ hôm bà chị mang thai, Phạm Chí Trường Trảo luôn là người thua cuộc trong những lần đàm luận... Trường Trảo thầm nghĩ... Nguyên nhân gì khiến bà chị của mình trở thành thông tuệ... Có lẽ, do thần lực của thằng bé trong bụng đã ủng hộ bà ta... Nghĩ như thế, kết luận như thế... Trường Trảo quyết định bỏ vào rừng sâu trau dồi luận lý... 

Mười tám năm trong rừng, ông ta thông suốt mười tám tập Phệ Đà... Mười tám năm sau, Trường Trảo nghĩ mình đã thành tựu lý luận và đứa bé đã lớn khôn. Ông bèn quay về quê cũ gặp bà chị và tìm đứa cháu để tranh luận… 

Nhưng khi hỏi ra, thì đứa bé năm xưa tức Xá Lợi Phất ngày nay đã quy y Cù Đàm... Trường Trảo thầm nghĩ... Cù Đàm là ai, mà có thể chiết phục được cháu của mình... Thôi thì ta đến gặp thầy của nó để lý luận... Thế là ông ta tìm gặp Thế Tôn... Khi gặp Thế Tôn, Phạm Chí Trường Trảo là người đặt luận đề trước... Câu chuyện sau đây được nêu lên: 

Trường Trảo: Thưa Cù Đàm!... Không thọ tất cả pháp... 

- Thế Tôn: Nhưng ông có thọ câu nói vừa rồi... 

Sau một hồi suy nghĩ, Phạm Chí Trường Trảo chống chế: Câu nói đó, tôi cũng không thọ... 

- Thế Tôn: Như vậy, có khác gì câu nói trước!... 

Sau đó Phạm Chí Trường Trảo lặng lẽ bỏ đi... Đi được một khoảng khá xa, Trường Trảo dừng lại nói với các đồ đệ của mình: 

Buổi luận khi sáng, ta đã thua Cù Đàm, nhưng vì từ bi, Cù Đàm không nói ra cái thua của ta... 

Và này các ông!... Nay ta sẽ quay trở lại quy y làm đồ đệ của Thế Tôn... Các ông có thể làm những gì thấy là đúng... Sau đó các đồ đệ của Trường Trảo đồng một lòng đến quy y Phật... Phạm Chí Trường Trảo cũng đã chứng La Hán sau đó... 

Thưa các bạn!... Trong mẩu chuyện ngắn trên, ta thấy cái thiện xảo của Thế Tôn, hạ một đao chặt đứt tâm trí của đối tượng... 

Câu nói: “Nhưng ông có thọ câu nói đó”. Nếu tức thời, Trường Trảo quay lại tâm mình, buông bỏ tất cả và không khởi cái ngã biện luận lên... Thì có lẽ, ngay hiện tiền, Trường Trảo đã thấy được vấn đề... Nhưng… 

Chính cái sĩ diện, chính cái ngã, chính thói quen biện minh mà Trường Trảo không thấy được nguồn tâm. Câu nói: “Câu nói đó tôi cũng không thọ...” đã làm cho Trường Trảo bỏ mất cơ hội giác ngộ... 

Các bạn!... Chính thói quen nghe bằng trí, đối đáp bằng ngã, lập luận bằng thức đã đẩy Trường Trảo rời khỏi Phật một đoạn khá xa!... 

Cái đáng khen của Trường Trảo ở đây là, mặc dù trước đây vì sĩ diện với học trò, một phút bất giác... nhưng sau đó Trường Trảo đã quay lại với chính mình và thấy được vấn đề... 

Chính dũng khí của Trường Trảo, dám nói lên sự thật, dám nhận thấy cái sai, dám buông bỏ tất cả như ý nghĩa vô thọ... đã làm nhân duyên lành cho Trường Trảo chứng Thánh... 

Các vị!... Hãy quay lại tự tâm, lắng nghe bằng tâm, tôn trọng sự thật và bỏ cái ngã xuống... Lập tức chân lý sẽ hiện... 

Câu chuyện thứ hai tôi muốn gởi đến các bạn, đó là câu chuyện kinh kể về một Bà La Môn trẻ. Vị này đã đến trước Phật và tranh biện... Câu chuyện sau được nói lên: 

Cù Đàm!... Số là thường... Bởi lẽ một đến hai, đến ba... và đến vô tận. 

- Này Bà La Môn!... Nếu số là thường... thì một chẳng đến với hai... 

Sau câu này, Bà La Môn trẻ khen Thế Tôn và bỏ đi!... 

Các vị!... Sự việc đáng tiếc xảy ra cho vị Bà La Môn trẻ... Chỉ thấy thua về mặt lý luận và vui vẻ bỏ đi... mà không thấy được “một là gì”!... 

Câu nói của Thế Tôn, như nhát kiếm bén chặt đứt những giong ruổi trong tâm niệm của vị Bà La Môn trẻ... Nhưng rất tiếc... Bà La Môn này chỉ nghe bằng tai... suy hiểu bằng trí... và bỏ đi bằng tự ngã... 

Nếu tình huống này xảy ra: Vị ấy nghe bằng tâm... đoạn dứt suy luận bằng trí và bỏ cái ngã xuống... Vấn đề sẽ tốt đẹp hơn... 

Các vị!... Tôi nêu lên hai câu chuyện trên, để thấy cái thiện xảo của Đấng Nhất Thiết Trí, phương tiện sắc bén như lưỡi gươm... 

Cái chúng ta cần ngồi lại và mổ xẻ... chính là thâm ý lời dạy của Thế Tôn... Thế Tôn nói bằng tâm, người nghe phải nghe bằng tâm và thấu suốt bằng tâm... Mọi suy luận, biện biệt đúng sai trong hoàn cảnh này “đều phản tác dụng”. 

Một nhát đao của Thế Tôn có thể ngay tức thì “đẽo gốc cây thành bức tượng”... Cái chúng ta cần học là ở chỗ này... Là ở chỗ này!... 

Các bằng hữu!... Dân gian có truyền tụng bài thuốc chữa rắn cắn... 

Người ta nói rằng, khi nào bị rắn cắn... lập tức quan sát nơi con rắn cắn... Và ở đó nhất định có cây cỏ trị nọc độc của rắn...

Muốn hái được thuốc, người này chỉ cần quay lại sau lưng và bước ba bước... Ngay tại nơi đó... bứt một nắm lá cỏ... bỏ vào miệng nhai... đắp vào vết thương... nọc rắn sẽ bị vô hiệu hóa!... 

Kinh nghiệm dân gian này, các vị có thể dùng ngay bây giờ và sau này chỉ lại cho người... Ha ha ha ha!... Ngay tại nơi con rắn ở, sau ba bước... sẽ thấy thuốc trị rắn!... Nhớ quay lưng và bước ba bước trước mắt là... cỏ thuốc!...

Đạo là như vậy đó... không cần phải đi xa... không cần phải mất công tìm kiếm nơi khác... Ngay tại đó... ngay tại đó sẽ cho ra “liều thuốc vô giá”... Các bạn!... Đừng chạy đôn chạy đáo... Hãy lập tức cứu mình và cứu người bằng “bài thuốc dân gian...” ngay tại chỗ. Nơi nào có rắn, nơi ấy có thuốc... 

Nơi nào có khổ đau nơi ấy có Phật pháp... Nơi hư không mà Thế Tôn hóa hiện vô số pháp lành... 

Nơi cây cỏ vô tình kia lại có món thuốc chữa nọc độc... Ha ha ha ha... “Khổ hải vô biên, hồi đầu thị ngạn”… Lập tức quay đầu, chứ chẳng phải giải quyết cái khổ... Ha ha ha ha!... Tam Tổ trong bài Tín Tâm Minh cũng nói rằng: “Chí đạo vô nan, duy hiềm giản trạch”... 

Ha ha!... giản trạch suy lường là mất ngay... mối đạo!... 

Lý Tứ nói dứt lời, Như Thể lên tiếng:

Thưa Lão Sư!... Tuy con có thấy chút manh mối, dường như bất động, nhưng những nghĩ suy mông lung vẫn hiện lên trong con!... 

- Như Thể!... Ông quay lại chính mình và nghiệm cho kỹ... Nghĩ suy và ông là hai hay một? 

Như Thể suy tư một hồi rồi nói: Thưa Lão Sư dường như là hai!... 

- Ông soi xét lần nữa, và nhìn cho thấu đáo tâm mình rồi hãy trả lời dứt khoát rằng: “Nghĩ suy với ông là hai hay một”. 

Thưa Lão Sư!... Con thấy con và nghĩ suy đúng là hai... 

- Nếu là hai, ông lập tức nhìn ngắm nghĩ suy kia... Nó và ông có mối liên hệ nào chăng?

Như Thể trầm ngâm giây lát rồi nói: 

Thưa Lão Sư!... Hiện tại con thấy nghĩ suy và con không có mối liên hệ... 

- Như Thể!... Nghĩ suy có phải là ông chăng? 

Thưa Lão Sư!... Nghĩ suy chẳng phải con... 

- Như Thể!... Thấy nghe có phải là ông chăng? 

Con thấy thấy nghe và con không có dính dáng gì... 

- Vậy ông là cái gì?

Sanh chẳng phải con... diệt chẳng phải con... Con chính là cái không sanh diệt!... 

- Ông quán sát lần nữa xem, “nghĩ suy, thấy biết” đối với ông nó như thế nào? 

Thưa Lão Sư!... Những thứ này, đối với con bây giờ như “nước chảy qua cầu... cầu chẳng liên hệ đến nước... nước chẳng nhấn chìm được cầu”. 

- Như Thể!... Vì sao người ta “chết chìm”? 

Vì người ta “nhảy xuống nước”!... 

- Nếu đừng nhảy xuống nước, thì điều gì xảy ra... ? Như Thể chiêm nghiệm một hồi rồi nói: 

Thưa Lão Sư!... Con đã hoàn toàn thấy được cái gì là bất động... 

- Vì sao nó bất động? 

Bản lai tự như vậy... 

- Phật dạy: “Tự Tịnh Kỳ Ý”... Vậy ông tịnh ý nào? 

Thưa!... Ngày xưa ngu mê tìm cách tịnh ý kia... ý kia như huyễn... Cố tịnh cái huyễn gọi là mê... Nay biết rõ, thời con “tịnh ý này”!... 

- Ý này làm sao tịnh nó?

Bản lai không động nên chẳng cần tịnh!... 

- Vậy cái gì mới là ông? 

Con chính là cái thường ạ. Thưa Lão Sư!... 

Lý Tứ cười ha hả rồi nói: 

- Như Thể Lão Đệ!... Lão Đệ thấy rồi chứ? 

Thưa!... Con đã thấy rồi!... 

-Nó giống cái gì? Nó chẳng giống cái gì... nhưng nó lại giống cái... xa xưa!... 

- Ha ha ha ha!... Một phen Lão Đệ thấy được... từ đây vĩnh viễn hết thối chuyển!... 

Chúc mừng Lão Đệ... 

-Lão đệ đã đọc kinh Viên Giác chưa? 

Thưa Lão Sư!... Con đã đọc rồi... 

- Kinh Viên Giác nói gì? 

Nói rằng: “Hoa đốm hiện trong hư không nhưng chẳng thể làm ngại hư không và hư không cũng không sinh ra hoa đốm.” 

- Làm thế nào để diệt hoa đốm kia? 

Dứt mê hoa đốm tự diệt... Thấy được chân ngã, ngã hư dối tự mất!... Nếu cố diệt hoặc tìm cách diệt sẽ rơi vào bốn bịnh!... 

- Khi hoa đốm diệt, hoa đốm đi đâu? 

Như người nhặm mắt, mắt hết nhặm quầng đèn tự mất!... 

- Quầng đèn của ông đã mất chưa? 

Cho dù còn, quầng đèn cũng không ảnh hưởng được con... Vì con tự biết: “Đèn kia bản lai không quầng”. 

- Ha ha ha ha!... Như Thể!... Ông làm cho tôi cao hứng... Ha ha ha ha!... 

“Đã bấy lâu nay tìm kiếm khách...

Bao lần lá rụng với cành trơ!...

Một lần chợt thấy hoa đào nở...

Trong dạ từ nay hết chữ ngờ!...” 

- Bài thơ không biết của ai mà lại đúng trong hoàn cảnh này... Ha ha ha ha!... 

Như Thể!... Ông hãy dùng cái không hộ trì mà hộ trì... Hãy dùng cái không tu tập mà tu tập!... 

Đa tạ Lão Sư đã chỉ điểm “cái không thể chỉ”cho con!...

(còn nữa)

Tác Phẩm Lý Tứ

Thế Nào Là Giải Thoát, Thế Nào Là Bất Động?

Quản trị viên 16.02.2022
TP.28. Thế Nào Là Giải Thoát, Thế Nào Là Bất Động?

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ

Như Bổn Mạt đứng dậy, cung tay chào mọi người, hướng về Lý Tứ và nói: 

Thưa Lão Sư!... Thưa các huynh đệ!... Sau mấy ngày nghiền ngẫm ý nghĩa Diệt và Đạo Đế, sau những trăn trở về thế nào là Giải Thoát Bất Động, đệ tử nhìn lại tâm mình, nhìn lại những gì mình gặt hái được qua những lần nói chuyện của Lão Sư. 

Đồ đệ nghiệm ra, trước đây nhân nghe những gì Lão Sư nói, nhờ hiểu biết, nhờ lắng nghe, nhờ ứng dụng những điều đã được nghe nói vào đời sống, trong lòng đồ đệ cảm thấy an ổn thanh tịnh... Điều này cũng từng được Lão Sư khen ngợi trước mọi người. 

Nhưng rồi, khi nghe tuyên nói ý nghĩa Giải Thoát Bất Động, nghe Lão Sư giảng giải ý nghĩa Diệt Đế và Đạo Đế... Đệ tử lần này nhìn lại mình. Đệ tử phát hiện ra rằng, giống như những gì Lão Sư đã nói... Đâu đó trong lòng đệ tử vẫn còn những nghĩ suy mông lung... Và rồi tâm của đệ tử không thể tách rời khỏi giác. 

Giác và tâm tạm thời làm nhân cho nhau để có được một chút an bình... Đệ tử biết rằng cái biết của mình là cái biết của giác, cái thanh tịnh của mình là hệ quả do giác làm ra... Mà những gì có được do bởi thứ khác làm ra đều là vô thường, vô thường bởi nó là hữu vi pháp. 

Chính sự thanh tịnh trong ý nghĩa vô thường này, nên tâm của đồ đệ có khi dao động, có khi thụ động, có khi biếng nhác... Nói chung một chút an lành của giác đồ đệ cảm thấy chưa phải là cứu cánh, chưa phải là mục tiêu cuối cùng... 

Lúc đầu, mới thấy được tâm này, con rất phấn khởi, được Lão Sư khen ngợi... và tạm bằng lòng!... Nhưng qua những bước triển khai tiếp theo về mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh, con nhận ra được lỗ hổng trong tâm của chính mình... Nhận ra cái vô thường của nguồn tâm hãy còn, nhận ra trí này đang bị giác bao phủ... Nó giống như người mù đã được sáng mắt nhưng hãy còn ở trong bóng tối... Tâm có được chút thanh tịnh, có chút không phiền não... nhưng đồ đệ cảm nhận rằng bóng dáng phiền não còn lẩn khuất đâu đây... Nó đang chờ cơ hội bất giác sẽ chiếm lấy nguồn tâm... Nó như kẻ thù trong bóng tối... chực chờ một chút sơ hở là lập tức bắt ngay lấy thân tâm này giao cho phiền não. 

Thưa Lão Sư!... Thưa các huynh đệ!... Con cảm thấy mình hạ liệt, con cảm thấy mình là một hàng binh, con cảm thấy mình như gã cùng tử được no đủ bởi chút cơm thừa của người bố thí... 

Và con cũng thấy mình là kẻ phản bội, không dám từ bỏ bát cơm thừa để nhận những gì cao quý. Con biết rằng bằng lòng với một chút thanh tịnh có được do hiểu biết này là phản bội tâm huyết của Lão Sư, phản bội nỗ lực của các huynh đệ... 

Sau mấy ngày trăn trở, nhìn các huynh đệ đặt gánh nặng xuống, nhìn sự quở trách âm thầm của Lão Sư... Con tự ngồi xuống. Ngồi xuống với quyết tâm cao nhất... Con đã học từ tấm gương Thế Tôn... Chưa thấy được vấn đề quyết không đứng dậy... 

Cho đến đêm hôm, trong cái mệt mỏi của những nỗ lực, trong tuyệt vọng của chính cái giác âm thầm tồn tại trong con... 

Con chợt nhớ câu nói lâu rồi của Lão Sư, đó là: “Nhất tâm để dừng hiện nghiệp”. Con nghiền ngẫm câu nói này, và lần này con thấu suốt ý nghĩa của “Nhất tâm như ý túc”. 

Con quán lại duyên thấy nghe... Con bằng lòng bỏ các duyên thấy nghe xuống... Con quán nhân duyên sanh tâm... Con bằng lòng từ bỏ cả mê lẫn giác... Con quán các pháp... Con thấy các pháp lặng lẽ trôi qua trước mắt mình như dòng nước chảy qua cây cầu... Con quán lại tâm này… Thấy tâm này tự nó dừng lặng...

Một lần nữa, trong tư thế dừng lặng như vậy, con thấy lưu chú âm thầm lặng lẽ vượt qua trong con như đoàn người lũ lượt đi trên một con đường, con với họ không hề có mối liên hệ nào... 

Cứ thế con lặng lẽ quán sát... Bất chợt ý nghĩa câu kinh hiện lên trong con: “Các pháp, không không, lặng lẽ, tàn tạ, niệm niệm sanh diệt”. Thưa Lão Sư!... 

Con hoát nhiên thấy được “Tâm này bản lai bất động, trí này bản lai chưa từng bị cột trói”. Cộng nghiệp, biệt nghiệp... con thấy rõ nó chỉ là danh tự... Tâm này chỉ là danh tự... Pháp kia cũng chỉ là danh tự... Thế giới cho dù có động lay nhưng tâm này vĩnh viễn bất động... Các pháp cho dù có hay không, trí này vẫn tuyệt nhiên tự tại... 

Khi con sống trong những thấy biết như vậy, thưa Lão Sư!... Các thiền chi lại khởi lên trong con... Lần lượt các tam muội hiện rõ... Lúc đầu tập khí giác quán hiện khởi, con quở trách tập khí này, con quyết liệt với chính nó... Chính nhờ quyết liệt này mà trí quán tịch diệt... nhưng một chút cảm nhận và tư duy hãy còn... 

Con tiếp tục quyết liệt với chính mình. Hùng tâm khởi lên, nó mạnh mẽ đến nỗi toàn thân tâm của con bỗng dưng biến mất… chỉ còn cái biết bản nhiên... Cái biết này không hề bị ràng buộc hay chi phối bởi thứ gì trên đời... Nó hoàn toàn độc lập... Con chợt hiểu ra thế nào là giải thoát... Con đem trí này nhìn lại nguồn tâm, thì ý nghĩa bất động hiện rõ trước mắt... Con nhìn nó như nhìn một vật trong lòng bàn tay... Bây giờ con thấu hiểu triệt để ý nghĩa giải thoát bất động... Rồi con tự cười mình... Đúng là xưa nay hết mê đến giác... như con tằm nhả tơ tự trói... 

Thưa Lão Sư!... Con đã hiểu, con đã thấy, và con thật biết thế nào là giải thoát, thế nào là bất động... Con cũng hiểu thật rõ ý nghĩa độc cư thiền định… Con thấu suốt cả câu nói của ngài Duy Ma Cật nói với Xá Lợi Phất: 

“Thưa ngài Xá Lợi Phất, đâu phải ngồi một mình nơi thanh vắng mới gọi là yên... mà yên là nơi ba cõi tự yên... tứ oai nghi đều yên mới chân thật yên”. 

Con nghiệm ra độc cư thiền định trong ý nghĩa này là ý nghĩa của giải thoát bất động. Thấy được giải thoát bất động chính là cứu cánh của nghĩa yên... 

Thưa Lão Sư!... Thưa các huynh đệ!... Con thật sự vui mừng những gì mình chân thật thấy, những gì mình chân thật biết... Lão Sư vẫn thường hay nói: 

“Giải thoát bất động là thấy rõ biết rõ... Nó là cảnh giới thực chứng chứ không phải suy luận... Nó ra ngoài mọi kiến giải ngữ ngôn”.

Đúng là Thế Tôn vẫn thường ví dụ về sự thấy biết này bằng câu nói: “Như xem trái A Ma Lặc trong lòng bàn tay”. Con đã thấy những gì cần thấy trong lòng bàn tay của mình… 

Con nghiệm ra: Giải thoát bất động chính là Đạo Đế, Đạo này lấy Đạo làm Đế... Thưa Lão Sư!... Những thấy biết của con như vậy đã hoàn toàn đúng chưa? Thấy biết như vậy có hoàn toàn chính xác không? Xin Lão Sư từ bi chỉ dạy... 

Lý Tứ hướng về Như Bổn Mạt nghiêm giọng: “Xin chúc mừng Lão Ca... Xin chúc mừng, một chân Lão Ca đã đặt vào cửa ngõ bất động...”

Như Bổn Mạt Lão Ca!... Vì sao tôi nói một chân đặt vào bất động... Giống như người ta ném hòn sỏi xuống hồ nước... hòn sỏi làm hồ nước nổi sóng... Hòn sỏi đã chìm, nhưng những gợn sóng không vì thế mà ngay lập tức lặng dứt... Thì cũng vậy, Lão Ca!... Cái Lão Ca thấy hoàn toàn đúng, cái Lão Ca biết không hề sai... 

Nhưng những đợt sóng còn sót lại của hồ tâm hãy còn... Đừng ném vào cái hồ kia một hòn sỏi nào nữa... Đợi giây lát sau, các con sóng sẽ yếu dần và mất hẳn... 

Thưa các vị!... Giải thoát bất động là như thế... Diệt Đế và Đạo Đế là như thế... Trí như ngọn đèn sáng, tâm như bầu trời xanh... Trí này sáng không ngăn ngại, tâm kia chẳng có áng mây... Tất cả đồng mất hút vào hư không... Chỉ có những ai một lần tự thấy thì vạn kiếp chẳng thể quên... 

Các vị!... Đã đến lúc chúng ta quyết liệt với chính mình, đã đến lúc bỏ cái hạ liệt của gã cùng tử, đã đến lúc không khoan nhượng với những suy luận phải quấy đúng sai... Cái gì là đúng, cái gì là sai... 

Cái gì là thế pháp, cái gì là Phật pháp? Các bạn thử nói đi... Còn một chút pháp nào phát ra từ tâm trí các bạn, phải lập tức biết chắc rằng nó là hư vọng... Các bạn!... Nó chính là ngón tay Thế Tôn nói trong kinh Viên Giác... Hãy từ bỏ những kiến giải về ngón tay để cho tâm trí rảnh rang mà hướng về mặt trăng chơn thiệt... 

Các bạn!... Ba thứ tam muội các bạn phải vượt qua, một cái có giác có quán, một cái có giác không quán và cái cuối cùng không giác không quán... 

Không giác không quán là cửa ngõ vào bất động giải thoát... Dứt giác quán, thiệt trí sẽ hiện, thiệt trí hiện bất động tâm hiện... Hai thứ này hiện rõ trong một hành giả như các bạn nhìn thấy bình hoa trước mắt... Kinh gọi điều này là “Như cái thấy mà thấy, như cái biết mà biết”... Chứ không như cái bị thấy mà thấy, không như cái bị biết mà biết... 

Nói văn hoa hơn là: “Như thị kiến, như thị tri”

Mọi bí mật đều ở chỗ này, mọi thấu suốt cũng ở chỗ này... Vào đó một lần, mới biết lời Như Lai chính là chân ngữ... 

Các vị!... Một lần vào đây, các vị sẽ có được ngọn đèn sáng soi vào kinh điển... Lời Phật là chơn ngữ, muốn hiểu nó phải lấy chân tâm mà hiểu. 

Lời Phật là thiệt ngôn, hãy lấy thiệt trí mà soi rọi... Các vị tự soi vào tâm này, bức tượng tự tâm sẽ lần lần hiện rõ trước mắt các bạn. Khi rọi ra ngoài, các bạn sẽ thấy những gì che chướng tâm người... 

Mọi thứ rồi sẽ minh bạch dưới ngọn đèn trí tuệ... 

Các vị!... Sáng hôm này, buổi sáng của hoa Ưu Đàm... Như Bổn Mạt Lão Huynh, từ đây Lão Huynh mới biết rằng mình chính là Phật Tử... 

Mọi nghi ngờ, mọi thắc mắc của Lão Huynh sẽ không còn nữa... Thấy được rồi, như con hương tượng, cứ thẳng tiến vào rừng Đại Giác, không còn gì ngăn trở được Lão Huynh... Phật dạy: 

“Cuộc đời như một Đại dương, không ai khác hơn các ông, hãy tự làm hòn đảo, nơi nương tựa cho chính mình và hãy tự mình đốt đuốc lên mà đi”. 

Chắc bây giờ huynh thấm thía với ý nghĩa của câu nói này chứ!... 

Các vị!... Chúng ta có một buổi sáng thật đẹp... Trong đời lý Tứ mọi thứ xấu đẹp của thế gian không còn ý nghĩa... Cái đẹp của bây giờ, cái đẹp của chúng ta chính là nụ hoa Ưu Đàm đã nở... Với tôi, đây là cái đẹp nhất trong mọi cái đẹp... 

“Như mây bay trên trời,

Không đẹp cũng không xấu...

Cái người trí cần tìm,

Cái đẹp trong cái đẹp.” 

Xin chúc mừng Lão Huynh!... Chúc mừng các bằng hữu!...

(còn nữa) 

Tác Phẩm Lý Tứ

Kinh THÍ DỤ LÕI CÂY Và Đời Sống Tu Hành. Duy Tuệ Thị Nghiệp.

Quản trị viên 16.02.2022
TP.27. Kinh THÍ DỤ LÕI CÂY Và Đời Sống Tu Hành. Duy Tuệ Thị Nghiệp.

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ

Hai ngày sau, khi mọi người quây quần trở lại, Lý Tứ nói: 

Thưa các vị!... Hai ngày trôi qua, đây không phải là khoảng thời gian dài... Nhưng có lẽ, thời gian này cũng đủ để các vị đọc tụng và tư duy ý nghĩa hai bài kinh mà tôi đã giới thiệu đến các vị... 

Hai bài kinh tôi giới thiệu, có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống tu hành... Một bài có tên là “Tiểu Kinh Thí Dụ Lõi Cây” và một bài có tên là “Đại Kinh Thí Dụ Lõi Cây”... 

Hai bài kinh trên, xét về ý nghĩa chẳng khác nhau là mấy. Thật ra tôi không biết ai là người đặt tên cho hai bài kinh... Không biết có phải hai cái tên này do Thế Tôn tuyên nói, hay Cổ Đức đã đặt... 

Nhưng theo thiển ý của tôi, cho dù ai là người đặt tên không quan trọng... Cái quan trọng ở đây là hoàn cảnh, nhân duyên ra đời của hai bài kinh. 

Có thể nói một bài có tên là Đại Kinh và một bài có tên là Tiểu Kinh ẩn chứa nhiều điều thú vị... 

Bài Tiểu Kinh, ra đời trong bối cảnh, có vị Bà La Môn hỏi Phật về ý nghĩa của một số vị có tiếng tăm, có danh vọng... được xưng là Nhất Thiết Trí và không được xưng là Nhất Thiết Trí... đã lãnh đạo hội chúng của mình... 

Những lời trong kinh, Phật tuyên nói như một nhắc nhở: “Đối với những ai dấn thân tu hành, không nên quá chú trọng đến danh vị của người lãnh đạo”

Ở đây Phật ngầm chỉ ra, chẳng phải vì danh xưng là Nhất Thiết Trí hay chẳng phải Nhất Thiết Trí mới là đạo sư đích thực. Cái cần của đạo sư là làm được công việc đưa mình và người đến giải thoát bất động. Bất kỳ ai làm được điều này, mới là cơ sở đáng tin cậy để người tu hành chọn lựa đi theo... Và bài kinh cũng nhắc nhở rằng, người tu hành không dừng lại ở những quả vị trung gian, vì những quả vị đó chưa phải là mục tiêu cuối cùng. Và tâm giải thoát bất động mới chính là mục đích của phạm hạnh này... 

Các vị!... Điều này có ý nghĩa như thế nào? Bài kinh nói rằng, những ai dấn thân tu hành phải có sự lựa chọn thích đáng đối với vị đạo sư và hãy coi lại những tiếng tăm của họ... 

Đây cũng là định hướng cho tự thân mỗi người, nêu ra những cột mốc, vẽ lên những cung đường... mà hành giả phải trải qua, và chỉ ra đâu là mục tiêu cuối cùng... Nếu các bạn tư duy thật kỹ ý nghĩa bài kinh trên, sẽ thấy toàn bộ hành trình phải đi và những gì cần trải qua trong một giai đoạn nhất định... Vì thế bài kinh có tên là Tiểu Kinh Thí Dụ Lõi Cây... 

Chữ Tiểu Kinh, hàm ý chỉ ra chọn lựa tốt nhất để tự cứu bản thân... 

“Như vậy, này Bà-la-môn, phạm hạnh này không phải vì lợi ích, lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng, không phải vì lợi ích thành tựu giới đức, không phải vì lợi ích thành tựu Thiền định, không phải vì lợi ích tri kiến. Và này Bà-la-môn, tâm giải thoát bất động chính là mục đích của phạm hạnh này, là lõi cây của phạm hạnh, là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh. 

Khi nghe nói vậy, Bà-la-môn Pingalakoccha bạch Thế Tôn: 

– Thật vi diệu thay, Tôn Giả Gotama!... Thật vi diệu thay, Tôn Giả Gotama!... Tôn Giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh Pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày. Và nay con xin quy y Tôn Giả Gotama, quy y Pháp, quy y Tỳ - kheo Tăng. Mong Tôn Giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng...” 

Các bạn!... Ta lại tiếp tục xem xét ý nghĩa của bài Đại Kinh. 

Bài Đại Kinh ra đời trong hoàn cảnh Đề Bà Đạt Đa phá hòa hợp Tăng, đem 500 vị Tỳ Kheo đi Gayàsisa, và Thế Tôn không chấp nhận cho Devadatta lãnh đạo hội chúng Tỳ - kheo. 

Đức Phật đã từ chối điều này với lời nhắn nhủ thông qua bài kinh “Đại Kinh Thí Dụ Lõi Cây”…Nội dung bài kinh này nhằm đưa ra thông điệp cho Đề Bà Đạt Đa, cho 500 Tỳ Kheo đi theo và những người còn ở lại sống đời sống phạm hạnh dưới chân Thế Tôn rằng: 

“Tâm giải thoát bất động chính là mục đích của phạm hạnh, là lõi cây, là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh”

Và bài Đại kinh có thêm ý nghĩa: “Phi thời giải thoát là giải thoát tuyệt đối”... Thông điệp đã nêu, có ý nghĩa rằng: Vấn đề ở đây không phải là được lãnh đạo hội chúng, mà cốt tủy của lãnh đạo hội chúng là khả năng đưa người đến mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh, và cái đích của tự thân người tu hành phải đạt được là “Phi thời giải thoát”...

Xét về năng lực của một lãnh đạo, thì Đề Bà Đạt Đa chưa đủ năng lực dắt người đến mục tiêu cuối cùng vì tự thân chưa thành tựu... Nếu Đề Bà Đạt Đa đã thành tựu thì sẽ không có những tham vọng kỳ khôi này trong một nguồn tâm bất động... 

Ý nghĩa thứ hai của thông điệp nhằm gởi đến cho 500 vị Tỳ Kheo lỡ nghe lời Đề Bà Đạt Đa rằng: Cho dù theo ai cũng không quan trọng, vấn đề ở đây là: Phải đạt được mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh... Có lẽ do sức từ bi của Phật, mà sau đó 500 vị này quay về với Thế Tôn... 

Ý nghĩa thứ ba, thông điệp nhằm gởi đến cho những người ở lại rằng, tự tu và hướng dẫn người tu hành không được rời xa mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh như đã nêu... 

Chính ba ý nghĩa trên làm nên cái thú vị của bài kinh khi có tựa đề “Đại Kinh Thí Dụ Lõi Cây”... 

Tiểu kinh đưa đến nhận thức chín chắn về sự chọn lựa đạo sư và con đường tự thân phải đi... 

Đại Kinh định ra năng lực của lãnh đạo và đây được coi là cương lĩnh của phạm hạnh... 

Các vị!... Hai chữ Tiểu và Đại của hai bài kinh nhắc nhở chúng ta rất nhiều về những gì cần làm của tự thân và những gì cần có trong công hạnh của mình... 

Các bạn!... Nếu chúng ta để tâm một chút, mọi người sẽ thấy hai bài kinh thoạt nhìn rất giống nhau. Nhưng tìm hiểu kỹ thì sẽ thấy rằng bài “Tiểu Kinh” chỉ nói đến “Giải thoát bất động” là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh... 

Bài “Đại Kinh” lại đưa thêm một tiêu chí cao hơn đó là: “Phi thời giải thoát, có nghĩa giải thoát tuyệt đối”. 

Như vậy, thưa các bạn!... Giải thoát bất động và phi thời giải thoát khác nhau chỗ nào. Vì sao nói rằng phi thời giải thoát là tiêu chí cao hơn? 

Chắc các bạn còn nhớ, trước đây tôi có đề cập đến: “Giác là Đế của Tập và Ngộ là Đế của Diệt”. Nhân sự kiện này, tôi xin đào sâu thêm ý nghĩa của hai vấn đề này... 

  • Giác là Đế của Tập... Có ý nghĩa rằng: Giác chỉ có giá trị dừng Tập, tức Giác là khắc tinh của phiền não, nhưng lại có giới hạn của nó... Điều này có nghĩa, khi người tu hành khởi Giác thì tập nhân và phiền não dừng lặng, ngược lại hành giả quên Giác thì tập nhân và phiền não sẽ hiện... Sự tình này ta có thể tạm hiểu đó là “thời giải thoát”. 

“Thời giải thoát”… Có nghĩa giải thoát này có thời gian, có chừng ngằn, có hạn lượng... cũng có thể hiểu nó là “sát na giải thoát”. Vì thế, trong tình huống này, giải thoát và bất động là không tuyệt đối... Cho nên tôi thường khuyên các bạn không dừng ở “Giác” mà phải tiến sâu hơn đó là “Ngộ”... Chỉ có “Ngộ” mới giải quyết rốt ráo vấn đề... 

  • Ngộ là Đế của Diệt... Có nghĩa phải dừng Giác và thấy cho được Bất Động tâm... Thấy được Bất Động tâm chúng ta tạm gọi là Ngộ... Một khi thấy được tâm này, vị tu hành sẽ vào thẳng Diệt Đế, tức là hoàn toàn Bất Động hoàn toàn giải thoát... 

Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, người thấy trọn vẹn tâm này sẽ không bị động lay bởi nội pháp hay ngoại pháp, không bị động lay bởi nội duyên hay ngoại duyên, không bị động lay bởi nội sắc hay ngoại sắc... Sự thường hằng của tâm này gọi là “Phi thời giải thoát”, tức là sự giải thoát Bất động tuyệt đối... Điều này kinh cũng gọi là “Phi sát na”... Có thể hiểu: “Phi sát na” là thường vậy!... Các bạn!... Ngộ chính là: “Như thị kiến, như thị tri”. 

Điều thú vị khác của hai bài kinh là: Đức Phật không nói giải thoát bất động hay phi thời giải thoát là “Mục tiêu cuối cùng của giáo pháp này”... Mà ở đây chỉ nói nó là: “Mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh”. Điều này nói lên ý nghĩa gì? 

Mục tiêu của phạm hạnh đến giai đoạn này coi như đã hoàn tất, đã đạt yêu cầu... Nhưng giáo pháp, thì hãy còn rất nhiều, giáo pháp hãy còn rất xa... 

Con đường của một vị tu hành chưa phải dừng lại ở đây... Giai đoạn này chỉ mới thỏa mãn đời sống phạm hạnh... như người thợ điêu khắc“ biết đem được khúc lõi cây từ rừng về”. Nhưng rồi tiếp theo họ làm gì với khúc lõi cây kia? 

Tất nhiên, còn nhiều việc phải làm, còn nhiều điều phải học... Việc phải học đó là cách xử lý lõi cây, công việc phải làm là biến lõi cây trở thành vật dụng có ích cho đời sống... Nó giống như người thợ điêu khắc, sau khi học xong nghề điêu khắc, cái tiếp theo là phải: “Xắn tay áo làm công việc của mình…” 

Điều này trong kinh Pháp Hoa Phật minh định rất rõ: 

“Đại sự nhân duyên Phật ra đời là khai thị, ngộ nhập Phật tri kiến... cho người tu hành”, tức là dạy cho người tu hành thành Phật chứ không dừng lại ở cửa ngõ “Giải thoát bất động”... 

Các vị!... Đề Bà Đạt Đa nhầm lẫn khi đòi hỏi “Lãnh đạo hội chúng”... Điều này đã là quá đối với năng lực của một người như Đề Bà Đạt Đa... 

Nhưng cái còn lại là: “Lãnh đạo giáo pháp” thì như thế nào đây? Hội chúng tồn tại trên nền tảng giáo pháp mà!... Đây lại là điều mà Đề Bà Đạt Đa không nghĩ đến... Tất nhiên “Lãnh đạo giáo pháp” là việc mà: Muôn ngàn lần Đề Bà Đạt Đa không làm nổi, kể cả những người đương thời nếu Phật không thọ ký thì chẳng thể đảm đương... 

Các vị!... Trên đây chỉ là những gợi ý nhỏ về hai bài kinh. Các vị hãy tư duy thật nhiều về hai bài kinh này, nghiền ngẫm từng chữ từng câu nhất định sẽ tìm thấy nhiều thú vị trong đó... 

⁎ Các vị!... Tôi cũng từng nghe có người nói rằng: “Tứ Diệu Đế lẽ ra Đạo Đế có trước và Diệt Đế đi sau, vì rằng Đạo Đế làm nên Diệt Đế...”

Thưa các vị hiểu như vậy chúng ta không bàn chuyện đúng sai... vì bởi các pháp tự nó không có đúng sai. Nhưng thưa các bằng hữu!... 

⁎ Nếu ai đã từng giác ngộ thì chắc rằng không nói như vậy, và Thế Tôn cũng không nói như vậy... Phật có dạy trong kinh: “Tứ Đế như một cái thang, muốn leo lên nấc thứ nhì phải bước qua nấc thứ nhất... Nếu muốn đến nấc thứ tư phải bước qua ba nấc trước... không thể nói ngược…”

Các bạn!... Ai đã từng ngộ Diệt mới biết thế nào là Đạo... Giống như một người có làm quan mới biết được “đạo làm quan”... Có chứng Diệt mới biết Đạo... Vì rằng chữ Đạo ở đây là đời sống bậc thánh... Đạo này chính là kết quả của Diệt... 

Xin nói thêm, bốn đế rốt cùng chỉ còn một đế, đó là Đạo Đế... 

Đạo này nương tựa trên Đế mà tồn tại... Và cuối cùng rồi bốn đế cũng trở về với hư không, trở về hư không gọi là “Vô Khổ, Tập, Diệt, Đạo”... 

Vô Khổ, Tập, Diệt, Đạo là Đế của Đạo vậy... xin các vị hiểu cho... Cho đến Đế kia cũng mất luôn chức năng nâng đỡ của nó. 

֎Phật Đạo có còn chăng chỉ là: “Duy Tuệ Thị Nghiệp”... 

Lý Tứ nói tiếp: 

Thưa các bạn!... Gần nửa tháng, chúng ta chia sẻ nhiều với nhau về ý nghĩa của Tứ Đế, và cũng đủ thời gian để nghiền ngẫm hai bài kinh. Có thể nói, hai bài kinh mà tôi giới thiệu đến các bạn là lời đúc kết thiết thực nhất về Tứ Đế, như lời Thế Tôn đã dạy: “Đây là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh”

Có nghĩa rằng, hãy biến những hiểu biết của mình thành hiện thực. Chúng ta không nên nói suông, chúng ta cũng không sống trên những lý luận, mà hãy sống bằng những gì cụ thể nhất của phạm hạnh... 

Để xác định một lần nữa thế nào là giải thoát bất động, tôi xin trình bày thiển ý của mình... Các bạn cố lắng nghe và ghi nhớ!... Hãy nghe cho kỹ và nắm vững những gì tôi nói!... Có nắm vững vấn đề khi thực hành mới đạt kết quả cao nhất... Các bạn!... 

  • Thế nào là giải thoát, thế nào là bất động? Cái gì cần giải thoát và cái gì sẽ bất động... Đây là những điều trọng đại, đây là hiểu biết cần có, đây là sự minh bạch tối thiểu... Một khi hiểu rõ, không nhầm lẫn, với quyết tâm của mình, nhất định người tu hành sẽ đạt được mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh... Bây giờ, tôi xin được trình bày vấn đề này: 

Giải thoát là gì? Thưa các bạn!... Theo quan niệm Phật Giáo, một chúng sanh khi xuất hiện ở cõi đời này là do kết quả của Vô Minh, Ái và Nghiệp làm nên... Khi bị vô minh trói cột, Phật đạo gọi đó là mê... Khi mê, trí tuệ của chúng sanh này bị mê lầm bao phủ, giống như người ta dùng tấm giấy màu đen bao phủ cái đèn, hay giống như một người mang cặp mắt kính màu đen... Do người này mang mắt kính màu đen nên những gì vị này thấy đều có màu đen... Vì thế vị này hiểu biết và diễn giải mọi thứ đã thấy đã biết trên ý nghĩa màu đen... 

Thì cũng vậy, khi trí tuệ của một chúng sanh đang bị màu đen vô minh bao phủ, chúng sanh này nhận thức tất cả thông qua lăng kính vô minh, gọi là sinh pháp, và sinh pháp trong ý nghĩa của vô minh gọi là pháp cấu... Pháp cấu sẽ cho ra một nguồn tâm cấu uế... pháp mê sẽ cho ra tâm mê... pháp không thật sẽ cho ra tâm hư vọng... Những thứ tâm này đều là kết quả của pháp kia, và hậu quả của nó là phiền não và sanh diệt... 

Tóm lại ta có thể hiểu: Trí tuệ bị cột trói bởi mê nên cho ra những nghĩ suy trong mê gọi là pháp cấu, và kết quả của nó là vị ấy sống trong một cái tâm hư vọng và chất chứa đầy phiền não sanh diệt... Giống như một người sống trong bóng tối, nghĩ suy hành động đều trong bóng tối và tâm hãi sợ những thứ không thật sẽ xuất hiện từ bóng tối... 

Để giúp chúng sanh dứt nỗi hãi sợ bởi những hiểu biết hư vọng kia, Phật giảng nói sự thật về nỗi hãi sợ đó, gọi là Giác... 

Giác là những gì giúp cho một chúng sanh đang mê hết mê... 

Nói chung đó là những gì của giáo pháp mà chúng ta đã biết... Nó chính là tri kiến về Phật pháp của các bạn... 

Sau khi có giác, vị chúng sanh này, giống như đã lột bỏ cái kính đeo mắt màu đen xuống, và mang lên mình cặp kính màu vàng... Với cặp mắt màu vàng, vị chúng sanh này thấy rõ mọi vật hơn... Và hiểu biết, diễn nói tất cả thông qua cái thấy màu vàng... Với lăng kính của giác, vị này tương đối thấy rõ mọi vật... Bây giờ cái biết của vị này là cái biết màu vàng, suy nghĩ và nhìn nhận vấn đề bằng hình ảnh màu vàng. Vị này hết hãi sợ... Vị này nghĩ suy, hiểu biết, nói năng... trong tư thế người không còn hãi sợ, gọi là pháp tịnh... Pháp tịnh sẽ cho ra nguồn tâm thanh tịnh... 

Cái thanh tịnh mà các vị đang sở hữu, đang cảm nhận được và đang yên ổn trong đó... nó là kết quả của Giác!... 

Các vị!... Khi mê, bị mê trói buộc... Bây giờ hết mê lại bị giác trói cột... Trí tuệ của các vị từ bỏ thứ cột trói này để bị một thứ khác cột trói. Tuy rằng cột trói bằng sợi giây giác có êm ái hơn, có thanh tịnh hơn, có ít phiền não hơn, tần suất sinh diệt của tâm không nhiều... nhưng dù gì thì trí tuệ của các vị vẫn đang bị cột trói... Mà đã bị cột trói, cho dù cột trói bằng thứ gì đi nữa, thì không thể gọi là giải thoát... 

Để trí tuệ của mình giải thoát hoàn toàn... Công việc trước mắt, công việc ngay bây giờ của các bạn là hãy cởi bỏ luôn sợi dây Giác đang nhẹ nhàng cột trói chính mình... Nói rằng nó nhẹ nhàng, nhưng nếu không biết bỏ xuống, thì nó lại là sợi dây cột trói các bạn vững chắc hơn bất kỳ sự cột trói nào trên đời... Vì rằng, người ta sẵn sàng từ bỏ một đồng xu vô minh, nhưng rất khó sẵn sàng từ bỏ một ký vàng giác ngộ... Giác nó quý như vàng ròng, nhưng nó cũng là xích xiềng cột chặt các vị không cho các vị thõng tay vào vùng giải thoát... 

Các bạn!... Giải thoát mà Phật nêu trong bài kinh chính là trí tuệ hoàn toàn giải thoát. Khi trí tuệ thảnh thơi hoàn toàn không bị cột trói cho dù mê hay giác... thì hiệu ứng tức thời của nó là cho bạn một nguồn tâm hoàn toàn bất động... một nguồn tâm hoàn toàn trong sáng... Trí không bị che chướng như mặt trời không bị mây che, tâm giống như quả đất đang được soi sáng bởi ánh sáng mặt trời... Mọi đen tối của bóng đêm hoàn toàn tan biến... Thì nhất định người có mắt và có trí sẽ thấy những gì cần thấy và thấy minh bạch bằng chính cái thấy của mình... 

Thấy như vậy, Phật giáo gọi là: “Tự giác thánh trí” hay “Thánh trí tự chứng”... Có nghĩa rằng, giác này là tự giác chứ chẳng phải tha giác... Tự giác là thấy rõ mà không thông qua bởi một sự trợ giúp nào hết... Tha giác là hiểu biết nhờ bởi một cái gì đó... Một người thấy rõ mà không thông qua sự trợ giúp của mê, không thông qua sự trợ giúp của giác... gọi là tự giác... Cái hiểu như vậy, được Phật đạo mệnh danh là cái hiểu bậc Thánh. Cái biết như vậy Phật đạo mệnh danh là cái biết bậc Thánh... Để miêu tả sự thấy biết trọn vẹn này, Phật gọi là: “Tự giác thánh trí”

Thưa các bằng hữu!... Mê như bệnh, giác như thuốc... Hết bệnh thì thuốc trở thành vô dụng... Mê cho ra tâm hư vọng, giác cho ra tâm thanh tịnh... Hết mê hết giác sẽ cho ra nguồn tâm bất động... 

- Giải thoát là nói đến trí này hoàn toàn không còn mê không còn giác... 

- Bất động là nói tâm này hoàn toàn không tịnh cũng chẳng bất tịnh... 

Vì thế, thông điệp cuối cùng Phật đưa ra cho mỗi chúng ta là để thành tựu tốt nhất phạm hạnh này, hãy tự giải quyết để có một trí giải thoát và một tâm bất động... “Bất cấu bất tịnh...” là hình ảnh kinh mô tả trí này vậy!... 

Giải thoát bất động, thưa các bạn!... Đây là những việc cần làm ngay bây giờ... Giải thoát bất động là thực chứng chứ không phải kiến giải... Giải thoát bất động là hiện thực của đời sống tu hành chứ không phải những lý luận hoặc nghĩ suy... Vì thế, điều cần nhất bây giờ là các bạn hãy ngồi xuống, hãy biến lời dạy của Thế Tôn thành hiện thực... Và với hiện thực này, các bạn sẽ có một sự thấy biết hoàn toàn độc lập gần giống với “Tự Nhiên Trí”... 

Bất động tâm là Phật tâm, giải thoát trí là Phật trí... Có hai món này là có hạt giống Vô Thượng Bồ Đề... Thành tựu mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh chính là thành tựu “Căn bản trí”... 

Thành tựu hai món này, người xưa gọi là thành tựu “Hai Vô Ngã”... Tên gọi thì có khác, nhưng thực chất vấn đề chỉ là một... Con đường trước mắt còn rất dài... Thành tựu phạm hạnh rồi mới thành tựu Phật hạnh... Giống như mảnh đất chưa được xử lý sạch sẽ rốt ráo, chưa hoàn toàn sạch mầm cỏ dại... thì công việc gieo trồng trên mảnh đất này cực kỳ khó khăn và không hiệu quả... 

Mảnh đất tâm cũng vậy... Một khi chưa hết cỏ dại vô minh, chưa sạch những lưu tồn độc hại của thuốc diệt cỏ giác... nhất định chính ngay mảnh đất này sẽ hủy diệt mọi thứ cây cối được trồng tỉa trên đó... 

Các bạn!... Chúng ta có thể kết thúc câu chuyện về Diệt Đế và Đạo Đế... Kết thúc câu chuyện về Bất Động và Giải Thoát bằng câu nói của Lục Tổ Huệ Năng mà tôi được đọc qua: 

“Tâm như đất, tánh như vua...

Đất còn vua ở, đất mất vua đi”. 

Tâm Bất Động chính là đất, Trí (tánh) Giải Thoát chính là vua... Tâm Bất Động thì Trí Giải Thoát sẽ tồn tại... Tâm loạn động thì trí bị cột trói là điều tự nhiên... 

Giải Thoát Bất Động chính là Đạo Đế. Đây là nơi chốn mà một vị thánh trong Phật giáo phải đến, và nó cũng chính là bước khởi đầu, là bàn đạp để người tu hành tiến sâu hơn trong Đạo...

(còn nữa) 

Tác Phẩm Lý Tứ

Đại Kinh THÍ DỤ LÕI CÂY

Quản trị viên 16.02.2022
TP.26. Đại Kinh THÍ DỤ LÕI CÂY

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ

Và đây xin giới thiệu đến các bạn: 

֍ Đại Kinh THÍ DỤ LÕI CÂY 

Kinh này được Thế Tôn thuyết giảng khi xảy ra sự kiện Devadatta phá hòa hợp Tăng, đem 500 vị Tỷ - kheo đi Gayàsisa, vì Thế Tôn không chấp nhận cho Devadatta lãnh đạo hội chúng Tỷ - kheo. 

Đức Phật dạy có năm hạng người xuất gia sống Phạm hạnh cùng một tâm nguyện giải thoát khỏi khổ đau, vượt ngoài sự chi phối của sanh già chết: 

- Hạng thứ nhất khi xuất gia vị ấy được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Do được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng, vị ấy hoan hỷ, tự mãn. Do được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng, vị ấy khen mình chê người: “Ta được lợi dưỡng danh vọng như vậy, còn các Tỷ - kheo khác ít được biết đến, ít biết có uy quyền”. Vị ấy vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này trở thành mê say tham đắm phóng dật. Do sống phóng dật, nên vị ấy bị đau khổ. Ví như một người muốn được lõi cây, cầu tìm cõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây đứng trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, bỏ qua vỏ ngoài, chặt cành lá, lấy chúng mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy bèn nói: “Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Và người này không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu.” Vị Tỷ - kheo ấy được gọi là vị nắm lấy cành lá của Phạm hạnh. 

- Hạng thứ hai là hạng phát tâm xuất gia được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này khen mình chê người. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu giới đức. Do thành tựu giới đức này, vị ấy khen mình chê người: “Ta là người trì giới theo thiện pháp. Các Tỷ - kheo khác phá giới theo ác pháp”. Do thành tựu giới đức này, vị ấy trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ. Ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây, trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn đứng thẳng có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, chặt vỏ ngoài, lấy chúng mang đi tưởng đó là lõi cây, một người có mắt thấy vậy bèn nói: “Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá, người này bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, chặt lấy vỏ ngoài, lấy chúng mang đi, tưởng đó là lõi cây. Và người này không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu.” Cũng vậy, ở đây vị Tỷ - kheo do thành tựu giới đức này, vị ấy trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật vị ấy bị đau khổ. Vị Tỷ - kheo ấy là vị đã nắm lấy vỏ ngoài của Phạm hạnh. Và do vậy, vị ấy đã dừng lại ở đây. 

- Hạng thứ ba là các vị xuất gia với mục đích thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết. Vị ấy xuất gia như vậy, không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, khen mình chê người. Vị này không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, trở thành mê say tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu giới đức, vị ấy hoan hỷ, nhưng không tự mãn. Do thành tựu giới đức này, vị ấy không khen mình chê người, Do thành tựu giới đức này, vị ấy không trở thành mê say, tham đắm phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu Thiền định. Do thành tựu Thiền định này, vị ấy hoan hỷ tự mãn. Do thành tựu thiền định này vị ấy khen mình chê người: “Ta có Thiền định nhất tâm. Các vị Tỷ - kheo khác không thiền định, tâm bị phân tán”. Do thành tựu Thiền định này vị ấy trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ. 

Ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây, trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn đứng thẳng có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, chặt vỏ trong, lấy chúng mang đi, tưởng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy bèn nói: “Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Người này bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, chặt lấy vỏ trong, lấy chúng mang đi, tưởng đó là lõi cây. Và người này không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu.” Như vậy vị ấy được gọi là vị Tỷ - kheo đã nắm giữ vỏ trong của Phạm hạnh, và do vậy vị ấy đã dừng lại ở đây. 

- Hạng thứ tư là hạng xuất gia với mục đích thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết. Vị ấy xuất gia như vậy được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này mà hoan hỷ tự mãn. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này mà khen mình chê người. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này mà trở thành mê say tham đắm phóng dật. Do sống không phóng dật vị ấy thành tựu giới đức. Do thành tựu giới đức vị ấy hoan hỷ, nhưng không tự mãn. Vị ấy không vì thành tựu giới đức này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu Thiền định. 

Do vị ấy thành tựu Thiền định nên hoan hỷ, nhưng không tự mãn. Vị ấy không vì thành tựu Thiền định này, khen mình chê người. Vị ấy không vì thành tựu Thiền định này trở thành mê say tham đắm phóng dật. Do không phóng dật vị ấy thành tựu tri kiến. Vị ấy vì tri kiến này trở nên hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy do tri kiến này, khen mình, chê người: “Ta sống, thấy và biết. Các Tỷ - kheo khác sống, không thấy và không biết”. Vị ấy, do tri kiến này, trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật vị ấy bị đau khổ. 

Ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, chặt giác cây mang đi, tưởng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy bèn nói: “Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, chặt giác cây và mang đi, tưởng đó là lõi cây. Và người ấy không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu”. 

Như vậy vị này được gọi là Tỷ - kheo đã nắm giữ giác cây của Phạm hạnh. Và do vậy, vị ấy đã dừng lại ở đây. 

- Hạng thứ năm là hạng xuất gia với lòng tin: “Ta bị chìm đắm trong vòng sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt”. Vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này khen mình, chê người. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu giới đức. Do thành tựu giới đức, vị ấy hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không vì thành tựu giới đức này khen mình, chê người. Vị ấy không vì thành tựu giới đức này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu Thiền định. Vị ấy do thành tựu Thiền định này, hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không do thành tựu Thiền định này khen mình, chê người. Vị ấy không do thành tựu Thiền định này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu tri kiến. Do thành tựu tri kiến này, vị ấy hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không vì thành tựu tri kiến này khen mình, chê người. Vị ấy không vì thành tựu tri kiến này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu phi thời giải thoát. 

Ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy chặt lõi cây, mang đi và biết đó là lõi cây. Một người có mắt thấy như vậy, có thể nói: “Người này biết lõi cây, biết giác cây, biết vỏ trong, biết vỏ ngoài, biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy chặt lõi cây, mang đi và tự biết đó là lõi cây. Và người ấy đạt được mục đích mà lõi cây có thể thực hiện”. Tâm giải thoát bất động chính là mục đích của Phạm hạnh, là lõi cây, là mục tiêu cuối cùng của Phạm hạnh. 

  • “Phi thời giải thoát”: Có nghĩa là giải thoát tuyệt đối. Devadatta chỉ nghĩ đến danh vọng lợi dưỡng nên muốn đức Phật nhường lại cho địa vị lãnh đạo hội chúng Tỷ - kheo. Và khi đức Phật từ chối, nên phá hòa hợp Tăng, lôi kéo 500 vị Tỷ - kheo cùng đi đến Gayàsesa với mình. 

Như vậy, Phạm hạnh này không phải vì lợi ích thành tựu lợi dưỡng, danh vọng, không phải vì lợi ích thành tựu giới đức, không phải vì lợi ích thành tựu Thiền định, không phải vì lợi ích thành tựu tri kiến. Chính tâm giải thoát bất động này là mục tiêu của Phạm hạnh. Đức Phật khuyên các Tỷ - kheo không nên dừng lại ở các quả vị trung gian vì đây chưa phải là mục đích cứu cánh của Phạm hạnh. 

Các bạn!... Các bạn hãy nghiền ngẫm tư duy hai bài kinh trên, nó sẽ giúp các bạn tìm được cho mình “lõi cây đích thực”. Có lõi cây mới có cái tượng... Bài kinh này có thể coi là tiêu biểu cho những gì của giáo pháp cơ bản... Nó sẽ giúp bạn định hướng cho mình, cho người...

(còn nữa)

Tác Phẩm Lý Tứ

Tiểu Kinh THÍ DỤ LÕI CÂY

Quản trị viên 16.02.2022
TP.25. Tiểu Kinh THÍ DỤ LÕI CÂY

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ

Xin giới thiệu đến các bạn: 

֍ Tiểu Kinh THÍ DỤ LÕI CÂY 

Như vầy tôi nghe: 

Một thời Thế Tôn trú tại Savathi (Xá- vệ), Jetavana (Kỳ- đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Rồi Bà-la-môn Pingalakoccha đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến nói lên với Thế Tôn những lời hỏi thăm, chúc tụng xã giao, rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Pingalakoccha bạch Thế Tôn: 

– Tôn Giả Gotama, có những Sa-môn, Bà-la-môn này là vị Hội chủ, vị Giáo trưởng, vị Sư trưởng Giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khi Tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, như Purana Kassapa, Makkhali Gosala, Ajita Kesakambali, Pakudha Kaccayana, Sanjaya Belatthiputta, Nigantha Nataputta, tất cả những vị này tự xưng là nhứt thiết trí hay tất cả không phải là nhứt thiết trí, hay một số là nhứt thiết trí và một số không phải nhứt thiết trí? 

– Thôi vừa rồi, này Bà-la-môn, hãy dừng lại ở đây: “Tất cả những vị này tự xưng là nhứt thiết trí hay tất cả không phải là nhứt thiết trí? Hay một số là nhứt thiết trí và một số không phải nhứt thiết trí?” Này Bà-la-môn, Ta sẽ thuyết pháp cho Ông, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng. 

– Thưa vâng, Tôn Giả. 

Bà-la-môn Pingalakoccha vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau: 

– Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, bỏ qua vỏ ngoài, chặt cành lá, lấy chúng mang đi và tưởng rằng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy bèn nói: “Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng có lõi cây, người này bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, bỏ qua vỏ ngoài, chặt cành lá lấy chúng mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Và người này không đạt mục đích mà lõi cây có thể thành tựu”. Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, chặt vỏ ngoài, lấy chúng mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy bèn nói: “Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người này bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, chặt vỏ ngoài, lấy chúng mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Và người này không đạt mục đích mà lõi cây có thể thành tựu”. 

Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, chặt vỏ trong, lấy chúng mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy bèn nói: “Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người này bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, chặt vỏ trong mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Vàngười này không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu”. 

Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, chặt giác cây mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy bèn nói: “Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người này bỏ qua lõi cây, chặt giác cây mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Và người này không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu”. 

Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn đứng thẳng, có lõi cây, người ấy chặt lõi cây, mang đi và biết rằng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy, có thể nói: “Người này biết lõi cây, biết giác cây, biết vỏ trong, biết vỏ ngoài, biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy chặt lõi cây, mang đi và biết rằng đó là lõi cây. Và người này đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu”. 

Cũng vậy, này Bà-la-môn, ở đây, có người do lòng tin xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình: “Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt”. Vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Do lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, vị ấy hoan hỷ, tự mãn. Do lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, vị ấy khen mình, chê người: “Ta được lợi dưỡng như vậy, được danh vọng như vậy, còn các Tỷ - kheo khác ít được biết đến, ít có uy quyền”. Và vị ấy không phát khởi lòng ao ước và không cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn những lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. 

Vị ấy trở thành biếng nhác và thụ động. Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, bỏ qua vỏ ngoài, chặt cành lá, lấy chúng mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Và người ấy sẽ không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu. Này Bà-la-môn, Ta nói rằng: Người này giống như ví dụ ấy. 

Nhưng ở đây, này Bà-la-môn, có người vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt”. Rồi vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, khen mình, chê người. Và vị ấy phát khởi lòng ao ước và cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn những lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. 

Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu giới đức. Vì thành tựu giới đức này, vị ấy hoan hỷ, tự mãn. Vì thành tựu giới đức này, vị ấy khen mình, chê người: “Ta trì giới, theo thiện pháp. Các Tỷ - kheo khác phá giới, theo ác pháp”. Và vị ấy không phát khởi lòng ao ước và không cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn giới đức. 

Vị ấy trở thành biếng nhác và thụ động. Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, chặt lấy vỏ ngoài, lấy chúng mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Và người này sẽ không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu. Này Bà-la-môn, Ta nói rằng, người này giống như ví dụ ấy. 

Nhưng ở đây, này Bà-la-môn, có người vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt”. Rồi vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy, không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, khen mình, chê người. Và vị ấy phát khởi lòng ao ước và cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn những lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu giới đức. Vì thành tựu giới đức này, vị ấy hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không vì thành tựu giới đức này, khen mình, chê người. Và vị ấy phát khởi lòng ao ước và cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn giới đức. 

Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu Thiền định. Do thành tựu Thiền định này, vị ấy hoan hỷ, tự mãn. Do thành tựu Thiền định này, vị ấy khen mình, chê người: “Ta có Thiền định, nhứt tâm. Các Tỷ - kheo khác không có Thiền định, tâm bị phân tán”. Và vị ấy không phát khởi lòng ao ước và không cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn sự thành tựu Thiền định. 

Vị ấy trở thành biếng nhác và thụ động. Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, chặt vỏ trong, lấy vỏ trong mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Và người này sẽ không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu. Này Bà-la-môn, Ta nói rằng, người này giống như ví dụ ấy. 

Nhưng ở đây, này Bà-la-môn, có người vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt”. Rồi vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy, không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy, không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, khen mình, chê người. Và vị ấy phát khởi lòng ao ước và cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn những lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu giới đức. Do thành tựu giới đức này, vị ấy hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không do thành tựu giới đức này, khen mình, chê người. Vị ấy phát khởi lòng ao ước và tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn sự thành tựu giới đức. 

Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu Thiền định. Vì thành tựu Thiền định này, vị ấy hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không do thành tựu Thiền định này khen mình, chê người. Vị ấy phát khởi lòng ao ước và cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn sự thành tựu Thiền định. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu tri kiến. Vị ấy, do tri kiến này, hoan hỷ tự mãn. Vị ấy, do tri kiến này, khen mình, chê người: “Ta sống, thấy và biết. Các Tỷ - kheo khác sống không thấy và không biết”. Và vị ấy không phát khởi lòng ao ước và không cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến. 

Vị ấy trở thành biếng nhác và thụ động. Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, chặt giác cây mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Và người này sẽ không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu. Này Bà-la-môn, Ta nói rằng người này giống ví dụ ấy. 

Nhưng ở đây, này Bà-la-môn, có người vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt”. Do vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, khen mình, chê người. Và vị ấy phát khởi lòng ao ước và cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn những lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu giới đức. Do thành tựu giới đức này, vị ấy hoan hỷ nhưng không tự mãn. 

Vị ấy không do thành tựu giới đức này, khen mình, chê người. Và vị ấy phát khởi lòng ao ước và cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn sự thành tựu giới đức. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu Thiền định. Do thành tựu Thiền định, vị ấy hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không do thành tựu Thiền định, khen mình, chê người. Vị ấy phát khởi lòng ao ước và tinh tấn, chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn sự thành tựu Thiền định. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu tri kiến. Vị ấy do tri kiến này hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không do tri kiến này, khen mình, chê người. Vị ấy phát khởi lòng ao ước, cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến. 

Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Và này Bàla-môn, những pháp gì cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến? Ở đây, này Bà-la-môn, Tỷ - kheo ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc, do ly dục sanh, có tầm có tứ. Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến. Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ - kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh, nhất tâm. Này Bàla-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến. Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ - kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến. Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ - kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến. 

Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ - kheo vượt lên mọi sắc tưởng, diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, Tỷ - kheo nghĩ rằng: “Hư không là vô biên”, chứng và trú Không vô biên xứ. Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến. 

Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ - kheo vượt lên mọi Không vô biên xứ, nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, chứng và trú Thức vô biên xứ. Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến. 

Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ - kheo vượt lên mọi Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: “Không có vật gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ. Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến. 

Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ - kheo vượt mọi Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng Phi phi tưởng xứ. Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến. 

Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ - kheo vượt lên mọi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng (định), sau khi thấy với trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn trừ. Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến. Này Bà-lamôn, các pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến. 

Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ - kheo vượt lên mọi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng (định), sau khi thấy với trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn trừ. Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến. Này Bà-lamôn, các pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến. 

Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy chặt lõi cây, lấy và mang đi và tự biết đó là lõi cây. Và người ấy đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu. Này Bà-la-môn, Ta nói rằng, người này giống như ví dụ ấy. 

Như vậy, này Bà-la-môn, phạm hạnh này không phải vì lợi ích, lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng, không phải vì lợi ích thành tựu giới đức, không phải vì lợi ích thành tựu Thiền định, không phải vì lợi ích tri kiến. Và này Bà-la-môn, tâm giải thoát bất động chính là mục đích của phạm hạnh này, là lõi cây của phạm hạnh, là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh. 

Khi nghe nói vậy, Bà-la-môn Pingalakoccha bạch Thế Tôn: 

– Thật vi diệu thay, Tôn Giả Gotama!... Thật vi diệu thay, Tôn Giả Gotama!... Tôn Giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh Pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày. Và nay con xin quy y Tôn Giả Gotama, quy y Pháp, quy y Tỷ - kheo Tăng. Mong Tôn Giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!... [1]

[1] Tiểu Kinh Thí Dụ Lõi Cây 
 

(còn nữa)

Tác Phẩm Lý Tứ

Câu Chuyện… Vào Lúc Canh Ba

Quản trị viên 16.02.2022
TP.24. Câu Chuyện… Vào Lúc Canh Ba

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ

Sáng ngày thứ bảy trên chiếc du thuyền, mọi người tề tựu tại phòng khánh tiết... Không đợi thập Như lên tiếng trước như thông lệ. Lý Tứ đứng dậy và nói lớn: 

Thưa các bằng hữu!... Sau mấy ngày các vị chiêm nghiệm nghĩa Tập và Diệt... Tôi không có ý định trình bày tiếp Tứ Đế... Nhưng một nhân duyên xảy ra... hôm nay, tôi lược kể duyên lành này. 

Đây là nhân duyên rất đặc biệt liên hệ đến Tứ Đế... Mong rằng sau câu chuyện ngắn, trong các vị, có thể có vị nào đó lãnh hội phần nào ý nghĩa của Đạo Đế... 

Thưa các vị!... Đêm hôm qua, vào lúc canh ba... Một Thiên Nhân của Đâu Suất vì mất chánh niệm, vị này không có Chánh Tư Duy nên đã thất niệm và bay đến chỗ của tôi...

Vị Thiên Nhân này với thân hình không sáng chói, ánh sáng trên thân vị này mờ tối... 

Gặp tôi, vị ấy lịch sự chào hỏi và câu chuyện sau đây xảy ra: 

Thưa Tôn Giả, vị Thiên ấy nói: 

Cõi Đâu Suất có thắng khí không? 

- Này Thiên Nhân!... Thắng khí thuộc về sắc!... 

Sau câu này Thiên Nhân đó lạc vào cõi sắc!... Sau một hồi ra đi, vị Thiên Nhân ấy quay trở lại chỗ tôi và hỏi: 

Tôi muốn biết Đâu Suất để trở về chỗ ở của mình... 

- Này Thiên Nhân!... Muốn biết thuộc về cõi dục!... 

Nghe câu này, vị chư Thiên này lại đi về cõi dục!... Vị Thiên Nhân một hồi ra đi, rồi trở lại hỏi tôi: 

Vậy Đâu Suất có thuộc Vô Sắc chăng? 

- Thiên Nhân!... Vô Sắc thuộc về Vô Minh!... 

Nghe đến đây, vị ấy mê mờ và ngồi yên!... Thưa Tôn Giả!... Thiên Nhân hỏi tôi: 

Tánh giác là thường, sao Tôn Giả dạy người tịch diệt cái đã giác? 

- Thưa Thiên Nhân!... Tịch diệt cái đã giác, Diệt Đế sẽ hiện, Diệt Đế đã hiện, Tánh giác sẽ hiện, Tánh giác hiện trí tuệ hiện... 

Trí tuệ và nghĩ suy khác chăng? 

- Trí tuệ là vô vi còn nghĩ suy thuộc về tạo tác... 

Xin Tôn Giả nói rõ… 

- Trí tuệ thuộc về Tánh giác, nghĩ suy thuộc về ý căn... Nếu thất niệm, sẽ thành ý thức!...

Ý và ý thức khác nhau thế nào? 

- Ý thanh tịnh cho ra Chánh Tư Duy, còn ý thức không thanh tịnh!... 

Giác và Tánh giác khác nhau chỗ nào? - Giác do huân tập nên phải tịch diệt, tịch diệt giác rốt ráo, Tánh giác hiện!... 

Thưa Tôn Giả!... Đâu Suất là như thế nào? 

- Đâu Suất thuộc về Đạo và Đâu Suất là nơi giữ Đạo!... 

Đạo do đâu mà thành? 

- Lấy Trí làm Đế mà thành!... 

Trí ấy ở đâu? 

- Trí ấy không thuộc ba cõi, chẳng rời ba cõi!... Như Pháp Giới mà thấu suốt!... 

Xin Tôn Giả nói rõ... 

- Pháp giới tự không nhiễm dục, không mê mờ sắc, không ám độn bởi vô minh!... 

Muốn đến đó phải làm sao? 

- Tịch diệt giác, vào Diệt Đế! Thấy Tánh giác!... 

Tánh giác như thế nào? 

- Tánh giác vô vi!... 

Vô vi như thế nào? 

- Tịch diệt hữu vi!... 

Có phải chăng thấy Tánh giác là thấy Đạo Đế? 

- Thấy Tánh giác là Chánh Kiến. Bây giờ Tánh giác là Đế, phát khởi Chánh Tư Duy để thấu suốt Đạo... Thấu suốt Đạo nên có Chánh ngữ... 

Có Đạo Đế sẽ về đâu? 

- Đạo Đế là con đường trở lại chỗ cũ của ông, thưa Thiên Nhân... 

Có phải Thường, Ngã, Lạc, Tịnh là thể của tánh giác? 

- Thường, Ngã, Lạc, Tịnh là Giác, Thiên Nhân hãy quên nó đi!... 

Cảm ơn Tôn Giả, tôi đã biết rồi!... 

- Thiên Nhân biết cái gì? Tôi biết nghĩa Đạo Đế!... Vị Thiên Nhân ấy nghe đến đây thân hình chói sáng trở lại và xin phép trở về chỗ cũ của mình… 

- Tạm biệt Thiên Nhân... Ông hãy làm những gì xét thấy cần thiết!... 

Thưa các bạn!... Mẩu đối thoại tôi vừa kể, xảy ra canh ba đêm nay... 

Sau mẩu đối thoại trên, vị Thiên Nhân ấy đã hiểu rõ Đạo Đế và thế nào là Chánh Tư Duy... 

Nhờ có Chánh Tư Duy mà Thiên Nhân ấy giữ được Đạo và không thối thất Đạo quả!... 

Các bạn!... Nhân duyên rất lành... Nhờ vị Thiên Nhân mất chánh niệm mà tôi có thể nói với các bạn câu chuyện trọng đại trên... 

Cảm ơn Thiên Nhân và câu chuyện vào canh ba đêm nay!... 

********************* 

Ngày thứ bảy sau khi nghe Lý Tứ kể câu chuyện canh ba, từ đó đến nay mọi người tập sống độc cư. Thỉnh thoảng họ mới gặp nhau tại phòng khánh tiết, nhưng chẳng ai nói với ai lời nào, lặng lẽ uống trà và lặng lẽ chiêm nghiệm. Tự thân từng người nghiền ngẫm ý nghĩa Diệt Đế và tập sống trong Đạo Đế... Chiếc du thuyền êm ả rẽ nước xuôi về phương Nam... Sáng nay mọi người lại gặp nhau... 

Như Tác lên tiếng trước: 

Thưa Lão Sư!... Mấy ngày nay, con sống trong Đạo Đế, thấm nhuần từng lời Lão Sư chỉ dạy... Đối với con thật tuyệt vời, những ngày hạnh phúc đã trải qua trong con... Một vài tập khí “kiến giải” sống dậy, nhưng nó giống như hạt sương trên đầu ngọn lá, chóng tan biến bởi ánh ban mai. Ánh sáng trí tuệ đã làm cho giọt sương tập khí tan vỡ... Cứ như thế, con dùng Chánh Tư Duy để hộ trì và lấy Bất Động Tâm làm nguồn sống... 

Thưa Lão Sư!... Nhưng rồi điều này lại khởi lên trong con: Phải chăng Tục Đế lấy vô minh làm đế, nên nói rằng phàm phu không đế... Thánh Đế lấy yểm ly làm đế của khổ, và giác là đế của tập, Niết Bàn xuất thế là đế của diệt, và trí là đế của đạo... Nơi chơn đế không có khổ, nhưng có giác là đế của tập. Như là đế của diệt, Lai là đế của đạo... Thiệt đế, có chơn mà không có đế... Vì thế chơn thật mới chính là đạo... 

Thưa Lão Sư!... Đồ đệ suy nghĩ như thế có đúng không, xin lão Sư chỉ dạy... Lý Tứ cười nói: 

- Như Tác!... Điều ông vừa nói cho dù có thật đúng thì lợi ích gì cho ông lúc này... Cái giác chưa quên thì hãy mau mau tịch diệt cái đã giác... Còn một chút kiến giải trong lúc này, chẳng khác gì “con thằn lằn mọc lại cái đuôi”. Hãy để nó vĩnh viễn rụng cái đuôi kiến giải... 

Thưa các vị!... Tôi từng nói với các vị: “Đạo Đế lấy Bất Động làm Đạo, lấy Trí tuệ làm Đế”. Trí này quan sát những tập khí xưa cũ, những kiến giải thừa sót, các thứ giác còn lưu tồn trong tiềm thức... nay khởi lên làm dao động nguồn tâm... Hãy chặt đứt nó đi... đừng thương tiếc... 

Hãy nhen nhúm ngọn lửa Vô Sanh thiêu đốt rừng rậm kiến văn giác tri... Một hữu tình bị lạc vào rừng rậm vô minh, rừng rậm vô minh chính là kiến văn giác tri... Thấy nghe hay biết luôn bủa vây trí tuệ, không cho trí tuệ hiện khởi, làm cho mảnh đất tâm đầy những cỏ dại giác tri... Và hữu tình kia bị lưu lạc trong đó... 

Hãy đốt lên đốm lửa vô sanh, giữ gìn nó trong tâm như người bán khai giữ lửa... 

Ngọn lửa vô sanh sẽ thiêu đốt khu rừng kiến văn giác tri, chừng nào cây cỏ kiến văn giác tri cháy hết thì ngọn lửa vô sanh sẽ tự tắt... gọi là “củi hết lửa tắt”... Diệt Đế là như vậy... 

Các bằng hữu!... Khi mảnh đất tâm hoàn toàn trong sạch, hạt giống giác không thể nảy mầm, chừng ấy bất động tâm sẽ hiện và trí tuệ phát khởi... Cây Giác Ngộ chỉ mọc ở mảnh đất không còn hạt mầm vô minh... Không bị che rợp bởi cành lá kiến giải... Hết lầm, cái thật mới hiện...

Kiến giải trong lúc này, chính là những cành lá che khuất ánh sáng trí tuệ... Xin các vị nhớ cho... Đây là lúc dùng tuệ này để tịch diệt nguồn tâm và tiến về bất động... Đừng thất niệm này các bạn!... Niệm đúng niệm sai đồng là niệm, khởi niệm chính là thất niệm... Nghĩ suy về niệm ấy là tà tư duy này các bạn... 

Các bạn!... Vì sao tôi nói nhiều về bất động? Bất động chính là nhà chư Phật, bất động chính là tâm chư Phật... “Vào nhà Như Lai” chính là vào nhà bất động... Tâm bất động như hồ nước trong đứng lặng... Hồ nước này khi thật sự trong và đứng lặng thì các tính chất của nó sẽ tự hiện. Nó có bốn tính chất, đó là Từ, Bi, Hỷ, Xả... Khi chưa trong sạch và bất động thì bốn tính chất này sẽ không hiện... Có vào nhà Phật mới có cơ may mặc áo Phật và ngồi tòa Phật... Đó là mặc áo kham nhẫn và ngồi tòa không pháp... 

Bất động chính là lõi cây, Trí Tuệ chính là Tuệ nhãn thấy rõ trong lõi cây này có tượng... Giống như nhà điêu khắc, nhìn thấy trong gốc cây kia có bức tượng... Thì cũng vậy, trong lõi cây bất động có hình tượng của Phật Tánh... Trong Phật Tánh có đầy đủ tính chất của nó là Tứ Vô Lượng Tâm... Khi bạn dùng tuệ nhãn thấy được điều này là lúc bạn phát hiện ra rằng lõi cây và bức tượng không phải là hai... Những gì che chướng làm cho bức tượng kia không hiện rõ, lập tức các bạn hãy đẽo bỏ nó đi. Đẽo đến khi nào bức tượng hoàn hảo... Tâm và tượng không hai, chính là Bình đẳng tâm... 

  • Vì sao gọi là “Bình đẳng tâm”? Vì tâm này và tâm Phật không hai không khác... Vì có so sánh nên nó là bình đẳng chứ không phải đẳng... 

Giai đoạn này giống như người học nghề điêu khắc quan sát thật kỹ một bức tượng mẫu... Vị này nhìn ngắm và học thuộc hình ảnh thực tế từ nơi bức tượng làm mẫu... Cho đến bao giờ, người học trò kia rời xa tượng mẫu, không còn nhìn thấy, không còn khởi các niệm nhớ nghĩ mà không thể quên hình dáng cũng như các đặc điểm về bức tượng. Nói khác đi bức tượng đã nhập vào tâm người đó và tâm người đó chính là bức tượng, thì coi như đã thành công một phần nhỏ trong quá trình học tập... 

Các bạn!... Những điều tôi vừa nói, chỉ là ví dụ về bất động tâm và bất động trí... Điều này các bạn phải khéo hiểu... 

Sau khi vị này thể nhập vào bất động và thấy rõ những gì cần thấy... Giai đoạn thứ hai, như người học điêu khắc tập nhìn bức tượng trong một khúc cây... Để thấy bức tượng ẩn khuất trong khúc cây, vị này phải không nhìn thấy những gì của một khúc cây đã che lấp bức tượng... Đó là vị này hướng về phía chúng sanh tập quan sát họ. Cái cần phải thấy lúc này, không phải thấy chúng sanh đó như thế nào, mà chính là nhìn thấy cái thanh tịnh bất động trong một hữu tình... Muốn thấy như vậy, người này phải không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, không thấy tướng nam, không thấy tướng nữ, không thấy dòng giống, không thấy xuất thân... Nói chung bốn tướng: 

Nhân, ngã, chúng sanh, thọ giả không hiện khởi... Vị tu hành này chỉ thấy cái thanh tịnh vắng lặng đang ẩn tàng trong sự chuyển động dưới cái được gọi là chúng sanh... Thấy như vậy, các bạn đang rời dần ý nghĩa Bình đẳng để tiến vào nghĩa Đẳng... 

  • Sao gọi là “Đẳng tâm”? Đẳng là sự thấy nào đó mà không thông qua so sánh... Vị này đưa đến kết luận: Những vị chúng sanh kia chính đang thanh tịnh mà không tự biết... 

Như người học điêu khắc thưa các bạn!... Bây giờ người tu hành đã nhìn ra sự thanh tịnh bất động đang hiện hữu trong một hữu tình. Vị ấy lại quán sát, cái gì che chướng thanh tịnh vắng lặng của chúng sanh kia... Vị ấy dùng tâm và trí bất động này quan sát đối tượng... Những gì hiện khởi làm dao động một chúng sanh sẽ hiện khởi trong tâm mình, như cái gương soi cảnh vật... 

Giống như một người lớn ăn cơm, trong khi đang ăn, một hạt sạn, một mảnh răng bể, một chút ớt, một hạt tiêu... lẫn lộn trong thức ăn. Vị này biết rất rõ nó là hạt sạn, nó là mảnh răng, nó là miếng ớt, nó là hạt tiêu... và lập tức lừa ra ngay khỏi miệng... 

Thông qua bất động tâm của mình để phát hiện ra động tâm của người... Như thế là bạn đã chuẩn bị vào giai đoạn mới của tu hành gọi là “Vô đẳng đẳng”. 

  • “Vô đẳng đẳng” chính là sự thấu suốt cực kỳ chính xác của Bát Nhã Trí... 

  • “Bát Nhã Trí” là công cụ tốt nhất để giúp cho một hữu tình từ lăng xăng dao động trở về với thanh tịnh bất động bản nhiên... 

Ngôn thuyết từ vị này phát ra người kia tiếp nhận trọn vẹn... Nó là thứ thần chú giúp người thoát mê... Nó là Vô thượng chú. Nó là Vô đẳng đẳng chú... 

Muốn học được Bát Nhã Trí, hay học Vô Thượng Trí... Vị này phải kinh qua bất động, phải kinh qua vô sanh, phải có một nguồn tâm vắng lặng không hai pháp... Điều này được nói rõ trong kinh Bát Nhã... Kinh dạy rằng: “Người học trí này phải trụ nơi vô sanh, không hai, Bất Động”. 

Các Bạn!... Bát Nhã Trí chính là nhân của Tự Nhiên Trí... Bát Nhã Trí chính là nhân của Phật Trí... Kinh dạy: “Như Lai do Bát Nhã huân...” là ý nghĩa này... Chư Phật ba đời thành tựu Phật Trí và đủ mười danh hiệu chính từ nền tảng này... 

Đủ mười danh hiệu như Thế Tôn gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng Tâm... Vì Vô Thượng Chánh Đẳng Tâm nên mới có danh hiệu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác... 

  • Bốn thứ tâm: Bình đẳng tâm, Đẳng tâm, Vô đẳng đẳng tâm Vô thượng chánh đẳng tâm... là bốn giai đoạn phải trải qua của một Phật Tử... 

Nó bắt nguồn từ Bất Động Tâm... Bất Động Tâm và Bất Động Trí chính là bước khởi đầu, là nền móng, là cơ sở tốt nhất để hoàn thành Đạo Đế... Phật Đạo chính là Đạo Đế... Bốn thứ tâm đã nói chính là bốn tầng làm nên tòa nhà Phật Đạo... 

Các bạn!... Các bạn còn nhớ bài kinh Đại Thí Dụ Lõi Cây... Bài kinh này, có thể coi như một tiêu biểu của người thợ điêu khắc đem từ rừng về một lõi cây để khắc tượng... Các bạn tư duy từng phần của bài kinh này sẽ thấy được những gì cần giác cho mình và cho người... Sau khi có được lõi cây, lõi cây đã ở trước mặt. Bây giờ công việc còn lại là nhìn ngắm, đánh giá và ra công đục đẽo những gì che chướng bức tượng đang ẩn tàng bởi những phần thừa của khúc cây... 

Các bạn!... Giáo pháp căn bản hay giác chính là chuẩn mực, là công thức, là nguyên tắc của người thợ điêu khắc đi tìm lõi cây... Đây chính là cái chung trong Phật Đạo... 

Mong rằng các bạn hãy tự đánh giá chính mình, tự thẩm định chính mình... Coi lại chính mình đã thật sự đạt được lõi cây bất động hay chưa... Nếu chưa, hãy nỗ lực để thành tựu bất động... Khi nào thật sự ở trong đó, thật sự ngập chìm trong bất động, thật sự ở trong Đạo Đế... các bạn sẽ thấy tòa nhà Như Lai như thế nào, và chắc rằng các bạn sẽ tự xây dựng tòa nhà này nơi một hữu tình khác... 

Xây dựng tòa nhà trên mảnh đất bán khai của một hữu tình khác chính là Từ Bi... Bất Động Tâm là nhân và Vô Duyên Từ là quả... 

Các Bạn!... Đây là hai bản kinh Tiểu Thí Dụ Lõi Cây và Đại Thí Dụ Lõi Cây. Hy vọng hai bài kinh này sẽ giúp các bạn thật nhiều trên con đường tiến về bất động giải thoát.

Cũng chính nó là giềng mối, là định hướng để các bạn tư duy phương cách “đem một khúc lõi cây từ rừng về...” và sau đó... “Tạc tượng”...

(còn nữa) 

Tác Phẩm Lý Tứ

Tứ Diệu Đế. Bất Nhị. Kiến Trù Lâm. Kiến Hoang Vu. Tướng Thức.

Quản trị viên 16.02.2022
Tứ Diệu Đế. Bất Nhị. Kiến Trù Lâm. Kiến Hoang Vu. Tướng Thức.

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ

Lý Tứ lại tiếp: 

Thưa các vị!... “Tập và Diệt”, “Giác và Ngộ”... tính chất của nó cực kỳ quan trọng trong Phật Đạo... Người tu hành chưa thấu suốt những nghĩa này thì cứ luẩn quẩn trong vòng sanh diệt của hành tâm... Điều này kinh Lăng Già có đề cập đến khi ngài Đại Huệ hỏi Phật về thức có mấy thứ sanh trụ diệt... Phật chỉ ra rằng, thức có hai thứ sinh trụ diệt. Đó là Tướng sanh trụ diệt và Lưu Chú sanh trụ diệt, không thể suy nghĩ biết được... 

Các vị!... Một hữu tình, khi xuất hiện ở thế giới này, bị bao vây bởi những hư vọng... Rừng rậm bủa vây này Phật gọi là Kiến Trù Lâm... 

Giác chính là loại thuốc khai hoang cực mạnh tiêu diệt và xóa sạch dấu vết của cái thấy rừng rậm này... Nhưng mà này các bằng hữu!... Không thấy khu rừng nữa thì người ta thấy điều gì? 

Các bạn!... Một khi không còn thấy khu rừng nữa, thì người ta sẽ không thấy gì hết, không thấy gì hết gọi là Kiến Hoang Vu... Không thấy gì hết chứ không phải không thấy... 

Bảo rằng không thấy gì hết là vì đối tượng để thấy đã không còn nữa, chứ không phải cái bị thấy đã tiêu mất. Có nghĩa không thấy vật, lại thấy cái không vật, tức là chỉ mất đi cái làm ra hư vọng chứ tính chất hư vọng vẫn còn đó... 

Vì thế không thấy gì hết cũng là một loại thấy vậy, có khác chăng là khác cái bị thấy... 

Giống như người nhắm mắt vẫn thấy màu đen... như người đi trong sa mạc không thấy cây cỏ nhà cửa nhưng vẫn còn thấy sự hoang vắng của sa mạc... Khi người kia bảo rằng không thấy gì, lập tức “pháp không thấy” hiện hữu, “pháp không thấy” hiện lên, “tâm không có gì” lập tức sanh... “Tâm không có gì” này cũng là một thứ tâm, nó đang giong ruổi trong cái không có, chứ không phải không tâm, không phải không tâm nên nó không được gọi là bổn tâm... 

  • Tâm “không có gì” là thứ tâm gì? Đó là thứ tâm u tịch, một loại hoang vu tâm được sản sanh bởi hoang vu quan niệm... Để phê phán sự u tịch này, kinh có nói: “Nắm giữ tướng u nhàn cũng là bóng dáng của tiền trần”

Các vị!... Cái u nhàn kia, chính là tướng của thức đã diệt, nhưng Lưu Chú Thức chưa diệt. Lưu Chú Thức chưa diệt mầm sanh diệt hãy còn... Hiện tình sau sẽ xảy ra cho một vị dùng giác quét sạch các tướng, như người ta dùng thuốc khai hoang làm sạch môi trường... Khi vị này đã trừ sạch các tướng, vị này thường ở trong giác không nắm giữ các tướng, thức tướng không thể khởi, như cây cối không thể mọc... Nhưng sau cơn mưa, hoặc thời gian lâu hơn… cỏ dại sẽ mọc... 

Các tướng bên ngoài không làm ngại, cảnh duyên không thể xâm hại. Nhưng nếu vị này buông lơi thiền định, hoặc mất cảnh giác thì lập tức bất giác sanh khởi, bất giác sanh khởi vọng niệm lại sanh... 

  • Vì sao đã trừ sạch tướng thức mà vọng niệm lại sanh? Xin thưa!... Chỉ vì tướng diệt nhưng Lưu Chú chưa diệt... Nếu vị này cảnh giác, quở trách vọng niệm, thì vọng niệm lại mất... Và cứ thế, khi vị này không ở trong giác, ngay lập tức Lưu Chú lại hiện... 

Để trải qua khó khăn này, người tu hành buộc phải nhứt tâm, không dám buông rời niệm giác... Nhờ nhất tâm nên hiện nghiệp dừng, hiện nghiệp dừng nghiệp mê dừng... Nhưng lại bị cột trói bởi nghiệp Giác... 

Ta có thể hiểu, vị tu hành này thoát khỏi hai khu rừng trước mặt đó là Kiến Trù Lâm và Kiến Hoang Vu nhưng lại đi vào một khu rừng khác... đó là Giác Lâm...

Điều này giống như việc gì? Nó giống như khu rừng bị thuốc khai hoang tàn phá, cây cối không tồn tại, nhưng khu vực đó hãy còn lưu tồn độc tố của thuốc khai hoang và mầm cây cỏ trong đất chưa mất... 

Thì cũng vậy, cái thấy hư ảo đã mất, thay vào đó xuất hiện một loại thấy khác, cái thấy khác này chính là cái thấy của Giác... Giác tuy thắng diệu, nhưng nếu để nó cột trói thì trước hiện tình này, giác trở thành một thứ trói buộc... Điều này giống như con chó thoát khỏi sợi xích bằng sắt trói cột, thay vào đó, nó bị cột trói bằng sợi dây xích làm bằng vàng... Hai sợi dây cột trói khác nhau được thay thế, nhưng rốt cùng con chó vẫn không thể rời cây trụ đã cột mình... 

Thưa các bạn!... Giác là liều thuốc tốt để chữa trị con mắt Tập bị bệnh... 

Khi mắt Tập hết bệnh, người bệnh bây giờ phải dứt luôn thứ thuốc giác kia... Nếu không từ bỏ nó, vẫn tiếp tục uống, vẫn tiếp tục thoa, vẫn tiếp tục xức... thì nguy cơ một bệnh mới về mắt sẽ xuất hiện là điều khó tránh khỏi... 

Bệnh Tập đã hết, thuốc Giác cũng tiêu... Bây giờ người có trí không phải loay hoay đi tìm thuốc nữa, mà hãy tìm ngọn đèn và đốt ngọn đèn lên. 

Với con mắt đã hết bệnh, không còn mù lòa và ngọn đèn đủ sáng... nhất định vị này sẽ thấy biết và cảm nhận rất rõ về màu sắc. Hãy đốt đèn lên để thấy rõ màu sắc là gì... chứ không phải ngồi đó mà cố suy nghĩ màu sắc là như thế nào khi vẫn còn ở trong bóng tối... Thấy Diệt hay chứng Diệt cũng như vậy, thưa các bạn!... Như vậy, có thể hiểu: 

  • “Giác là thuốc của Tập, Ngộ là đèn của Diệt”. Thuốc Giác trừ bệnh Tập, đèn Ngộ soi rõ Diệt... Với con mắt sáng, với ngọn đèn trước mặt... người có mắt, có trí sẽ nhìn thấy màu sắc đích thực ngay trước mắt mình. 

Đó là thấy “bản lai tâm này vô sanh, bản lai tâm này bất động”. Dùng Ngộ để thấy Diệt là thấy như thế... 

Thưa các bạn!... Diệt Đế chính là sự Bất Động bản nhiên của nguồn tâm. Bất Động bản nhiên này phải được nhìn thấy bằng chính sức Ngộ, tức là một cái thấy đặc biệt nào đó của con mắt sáng chứ không phải cái thấy cái biết của cảm nhận hoặc suy luận... Việc này, kinh gọi là thân chứng, hay tự kiến... Kinh cũng nói rằng: “Dứt Tập, chứng Diệt”... chứ chưa bao giờ kinh nói “Dứt Tập, hiểu Diệt”

Hai chữ Tri Kiến, có thể được dùng trong hoàn cảnh này...

  • Tri kiến tức là cái biết của người thấy rõ, chứ không phải cái biết của nghe nói hay suy luận... Giống như tôi thấy cái ly nước trước mặt, chứ không phải tôi biết có ly nước trước mặt vì nghe ai đó nói... 

Các bạn!... Vì sao tôi lại phải đề cập đến Tập Đế và Diệt Đế nhiều như vậy? Vì bởi tính chất quan trọng của nó trong đời sống tu hành... Cái Giác rất khó quên, cái Giác luôn là chiếc nôi bảo vệche chở cho người tu hành nên rất khó từ bỏ nó... Người tu hành thường bị sức Giác làm ngại, giống như người kia bị mạt vàng ghim vào con mắt... 

Người chưa ra khỏi trói buộc của Giác, sự tình này sẽ xảy ra: Đó là tuyên nói về sợi dây, họ sẽ mô tả con rắn... Cái này kinh gọi là bệnh Tứ Cú và bệnh Bốn Tướng... Sức Giác chưa quên là như thế... 

Vì sao điều này xảy ra? Chỉ vì người này không dám rời khỏi chiếc nôi Giác. Khi bảo rằng ông hãy từ bỏ những gì đã Giác để được thảnh thơi, thì y như rằng vị tu hành lại thu mình trong chiếc nôi Giác mà lầm tưởng mình đã ra khỏi... Như con đà điểu vùi đầu trong cát để mong rằng kẻ thù không trông thấy!... Đi tìm sự an ổn như con đà điểu là một ngộ nhận rất lớn trong phật đạo... Các bạn!... 

  • Muốn thấy được Diệt Đế... muốn thấy được Bất Động Tâm... người tu hành phải làm gì? Hãy tức thì rời bỏ chính mình, rời bỏ những gì đã Giác... Hãy từ bỏ “cái ngã” và “cái thấy của ngã” đã và đang ở ngay trong bạn, nó theo bạn như bóng với hình... 

Các bạn!... Hãy buông Giác xuống, như người chiến binh rời bỏ vũ khí, khi chiến chinh đã đi qua... không được thương tiếc... Các bạn không thể là một chiến binh cầm mãi vũ khí khi trước mặt đã hết kẻ thù... 

Các bạn!... Kẻ thù Tập đã buông súng đầu hàng bởi vũ khí Giác... Như chiến tranh đã đi qua, hãy làm lại một cuộc đời mới sau chiến thắng... Đó là xây dựng những gì mà thanh bình cho phép... Căn nhà ngũ ấm đã đổ sập, căn nhà ba cõi đã không còn nữa. Nơi ẩn náu cuối cùng của quân thù đã bị phá tan…Ngay bây giờ kẻ trí hãy quay lưng với trận địa, đừng thương tiếc chiến trường, đừng nắm giữ những chiến công của quá khứ... 

Các bạn!... Chắc các bạn đã đọc kinh Duy Ma Cật rồi chứ... Vì sao những A La Hán là Thánh Đệ tử của Phật, người nào sau một lần gặp Duy Ma Cật và đối đáp, hầu hết những vị này đều công nhận những điều Duy Ma Cật nói là đúng, lời Duy Ma Cật là chân lý... Nhưng tại sao lại không dám gặp ông ta lần nữa, cho dù đến để thăm bệnh... và cho dù đó là “khẩu dụ của Thế Tôn”... 

Thưa các vị!... Không phải sự hèn yếu thể hiện trong lòng các vị Thánh, mà mọi người e sợ phải chấp nhận thực tế từ thứ chân lý mới này. Một khi chấp nhận những điều Duy Ma Cật đã nói, thì mặc nhiên từ bỏ những gì đã có... 

Họ không thể nhất thời từ bỏ chiếc nôi chân lý của Nhị Thừa đã nuôi lớn mình mà quay lưng đi nơi khác. Họ cố gìn giữ thứ chân lý đã trót cưu mang. Chấp nhận Duy Ma Cật là chấp nhận đánh đổ những yên bình có được do sự yểm ly của “một vị Thánh” mà họ đã từ bỏ tất cả mới thành tựu... 

Chấp nhận chân lý “bất nhị”, chân lý Nhị thừa “bỏ đây lấy kia...” sẽ bị đánh đổ. Đánh đổ này làm đời sống xáo trộn... Cái an lạc của Giác bị tước đoạt, các vị ấy không đành... Đây là cơ sở mà các vị Thánh thốt lên trước mặt Phật: “Bạch Thế Tôn!... Con không thể kham lãnh đến thăm vị Cư Sĩ ấy”

Các bạn!... Từ bỏ Kiến Trù Lâm là một bước rất khó, từ bỏ Kiến Hoang Vu lại càng khó và từ bỏ Giác Lâm thì vô cùng khó. 

Nhưng nếu những ai không đành lòng từ bỏ những thứ này, sẽ mãi mãi quanh quẩn trong khu rừng Tướng thức và Lưu Chú Thức... Như người anh hùng không dám từ bỏ chiếc mề đay vinh quang đang mang lủng lẳng trên cổ... Như người bệnh cùi nay đã hết cùi không dám từ bỏ hố than ngày trước... Các vị!... Không ai sống mãi với cái đã vinh danh... Nếu cứ đeo bám những gì đã có, thì một cuộc đời mới tốt đẹp hơn sẽ không thành tựu bởi bóng ma quá khứ!... 

Các bạn!... Bất Động hay Diệt Đế là một thứ tâm phải thấy bằng cái thấy... Muốn thấy bất động, phải rời cái thấy của Giác... Bất Động chính là Như... Chưa vào cảnh giới Như thì nghĩa Lai chân thật chẳng bao giờ hiện. Nếu có một sự xuất hiện nào đó các vị lầm tưởng là nghĩa Lai, thì nghĩa Lai này chẳng phải của hai chữ Như Lai... 

  • “Như như bất động”. Thưa các vị!... Đây là điểm đến nhất định các bạn phải đến, nếu muốn tiếp tục bước đi trên con đường Đạo Đế... 

********************

 Thưa các bằng hữu!... 

Đừng nhàm chán Tứ Đế, hãy đào sâu hơn nữa diệu lý tốt đẹp này, nhất định sẽ không làm bạn thất vọng. Cơ hội hiếm hoi trong cuộc đời đang chờ đón các bạn. Một khi thấu suốt nguyên lý bốn đế, và thân chứng về nó, các bạn sẽ có một đời sống an bình sau đó mới có thể làm lợi mình lợi người... 

⁎ Các bạn!... Tứ Đế chính là viên ngọc quý các bạn đang đi tìm, đừng quay lưng với nó, đừng bỏ rơi chân lý này... Các bạn hy sinh một đời, hy sinh tuổi thanh xuân và tất cả công danh sự nghiệp, như con kiến từ bỏ đĩa mật... Từ bỏ tất cả, chấp nhận đời sống tu hành để tìm kiếm thứ gì nào? Các bạn hãy tự hỏi lại chính mình, phải chăng chính đời sống khó khăn và nhiều đau khổ đã làm các bạn chán ngắt và muốn từ bỏ nó để đi tìm một chân lý nào đó ý vị hơn!... Cái các bạn đang tìm kiếm ở ngay trước mặt, đó là chân lý tối thượng Tứ Đế. 

Chân lý này chính chư Phật đã phát hiện ra, chư Phật đã tìm thấy và chân lý này là nền tảng làm nên tất cả các đạo an ổn trong Phật đạo... 

Các bạn!... Trước tôi đã nói đến Tướng thứcLưu Chú thức... bây giờ chúng ta tiếp tục mổ xẻ điều này. Vì sao phải mổ xẻ hai thứ này, thưa các bạn!... Vì hai thứ này làm ra cái gọi là điên đảo của một hữu tình... 

Tướng thức chính là tác nhân làm ra tướng đảo, và Lưu Chú thức làm ra bệnh hoang tưởng điên dại... Một hữu tình bị hai thứ này gọi là điên đảo!... 

  • Vì sao nói rằng Tướng thức cho ra một đảo tưởng? 

Thưa các vị!... Ngoại sắc tự nó thanh tịnh, tự nó không là sắc, nhưng vì hữu tình mê mờ trong cơn khát ái, như con nai khát nước, thấy sóng nắng tưởng nước... Sự đảo lộn kỳ khôi này chỉ vì con nai kia khát nước... Một hữu tình cũng như thế, khát ái trong tâm đã khởi tưởng và ngoại sắc trở thành có tướng, như con nai thấy sóng nắng lầm tưởng là nước và mải miết chạy theo đến chết, rồi cuối cùng không biết mình đã chết vì lý do gì... 

Nếu con nai biết đó là ánh nắng và dừng lại, thì thật tốt đẹp phải không các bạn!... 

  • Vì sao nói rằng Lưu Chú thức cho ra hoang tưởng điên dại? 

Thưa các vị!... Nơi bản nhiên thanh tịnh, đột nhiên bất giác khởi lên, nội sắc thành lập... Vị chúng sanh này ngồi lâu, sanh ra buồn chán, nghĩ rằng: “Ta là thế này, ta phải như thế này. Thế giới thế kia, ta phải như thế kia”. 

Giống như một người điên, đang đi trong thành phố lại nghĩ tưởng rằng mình đang là vị tướng tài ba thời Trung Cổ... Các vị vẫn thường thấy một người điên, đi giữa thành phố mà tay chân múa may, miệng gào thét ba quân tiến lên... Nếu người kia không điên thì cái hiện hữu trước mắt là thành phố an lành hay chiến trường thời Trung Cổ!... 

Trong pháp giới chư Phật, trong pháp giới thanh tịnh... tuyệt nhiên hoàn toàn vắng lặng... Nhất định ở đây không có hai món điên đảo này... Vì thế kinh có nói rằng: “Như Lai là như tánh thấy kia mà thấy, như tánh biết kia mà biết...” có nghĩa mọi thấy biết điên đảo không còn hiện khởi... Một khi điên đảo chấm dứt thì pháp giới tự nó thanh tịnh... 

Mà này, thưa các bằng hữu!... Làm sao thoát khỏi hai món điên đảo này, làm sao dừng Tướng thức và đoạn tuyệt hẳn Lưu Chú thức? Các bạn!... Đây là lý do vì sao tôi lại nói nhiều đến Tứ Đế và không ngừng nhắc đến Tập Đế và Diệt Đế... 

Bây giờ chúng ta quay trở lại câu nói từ đầu: “Giác là đế của Tập và Ngộ là Đế của Diệt”. 

  • Thế nào Giác là Đế của Tập? Như tôi đã nói, thuốc Giác chữa bệnh Tập... Nếu không có Giác, không biết lấy gì để điều trị lành cái thấy đảo lộn... Chữa cái thấy đảo lộn là chữa như thế nào? Chữa cái thấy đảo lộn là chữa ngay tại chủ thể sinh ra cái đảo lộn, tức trả các căn trở về với nguyên minh của nó. Cụ thể hơn, bắt nhãn căn làm đúng chức năng của nhãn căn, chứ không phải nhãn căn làm công việc của nhãn thức... Năm căn thân cũng đồng như vậy. Nếu làm được như vậy thì trong tự điển của chúng ta vĩnh viễn không còn cụm từ “Tiền Ngũ Thức...” mà chỉ thuần túy là ngũ căn... nói văn hoa là Thành Sở Tác Trí... Tóm lại Giác chính là công cụ hữu hiệu tiêu diệt Tướng Thức... 

  • Thế nào Ngộ là Đế của Diệt? Tướng thức đã diệt, nhưng Lưu Chú thức hãy còn âm thầm chảy trong lòng các bạn. Diệt Đế chính là công cụ hữu hiệu để đoạn trừ tận gốc Lưu Chú thức. Muốn làm được điều này, chỉ có cách duy nhất là bạn hãy đốt ngọn đèn Ngộ lên để thấy rõ Bất Động Tâm... Bất Động Tâm chính là kết quả của một thứ tâm Vô Sanh Pháp... 

Vô Sanh pháp hay Bất Động tâm gọi chung là Diệt Đế... Nó giống như một hồ nước tinh khiết, không bị gió cảnh thổi, cũng không bị các chấn động địa tầng làm chao đảo... Nó hoàn toàn Bất Động và trong sạch... Nó chính là hồ nước bát công đức của các cõi Phật... Bất động tâm chính là thứ tâm không còn hệ phược bởi ý căn. 

Ý căn không mê mờ nội pháp, người ta nói văn hoa là Diệu Quan Sát Trí... Ha ha!... 

Tâm và Trí bây giờ là hai món nhưng mà... bất nhị!... Cái này còn thì cái kia còn, cái này mất thì cái kia... tiêu!... 

Điều này khiến tôi nhớ lại Lục Tổ Huệ Năng có nói mấy câu thú vị mà thâm u. Đó là: “Tâm như đất, tánh như vua. Đất còn vua ở, đất mất vua đi”. 

Bất động tâm còn, thì trí tánh vô lậu còn, bất động tâm mất thì trí tánh... đi chỗ khác chơi... nhường chỗ cho bọn ác đảo điên làm giặc... Phàm phu mất đất nên chẳng có Pháp Vương!... 

Các bạn!... Bất Động tâm hay Diệt Đế chính là ngôi nhà Như Lai... Ngôi nhà này không có gì cả, có chăng ở đó chỉ có hương vị của bốn đức Từ Bi Hỷ Xả... 

Ở trong ngôi nhà này, người có trí âm thầm quan sát và thấy rằng: Chúng sanh vô trí kia, chỉ vì khát ái tham dục... mà đành đoạn xa lìa mái ấm này, như gã cùng tử từ bỏ cha mình là ông trưởng giả đi làm thuê làm mướn kiếm sống qua ngày... ham vui nơi nghèo đói... 

Bấy giờ người có trí, khởi tâm từ, đành lột chiếc áo cao quý xuống, bận chiếc áo hôi nhơ đồng sự với gã cùng tử, quyết dùng phương tiện dắt nó trở về mái nhà an ổn này... Vì thế mới nói rằng: “Một khi thấu suốt nguyên lý bốn đế, và thân chứng về nó, các bạn sẽ có một đời sống an bình sau đó mới có thể làm lợi mình lợi người”

Các bạn!... Các bạn đã đọc kinh Diệu Pháp Liên Hoa rồi chứ? Nếu đã đọc, các bạn sẽ thấy phẩm Pháp Sư, Đức Phật có nói rất rõ rằng: 

“Một Pháp Sư, phải hội đủ ba yếu tố, đó là:

Vào nhà Phật, mặc áo Phật và ngồi tòa Phật”. 

Vào nhà Phật chính là vào ngôi nhà ngoài bốn thứ Từ Bi Hỷ Xả chẳng thấy thêm món gì. 

Mặc áo Phật chính là thành tựu các Ba La Mật mới đủ sức kham nhẫn mà đồng sự với gã cùng tử. 

Ngồi tòa Phật chính là chiếc tòa rỗng không, không pháp. Chỉ có chiếc tòa này mới có thể phát sinh vô lượng pháp lành... 

Tứ Diệu Đế có rất nhiều tầng nghĩa... tầng nghĩa của thế gian, tầng nghĩa xuất thế gian, tầng nghĩa Nhất thừa và tầng nghĩa của chư Phật... 

Nếu vị nào đã đọc Hoa Nghiêm kinh thì chắc rằng sẽ không ngạc nhiên điều này khi nghe ngài Văn Thù Sư Lợi tuyên nói về bốn đế... Giống như bốn biển lớn trong thiên hạ, mỗi Đại hải có một nét đặc trưng của nó... tuy rằng đồng vị mặn, nhưng rất khác nhau về độ sâu và màu sắc... Thì Tứ Đế đối với mọi người ở giai đoạn này cũng như vậy. Trong chừng mực nào đó, lúc này cái chúng ta cần khảo sát về Tứ Đế là những gì thiết thân liên quan đời sống tu hành trong hiện tại... 

Nếu có duyên lành, chúng ta sẽ khảo sát những tầng nghĩa còn lại... Tầng nghĩa xuất thế đang chờ đón các bạn... Diệt Đế trong chừng mực này là xuất thế gian... Đạo Đế trong chừng mực này là Vô Lậu Trí... 

Có xuất thế mới nhập thế... Kinh dạy: “Bồ Tát xưa ở cõi Phật Vô Động thác sanh xuống cõi này...”, câu nói này chẳng phải vô cớ... Có xuất mới có nhập, có ra khỏi pháp giới chúng sanh mới có chuyện quay trở về quê cũ… 

Đừng hoang tưởng chuyện chưa đi mà đòi trở lại... Hãy thể nhập nghĩa Như, để rành rõ căn nhà chư Phật. Một khi thông thuộc “đường đi nước bước” mới có những hiểu biết nhất định; Lai dắt chúng sanh trở lại chốn an bình...

(còn nữa) 

Tác Phẩm Lý Tứ

Tứ Diệu Đế. Thế Gian Pháp. Xuất Thế Gian Pháp. Rốt Ráo Không

Quản trị viên 15.01.2022
Tứ Diệu Đế. Thế Gian Pháp. Xuất Thế Gian Pháp. Rốt Ráo Không

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ

Sau tuần trà... Như Tánh lên tiếng:

Thưa Lão Sư!... Thưa huynh đệ!... Sau khi nghe Lão Sư khai triển ý nghĩa Tứ Đế, trong lòng đồ đệ đứng lặng...

Nhưng những gì đã diễn ra, các cảnh giới vụt qua quá mau, nhường chỗ cho cái vắng lặng tuyệt đối... Bây giờ đồ đệ mới nghiệm ra, ý nghĩa văn tự mà Lão Sư đã đề cập. Tuy đồ đệ như con ong, chỉ hút cái tinh túy bất động... Nhưng về mặt từ ngữ và phân tích ý nghĩa thì đồ đệ cảm thấy còn có gì đó chưa thông... 

Xin Lão Sư một lần nữa cắt nghĩa cho đồ đệ hiểu: Thế nào là thế gian pháp, thế nào là xuất thế gian pháp, thế nào Giác là Đế của Tập, thế nào Ngộ là Đế của Diệt... và thế nào là rốt ráo Không? 

Lý Tứ nói: 

Các huynh đệ!... Đây là chuyện đương nhiên... Như con ong chỉ hút lấy tinh túy của hoa đó là mật, còn bông hoa thì để lại chẳng nên làm tổn thương... Nhưng thưa các huynh đệ!... Tuy hút lấy cái tinh túy, nhưng con ong kia cũng phải biết rõ hình tướng các loài hoa và hoa nào cho nhiều mật, cũng như con ong cần biết thời khắc hoa nở... Vì thế, sau khi hút cái tinh túy bất động, các vị cũng phải cần biết rõ ý nghĩa của ngữ ngôn văn tự, như con ong xác định các loài hoa...

Thưa các bằng hữu!... Bốn đế gồm: Khổ Đế, Tập Đế, Diệt Đế và Đạo Đế... Khổ là những gì các vị đã thân chứng trước khi giác ngộ, nay tôi không đề cập đến. Cái chúng ta cần hiểu ở đây là Tập và Diệt, vì sao như vậy? Vì rằng có biết Tập mới chứng Diệt, có Giác mới có Ngộ, cũng như có đèn mới thấy được màu sắc... 

  • Tập Đế là gì? Tập là nói chung những nguyên nhân nào làm cho một hữu tình bị khổ đau phiền não, bị sanh diệt cuốn trôi... Có thể hiểu Tập bao gồm những thứ có năng lực trói buộc và làm mê mờ một chúng sanh... Những thứ đó Đại loại là: Tập nhân, Kiết sử, Ba duyên hòa hiệp, Mê lầm các pháp... 

Cũng có thể hiểu Tập chính là Vô Minh... Vì sao như vậy? Cũng như trong bóng tối, người ta lầm sợi dây thành con rắn, sự lầm nhận khiến đau khổ hãi sợ này chính là Tập... Cho nên trước đây tôi có nói “Tập thuộc về thế gian”... Và sau đó cũng có nói: 

⁕Giác là Đế của Tập... Điều này có ý nghĩa như thế nào? Tập giống như bóng tối, vì bởi trong bóng tối nên người ta lầm nhận sợi dây thành con rắn... Muốn dứt bóng tối này, người trí nên làm gì? Người có trí chỉ nên đốt ngọn đèn lên, một khi hết tối, mọi lầm nhận sẽ chấm dứt... Giác chính là ngọn đèn được đốt lên để xua tan bóng đêm vô minh... 

Muốn thoát khỏi bóng tối của Tập, người ta phải đốt ngọn đèn Giác... Muốn dứt vô minh, người tu hành phải có Minh... Minh này chính là Giác, cho nên nói Giác là Đế của Tập, có nghĩa có đèn lập tức hết tối... Vô minh thuộc về thế gian nên Minh giác cũng thuộc về thế pháp... Mà thế gian là vô thường, cho nên giác kia cũng vô thường. 

Kinh dạy: “Các pháp làm ra đều vô thường”. Kinh cũng dạy: “Lấy pháp huyễn để diệt huyễn tâm”... 

Sau khi giác, như hang động kia đã được thắp sáng bởi ngọn đèn trí huệ. Bây giờ người có mắt, có trí mới tiến gần lại, nhướng mắt nhìn thật kỹ... Con mắt cộng với ánh sáng, vị này phát hiện ra rằng: “Con rắn trước kia ta đã thấy, thật sự nó chỉ là sợi dây...” 

Một khi đã thấy nguyên hình sợi dây, người này không còn sợ hãi, không còn lo nghĩ, và người này cũng tự biết rằng: “Có đèn hay không đèn, sợi dây vẫn chỉ là sợi dây... từ trước đến giờ chỉ là sợi dây”... Cái hết sợ, cái không toan tính, cái chẳng cần đối phó với con rắn hư vọng kia... gọi là Bất Động... Thấy rõ sợi dây gọi là Ngộ, hết mọi lo toan nghĩ ngợi gọi là Diệt... Vì thế nên nói: 

⁕ Ngộ là Đế của Diệt... 

Nhưng vì sao lại nói Diệt Đế và Đạo Đế thuộc về xuất thế gian? Thấy con rắn là cái thấy của bóng tối, cái thấy của mê mờ hư vọng nên nó thuộc thế gian. Thấy sợi dây chính là cái thấy sáng suốt, không bị mờ tối, thấy như thật... nên gọi là xuất thế pháp... 

Khi thấy được sự thật này, vị tu hành kia mới hoát nhiên hiểu ra, thiệt chỉ vì lầm tưởng sợi dây là con rắn, nên mới có Khổ có Tập và mong rằng có Diệt có Đạo để được an ổn... 

Nhưng khi biết được sự thật này, bây giờ vị này tự cười mình rằng: “Thiệt chẳng có gì là Khổ, Tập, Diệt, Đạo... Đã là sợi dây thì chẳng đợi có ánh sáng hay không ánh sáng, sợi dây từ xưa đến giờ chỉ là sợi dây... Vì thế kinh dạy: “Vô vô minh, diệc vô vô minh tận... Vô Khổ Tập Diệt Đạo... Vô trí diệc vô đắc...“ 

Có nghĩa rằng: Đã thấy biết đó thật là sợi dây thì chẳng cầu ánh sáng, chẳng cầu diệt tối, chẳng có sợ hãi và cũng chẳng làm cho hết sợ hãi, cũng chẳng phải trí ngu gì mới hóa kiếp sợi dây, cũng chẳng thể có sự thành tựu nào biến con rắn trở lại sợi dây...” 

Sự tình này chỉ có thể xảy ra đối với người thấy được thật nghĩa của Diệt Đế như thấy rõ sợi dây. Bây giờ vị tu hành này mới thật giải thoát hết mọi thứ sợ hãi. Vì thoát khỏi mọi thứ sợ hãi nên trong lòng an vui bất động... Cho nên kinh có dạy: 

Những ai còn tư niệm, tư lường, thầm ý... đây là cảnh sở duyên cho thức an trú, thức an trú thức tăng trưởng, thức tăng trưởng thức chọn lựa...”; Và kinh cũng dạy: “Thức nuôi lớn nghiệp, nghiệp là thai tàng của chúng sanh...”!... 

Tóm lại có Mê thì phải nhờ Giác, muốn thấy rõ Diệt phải nhờ đến Ngộ... Chánh Giác sẽ đưa đến Giải Thoát, Liễu Ngộ sẽ cho ra Bất Động. Giải Thoát Bất Động chính là vạch xuất phát, chính là bước khởi đầu hoàn hảo để vị tu hành này đặt một chân trên con đường Phật Đạo gọi là Đạo Đế. Vì thế Diệt Đế và Đạo Đế thuộc về xuất thế gian... 

  • Thưa các vị!... Bây giờ tôi xin nói đến nghĩa không!... 

Phật Đạo chính là rốt ráo không, rốt ráo không là nghĩa Vô Vi... Như có lần tôi đã nói: “Vô Vi như sừng thỏ, như lông rùa...” có nghĩa Vô Vi hay Không trong Phật Đạo chỉ có danh tự mà không có thật thể... Không thật thể nên nó là Vô Tướng... Không thật thể nên tự Không Tánh… Vì thế kinh dạy: “Nghĩa không không thể dùng phương tiện đến được”. 

Điều này có nghĩa “Vô Vi” hay “Không”, không phải pháp làm ra, cái gì được làm ra, cái đó chẳng không... Vị nào đem tâm đi tìm cái không chẳng khác đi tìm sừng thỏ lông rùa... 

Tuy rốt ráo của không là như vậy, nhưng vì Từ Bi, chư Thánh cũng có khi nói đến: “Mười tám pháp không”. Mười tám pháp không đã được nói lên chính là giản trạch nghĩa không trên ý nghĩa thế gian để người tu hành khỏi lầm nhận. 

Ví dụ như một hạt đậu nhỏ trong đống thóc lớn, bảo rằng thóc kia không đậu, nghĩa không này không sai nhưng chưa rốt ráo... Ví dụ như công viên chỉ có hoa mà không có trâu ngựa, không có trâu ngựa cũng gọi là không, nhưng chẳng phải không hoa... Tóm lại, chư Thánh giản trạch mười tám pháp không để chỉ ra rằng: “Nghĩa thật không... tự nó là không... chứ chẳng phải nhân nơi đối đãi, biện luận thấy được Không, Vô Vi...” 

Thưa các vị!... Nghĩa không trong Phật Đạo chính là Diệt Đế, Diệt Đế là nghĩa Niết Bàn, nên Phật dạy: 

“Niết Bàn là Vô Vi...”, có nghĩa Niết Bàn, Không, Vô Vi... là Thánh Pháp. Nó là sự tuyệt nhiên rốt ráo vắng lặng trong một tâm thức đã trải qua Chánh Giác... Vô Vi, Niết Bàn, Không... chính là sợi dây... chứ chẳng phải “con rắn”. 

Các vị!... Tôi đã nói ý nghĩa của những điều huynh Như Tánh đã hỏi... Trong các vị, có vị nào chưa thông? Có vị nào như con ong còn mù mờ về hình tướng các loài hoa... Còn mù mờ thì ngay bây giờ có thể nêu lên... Một khi biết rõ các loài hoa và tính chất của nó, con ong tuyệt nhiên không nhầm lẫn, không thể bay đi mà không đem mật trở về... 

- Như Tánh!... Huynh hiểu như thế nào về những điều tôi đã trình bày? 

Thưa Lão Sư!... Lão Sư đã xóa sạch tánh tướng trong lòng đồ đệ!... 

- Sạch tánh tướng thì còn lại gì? 

Thưa Lão Sư!... Người xưa có nói: “Con vẫn thường tự biết, lời nói không đến được”. Nay đồ đệ có nói cũng chỉ nói như vậy!... 

Lý Tứ tiếp: 

Thưa các huynh đệ!... Nơi bản chân thì không “lý”... Nhưng do vì sức Từ Bi, chư Thánh bèn tuyên nói chân lý... Nơi chân mà có lý, lý kia chỉ vì người mê... Giống như có người bệnh, mới có thầy thuốc, và có thuốc... 

“Lý” ở đây là gì? Đó là nơi không Đế hóa hiện bốn Đế... Hóa hiện bốn đế để kẻ mê kia dứt mê, chợt nhận ra: “Đã chân thì không lý”... Vô Khổ, Tập, Diệt, Đạo, vô trí diệc vô đắc... Nhưng Từ Bi thì chẳng mất... Ha ha!... 

Vì thế đã Như mà sao lại có nghĩa Lai? Đã đứng sao lại nói đi? Như Lai chính là Từ Bi vậy!... Ha ha ha ha!... 

Ha ha!... Lý Tứ hay Lý Ngũ đây!... 

Ngũ Tứ đồng bản chân,

Tột chân không có lý.

Sức Từ Bi hóa hiện,

Vì Khổ nên nói Diệt…!...

(còn nữa)

Tác Phẩm Lý Tứ

Tứ Diệu Đế. Giác & Ngộ. Giải Thoát Bất Động

Quản trị viên 03.01.2022
TP.21. Tứ Diệu Đế. Giác & Ngộ. Giải Thoát Bất Động

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ

Buổi chiều... quyết tâm đào sâu ý nghĩa Tứ Đế... Lý Tứ lại nói: 

Thưa các huynh đệ!... 

Diệt Đế và Đạo Đế chính là Thánh Pháp. Thánh Pháp này chỉ hiện hữu cho những ai biết từ bỏ con thuyền đã đưa mình sang sông mà đi lên bờ. Tức là từ bỏ kiến giải, từ bỏ những gì đã giác. 

Vì rằng Diệt Đế là pháp bất cộng. Diệt Đế không phải pháp làm ra hay suy luận. Diệt Đế chính là sự vượt thoát cuối cùng của người đã lên đỉnh cao nhất của ngọn núi ba cõi... Hãy cố sức thoát khỏi sự níu kéo của ngọn núi kia đang trì kéo đôi chân của bạn... 

Các bạn!... Cái gì đang trì kéo, cái gì các bạn đang mang vác trên vai của mình, cái gì là gánh nặng cần phải bỏ xuống... Các bạn!... 

Đó là thức, đó là tự ngã, đó là chủ thể sản sinh ra nhận thức, đó là chủ thể gìn giữ giác này... Những thứ này đã và đang dẫn dắt các bạn tiếp tục vòng vo quay cuồng trong ba cõi... 

Giống như người sang sông, đã đến bờ bên kia, nhưng vị này thương tiếc chiếc thuyền đã giúp mình từ bờ này sang bờ kia. Chính tiếc thương này, vị tu hành không dám từ bỏ, không nỡ lòng từ bỏ, cố mang theo, cố vác chiếc thuyền kia trên đôi vai, mong rằng đây là sự trả ơn thù thắng... 

Thưa các bằng hữu!... Hiểu như thế, quan niệm như thế chính là trói cột cuối cùng làm trở ngại hành trình phía trước... Điều này Phật dạy A Nan: “Này A Nan!... Chớ có thương tiếc, hãy để chiếc thuyền ấy lại cho người đi sau, đừng mang vác nó theo”

Kinh Đại Thí Dụ Lõi Cây Phật cũng căn dặn: 

“Này các Thiện Nam Tử!... Thật bất hạnh cho những ai, lấy tri kiến làm chỗ nương tựa, coi tri kiến có được là hiểu biết tối thượng cần phải gìn giữ... Ta nói như người đi tìm lõi cây, người này chỉ lấy được giác cây... Này các Thiện Nam Tử!... Giải thoát bất động chính là mục tiêu tối thượng cần phải đạt tới của một Sa Môn, Bà La Môn... Như người đi tìm lõi cây, người này đã lấy đúng lõi cây, cái cần tìm đã tìm được, cái cần thấy nay đã thấy, cái cần gặp nay đã gặp”. 

Chính những nguyên nhân này, chính những lý do này, hồi sáng tôi có nói với các bạn một câu, không biết các bạn còn nhớ hay đã quên... Không sao, tôi xin lặp lại câu này: 

  • “Giác là Đế của Tập, và Ngộ là Đế của Diệt”. 

Các bạn!... Vì sao tôi lại nói như vậy!... Đó chính là ý nghĩa của thế gian và xuất thế gian trong giáo pháp... Nương nơi sức giác, các bạn chỉ có thể ngăn chặn nhiễm ô của Tập, giống như người dùng phèn lóng trong nước, khi nào quên bỏ phèn, thì lại uống phải nước đục... Vì thế Giác chỉ có năng lực đưa một người đến bờ mé cuối cùng của thế gian, tức là cho dù có một chút thanh tịnh do sức giác làm nên cũng chẳng thể ra khỏi ba cõi. Như người leo lên đỉnh núi, toàn thân đã ở trong hư không, nhưng da bàn chân vẫn còn dính chặt vào đỉnh núi... Nếu vị tu hành này tiếp tục bước đi, nhất định sẽ đi trở về chân núi. Nếu vị này bằng lòng ở lại nơi đây thì vị này sẽ là người của ngọn núi... Đây cũng là lý do vì sao tôi nói, Khổ Đế và Tập Đế thuộc về thế gian... 

Bằng lời lẽ của mình Phật cũng minh định rằng: “Đó là Đại bất hạnh của một Thiện Nam Tử đi tìm lõi cây, mà lại mang về giác cây”. 

Các vị!... Diệt Đế và Đạo Đế thuộc về thánh pháp, tức hai đế này vượt ra khỏi phạm vi của suy hiểu, vượt ra khỏi giới hạn của biện luận... kinh gọi là: “Bất khả tư nghì, bất khả lý giải, bất khả thuyết”. 

Vô lượng thứ bất khả như thế... Vì sao lại nhiều bất khả như thế?... Vì Niết Bàn, Diệt Đế là Vô Vi chứ chẳng phải Hữu Vi... 

  • Vô Vi là gì? Nó như sừng thỏ, nó như lông rùa... chỉ có danh xưng mà không có tự thể... Kẻ nào khi nghe nói hai thứ này, cố đi tìm sừng thỏ lông rùa, giống như người trông ngóng chuyện làm giàu trong mơ... 

Như vậy, Thưa các bạn!... Đã không có tự thể thì tìm kiếm nơi nào và bằng cách gì? Đúng, đây là một nan đề... Nếu chúng ta cố tìm, cố xem, cố kiếm, cố hết sức muốn biết nó ở đâu và đón nhận bằng cách nào... Thì xin thưa với các vị... suy nghĩ này, việc làm này chỉ thêm xa rời ý nghĩa Diệt Đế... Mà Diệt Đế chưa thấy chưa biết, thì đừng mong có được Đạo Đế để giữ gìn... 

Giống như con mắt, thấy tất cả vạn hữu, nhưng con mắt sẽ không thấy chính nó... Giống như chiếc gương sáng, tự thân không ảnh, nhưng nếu cố chứng minh gương kia không ảnh, lập tức gương sẽ có ảnh... Diệt Đế cũng như vậy, nó là chỗ bổn lai tự diệt, sở dĩ tự diệt vì chưa từng sanh. Nếu đem cái sanh để tìm kiếm cái diệt, thì cái diệt này chính là sanh vậy... Điều này được Lục Tổ Huệ Năng minh họa bằng bốn câu kệ nổi tiếng của mình: 

“Bồ Đề bổn vô thọ,

Minh kính diệc phi đài,

Bổn lai vô nhất vật,

Hà xứ nhá trần ai” 

  • Như vậy tóm lại Diệt Đế là gì? Nó chính là bổn tâm của các bạn, nó chính là các bạn... Nhưng vì sao các bạn không thấy? Như trước tôi đã nói... “Hồ nước đục, người có mắt sẽ không thấy đáy hồ, trời nhiều mây sẽ không thấy trăng tròn và các vì sao”. Thế thì nước hết đục, trời hết mây tại sao không thấy? Thưa các bạn!... 

Chỉ vì các bạn chưa mở con mắt huệ... Vì thứ này, không thể dùng nhục nhãn hay pháp nhãn mà thấy... Nhục nhãn chỉ thấy những gì trong nghiệp quả, pháp nhãn chỉ thấy những gì của pháp đã giác... Xa lìa, từ bỏ hai con mắt này thì Huệ Nhãn tự hiện và tự thấy... Huệ nhãn chính là Vô Vi nhãn, dùng con mắt vô vi mới thấy được Niết Bàn vô vi... Huệ nhãn chính là Bất động nhãn, dùng con mắt bất động mới thấy được nguồn tâm bất động... 

Điều này kinh Niết Bàn có nói đến, đây cũng là lời của chư Phật xưa: “Chư hành vô thường, thị sinh diệt pháp, sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc”. 

Hãy chấm dứt tìm kiếm, hãy chấm dứt nghĩ suy, hãy chấm dứt giong ruổi của hành tâm, lập tức thấy được Diệt Đế an vui... 

Các bạn!... Tính chất quan trọng của Tứ Đế, tính chất quan trọng của Diệt Đế đối với người tu hành là như thế... Xin các bạn lưu ý, xin các bạn đừng nên bỏ qua... Nếu một phen coi đây là pháp nhỏ, coi đây như căn bản của Thanh Văn thừa giống như người đời thường hiểu... thì xin thưa các bạn!... Đó là một nhầm lẫn lớn nhất... Và nhất định các bạn vẫn mãi loay hoay trên con đường tìm kiếm chân lý... Như người muốn ra khỏi ba cõi mà trước mặt là ngọn núi Tu Di sừng sững chặn ngang lối đi... 

Sẽ vô phương đối với những ai coi nhẹ Tứ Diệu Đế... 

Các bạn!... Trước đã nói đến Diệt Đế... Nay tôi xin nói đến đạo Đế... 

Thưa các bạn!... Kinh dạy: “Đạo Đế[1] là độc đạo, an ổn và bất tử”. Vì sao kinh nói như thế?... Các bạn!... 

  • Đạo Đế, chính là hệ quả tất yếu của Diệt Đế... Có chứng ngộ Diệt Đế, mới biết thế nào là Đạo Đế... Giống như người giàu sang, mới biết thế nào là giàu sang, người giàu sang mới biết thế nào là cuộc sống sang giàu... 

Chẳng phải vô cớ mà kinh Pháp Hoa đề cập đến câu chuyện “Gã Cùng Tử”. Thì cũng vậy, các thừa sau khi đã chứng quả của thừa mình bằng điểm nhấn Diệt Đế, bây giờ là lúc các vị thánh đó “bảo vệ thành quả” và “con đường phải đi”. Bảo vệ thành quả chính là “Đạo”, con đường một vị thánh phải đi gọi là “Đạo”...

Đạo Đế có Thanh Văn Đạo, Duyên Giác Đạo, Bồ Tát Đạo, Nhất Thừa Đạo và có Phật Đạo... Giống như giai cấp trung lưu có đời sống trung lưu, triệu phú có đời sống triệu phú, quý tộc có đời sống quý tộc và vương triều có đời sống vương triều... Đạo Đế của mỗi thừa chính là đời sống và sự tiếp nối vươn lên của chính thừa đó bằng bước khởi đầu được công nhận của quả chứng... đó là Diệt Đế... Ví như một người chính thức được sanh ra trong dòng giống của mình... Vì thế Đạo Đế chính là định hướng, là con đường, là nếp sống, là tư duy, là nghĩ suy, là ứng xử... bắt buộc trong một mực thước nhất định của một dòng giống nhất định, nên kinh nói là “Độc đạo...” 

Đạo Đế, chính là văn hóa vô lậu của một cộng đồng, cho nên thành viên của cộng đồng đó sẽ có cách nhìn, cách nghĩ suy một sự việc theo chuẩn mực của cộng đồng... 

Điều này có ý nghĩa gì trong Phật Đạo? Giống như tám con sông đồng chảy về Đại hải... Mỗi con sông có một dòng chảy riêng, có một nguồn nước riêng, có một lưu lượng riêng... Chừng nào những con sông này chảy vào biển cả, thì chừng ấy “cái riêng” của con sông này mới mất đi. Mất cả tên gọi lẫn tính chất rất riêng của nó... 

Những con sông này đến một điểm nào đó, đồng hòa nhập vào một dòng... đó là “Nhất Thừa Đạo”... Nhất thừa đạo chưa hoàn toàn là Phật Đạo nhưng chí ít nó không còn cái riêng của từng con sông riêng lẻ... Vì thế, Nhất thừa đạo là Đạo Đế, là dòng chảy cuối cùng trước khi hòa vào Phật Đạo đó là Biển Đại Giác... 

Thưa các vị!... Tôi đã khái quát ý nghĩa của Đạo Đế. Đây cũng chỉ là những khái niệm đầu tiên về Đạo Đế, bởi lẽ Đạo Đế là “Độc đạo, an ổn và bất tử”. nên các vị chớ có nên nhầm lẫn. Nhầm lẫn đáng tiếc nào đó sẽ là bài toán khó sau này khi tiến vào dòng chảy chung Nhất Thiết Trí... 

Vì sao? Nếu con sông nào đó bỗng dưng lệch dòng, có nghĩa không chảy theo quy luật, thì dòng sông đó chẳng thể tiến về biển cả... 

Các vị!... Những điều tôi đã nói, xin các vị ghi nhớ... Trong các vị còn có ai chưa thấu hiểu về Tứ Đế, hãy nêu lên... Mọi thắc mắc của các vị sẽ được cùng nhau chia sẻ vì lợi ích chung... 

Xin mời các vị!... Nói đến đây, Lý Tứ đảo mắt nhìn một lượt mọi người... Tất cả đồng im lặng... 

***************** 

Tất cả im lặng... Một hồi lâu, Như Lực đứng lên hướng về phía Lý Tứ lên tiếng: 

Thưa Lão Sư!... Lão Sư có đề cập đến “Giải Thoát Bất Động”, Tiểu nữ chiêm nghiệm tâm này, chỉ có tịch diệt. Như vậy vì sao kinh không nói đến tịch diệt mà lại nói đến giải thoát bất động... Và Lão Sư cũng đề cập đến sự việc này. 

Thưa Lão Sư!... Theo chỗ thấy biết của tiểu nữ là nguồn tâm đang tịch diệt, nhân nơi tịch diệt gọi là bất động. Như vậy giải thoát bất động có khác ý nghĩa tịch diệt do tiểu nữ đã chứng nghiệm hay không? Hay còn ý nghĩa gì khác? Xin Lão Sư giảng giải cho tiểu nữ và mọi người ở đây đồng thấu suốt... 

Lý Tứ nhìn mọi người rồi thong thả nói: 

- Cô Nương!... Cô Nương bảo rằng nguồn tâm của Cô Nương đang tịch diệt, do đâu mà Cô Nương có được tịch diệt này? 

Thưa Lão Sư!... Tiểu nữ nhân nghe nói đến “Giác là Đế của Tập và Ngộ là Đế của Diệt”. Tiểu nữ hướng tâm mình đến vắng lặng, không giác không quán nên tâm được tịch diệt... 

- Cái không giác không quán Cô Nương vừa nói đó, hiện nay có còn hiện khởi trong tâm Cô Nương không? 

Thưa Lão Sư!... Tuy rằng không hiện khởi, nhưng âm hưởng của nó vẫn còn để tiểu nữ có thể nhận biết mình đang không giác không quán... 

- Cô Nương có thể tạm quên âm hưởng này để rốt ráo tịch diệt được không? 

Như Lực chiêm nghiệm một hồi lâu rồi nói: 

Thưa Lão Sư!... Con hiểu ý nghĩa này rồi ạ!... 

- Khi hiểu ý nghĩa tôi vừa nói, Cô Nương thấy cái gì? 

Đúng!... Giải thoát bất động mới là cứu cánh rốt ráo của Diệt Đế. Đây chính là lõi cây, và chính lõi cây này sẽ làm nên việc của lõi cây... 

Lý Tứ khen Như Lực: 

- Cô Nương đúng là Như Lực, vì Như Lực nên Như Tác, vì Như Tác nên Như Nguyện, vì Như Nguyện nên Như Tướng, vì Như Tướng nên rốt ráo tịch diệt, rốt ráo tịch diệt gọi là không... Không này chính là Giải Thoát Bất Động, đây là lõi cây Diệt Đế mà người tu hành cần tìm... Lý Tứ lại nói tiếp: 

- Thưa các bằng hữu!... Các bằng hữu có bao giờ nghe nói đến “Tâm, Ý, Ý thức” chưa? 

Mọi người im lặng, Lý Tứ lại tiếp: 

- Nếu cụm từ “Tâm, Ý, Ý thức” chúng ta đảo lộn vị trí của nó theo trình tự sau: “Ý thức, Ý, Tâm...” Các vị sẽ dễ hiểu vấn đề hơn... 

Tôi xin cụ thể hóa tiến trình sinh tâm của một hữu tình bằng sự đảo lộn này: 

Ý thức cho ra hư vọng tâm. 

Nếu dừng thức, Ý căn hoàn toàn độc lập, không bị chi phối bởi thức nghiệp. Nghiệp không hiện hành thì hư dối tâm sẽ không hiện. 

Hư dối tâm không hiện, tịch diệt tâm sẽ hiện... 

Tịch diệt tâm đã hiện, nhưng giác biết vẫn chưa quên nên tâm này chưa bất động, ý này chưa giải thoát... 

Vì sao có sự tình như vậy? 

Thưa các vị!... Chỉ vì tập khí sinh ngã vẫn còn, tập khí nhận biết vẫn còn, tập khí chứng minh vẫn còn, tập khí sinh pháp vẫn còn... Như người soi gương cố tìm gương không cảnh... Sự tình này chẳng thể xảy ra... 

Tập khí này trói buộc Ý, như con trâu tự biết đường về, con trâu sẽ chẳng được tự tại... 

Cái này Lục Tổ gọi là: “Con trâu tiếc cái đuôi”... 

Vì thế, người tu hành phải từ bỏ cái cuối cùng là: “Một sự thành tựu nào đó từ chân lý do ý cảm nhận được”. Từ bỏ khái niệm cuối cùng về “sự thành tựu nào đó” hiện tại vẫn còn lẩn khuất đâu đó trong Ý, từ bỏ này gọi là giải thoát... 

Đoạn kinh sau mô tả rõ sự từ bỏ cuối cùng này: “Như vậy, này Bà-la-môn, phạm hạnh này không phải vì lợi ích, lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng, không phải vì lợi ích thành tựu giới đức, không phải vì lợi ích thành tựu Thiền định, không phải vì lợi ích tri kiến. Và này Bà-la-môn, tâm giải thoát bất động chính là mục đích của phạm hạnh này, là lõi cây của phạm hạnh, là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh”

Các bạn thấy đấy, đoạn kinh trên nói nhiều đến khái niệm “không phải vì...”, và đoạn kinh cũng không nói rằng: “Phạm hạnh này không phải vì lợi ích giải thoát bất động...” mà đoạn kinh chỉ nói đến: “... Tâm giải thoát bất động chính là mục đích của phạm hạnh này”. Điều này nói lên ý nghĩa gì?... 

Đừng dùng Ý soi vào tâm để thấy “lợi ích” của tịch diệt, đừng để Ý bị cột trói bởi một khái niệm nào hết... 

Giải thoát Ý ra khỏi mọi quan niệm, thoát ly hẳn mọi khái niệm quen thuộc phát sinh từ nơi Ý căn... Chính sự quên đi, thoát ly triệt để khỏi mọi ràng buộc gọi là giải thoát, chính giải thoát này sẽ cho ra một nguồn tâm thật sự bất động... 

Vì thế “Giải Thoát Bất Động”, chính là mục tiêu cuối cùng cần tìm, chứ không phải là tịch diệt nguồn tâm như ý nghĩa Cô Nương đã hiểu trước đây... 

Các vị!... Như vậy ta có thể hiểu ý nghĩa của giải thoát bất động như sau: 

  • Giải thoát: Thoát ly khỏi mọi nhận thức của ý căn đang hiện khởi... 

  • Bất động: Tâm này chẳng phải sản phẩm của ý sanh... 

Nếu chỉ giải thoát ra khỏi mọi nghĩ suy do thức tưởng trong chừng mực nào đó, thì giải thoát này giống như sự lầm nhận về “Niết Bàn Phi Tưởng Phi Phi Tưởng” của ngoại đạo... Vì thế tâm chỉ tạm thời tịch diệt mà chưa rốt ráo bất động... 

Bao giờ hoát nhiên thấy được: “Tâm này bản lai bất động, ý này bản lai vô sanh”... thì chừng đó mới gọi là “rốt ráo tịch diệt” hay còn gọi là “Giải Thoát Bất Động”

Nếu Ý chỉ giải thoát mà Tâm chưa bất động, gọi là “Vô Sanh Nhẫn”

Nếu Ý giải thoát hoàn toàn, Tâm bất động không sanh pháp, gọi là “Vô Sanh Pháp Nhẫn”... 

Điều này kinh Kim Cang có dạy: “Đồng một pháp Vô Vi, mà chư Hiền Thánh thấy có sai biệt”. 

Chính sai biệt này mới có hai vô ngã... Như vậy, thưa các bạn!... 

  • Tâm và Ý có sự liên hệ nào trong một hữu tình? 

Thật ra Ý chỉ là một căn như năm căn kia, nhưng vì mê lầm lâu ngày, thức chen vào ý căn và năm căn thân, chỉ đạo các căn nhận biết theo mệnh lệnh của mình, gọi là thấy biết theo nghiệp... 

Do thấy biết theo nghiệp nên tâm nghiệp sanh. Tâm nghiệp sanh, bất động tâm không hiện... 

Tu hành trong Phật Đạo chính là, loại thức ra khỏi các căn, thức nghiệp không hiện hữu, tâm nghiệp không hiện hữu, không hiện hữu này gọi là tịch diệt... 

Từ tịch diệt này, vị tu hành hướng về nội tâm, từ đó mới nhận ra rằng tâm này bổn lai bất động, và bây giờ mới biết Tâm và Ý chẳng có mối liên hệ nào hết... 

Tâm và Ý không có mối liên hệ nào hết, nên Trí xuất hiện. 

  • Trí chính là sự nhận biết độc lập, nhận biết này không can dự đến Tâm, vì thế Tâm thường bất động…Chừng đó: 

- Năm căn thân: Trở thành Thành Sở Tác Trí.

- Ý căn: Trở thành Diệu Quan Sát Trí.

- Mạt Na: Trở thành Bình Đẳng Trí.

- A Lại Da: Trở thành Đại Viên Cảnh Trí. 

Vì sao có sự trở thành như vậy? Vì vị tu hành này chợt nhận ra: “Sợi dây chưa từng biến thành con rắn”... Ha ha ha ha!... 

Các vị có cảm nhận gì nơi những điều tôi vừa nói hay không? 

Tất cả im lặng!... 

- Như Lực Cô Nương!... Cô Nương có còn thắc mắc Giải Thoát Bất Động hay không? 

Thưa Lão Sư!... Tiểu nữ thấu suốt!... 

- Cô thấu suốt điều gì?

Thưa Lão Sư!... Chẳng có chỗ thấu suốt nên tạm gọi là thấu suốt!... 

- Sau khi thấu suốt, Cô Nương có phải Như Lực chăng? 

Thưa Lão Sư!... Tiểu nữ cũng là Như Lực cũng chẳng phải Như Lực!... 

- Thế thì Cô Nương là cái gì? 

Thưa Lão Sư!... Thánh nói trâu, phàm cũng nói trâu... Tuy vậy, trâu thánh trắng, trâu phàm đen!... 

- Ha ha ha ha!... Cô Nương đúng là Như Lực!... Nếu cũng là Như Lực, cũng chẳng phải Như Lực, thì Cô Nương nên làm gì trong lúc này mới phải đạo? 

Thưa Lão Sư!... Tiểu nữ chỉ nên rót trà mời Lão Sư và các huynh đệ thưởng thức!... Rồi ngồi đó mà nghe Lão Sư giảng tiếp Hi hi hi hi...

[1] Đạo Đế (Bát chánh đạo)

(còn tiếp) 

Tác Phẩm Lý Tứ

Tứ Diệu Đế. Tục Đế. Thánh Đế. Chân Đế. Thiệt Đế

Quản trị viên 03.01.2022
TP.20. Tứ Diệu Đế. Tục Đế. Thánh Đế. Chân Đế. Thiệt Đế

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ

Ngày thứ hai trên du thuyền, tất cả quây quần trong phòng khánh tiết, cũng chiếc bàn cũ... Mọi người chuẩn bị cho ngày mới bằng buổi điểm tâm sáng... và bình hoa được thay mới... 

Cũng ấm trà tỏa hương, cũng cái đỉnh được đốt trầm thơm ngát... 

Như Nhân đợi mọi người yên vị, lão đứng lên, cung tay hướng về Lý Tứ lên tiếng: 

Thưa Lão Sư!... Thưa các huynh đệ!... Hôm qua sau buổi đàm đạo, Lão Sư vào phòng nghỉ, anh em đồ đệ ngồi nán lại nơi này để ôn lại những gì Lão Sư đã nói... Mọi người rất phấn khởi, cảm giác an lạc toàn thân, tâm mọi người như hồ nước lắng trong... 

Có lẽ đây là lần đầu tiên trong đời của huynh đệ chúng con đón nhận cảm giác này. Lần đầu tiên được nếm mùi đạo vị thanh tịnh. Lần đầu tiên biết thế nào là hương thơm chánh pháp... 

Cuộc đời của chúng con có nhiều thay đổi... Tất cả nhận ra thân này do cha mẹ sanh, nhưng tâm trí lại do Lão Sư hóa sanh... Cái khổ đã thối lui, nhường chỗ cho an lạc xuất hiện. Tuy mỗi người trong chúng con còn một ít tập khí của thân... nhưng tất cả đều hiểu, những tập khí này như áng mây phiêu lãng bay ngang bầu trời trong xanh giữa hạ. Một đám mây nhỏ, chẳng thể ảnh hưởng đến bầu trời kia... Áng mây vụt bay qua, đằng sau nó là khoảng trời xanh biếc, chẳng còn chút dấu tích của chính mình... 

Thưa Lão Sư!... Chúng con nghiệm ra, an lạc này chính là Diệt Đế... Đích thị nó là Diệt Đế... Thưa Lão Sư!... Chúng con hộ trì cái an ổn đã thấy và quở trách đám mây tập khí thừa sót gọi là Đạo Đế... Đích thị nó là Đạo Đế... Thưa Lão Sư!... Chúng con đồng hiểu bốn đế như vậy, cái hiểu này đã đúng đắn chưa, đã rốt ráo chưa? Xin Lão Sư tiếp tục giáo dạy... Nói xong lão cung kính xá xá Lý Tứ... 

Lý Tứ chậm rãi lên tiếng: 

Thưa các bằng hữu!... 

Hiểu như vậy là Tứ Đế, thấy như vậy gọi là Tứ Diệu Đế... Nhưng bảo rằng thấy biết như vậy rốt ráo Tứ Đế, xin thưa các bằng hữu thật chưa phải... Vì sao nói rằng chưa phải? 

⁕ Thưa các vị!... Tứ Diệu Đế là xương sống làm nên Phật Đạo. Tứ Diệu Đế là nguyên lý hình thành ba thừa. Tứ Diệu Đế là căn bản trí tuệ của Nhất Thừa và Tứ Diệu Đế chính là Phật Đạo... Vì thế muốn rốt ráo biết được ý nghĩa đích thực của Tứ Đế, chỉ có trí tuệ chư Phật, chỉ có Đẳng Chánh Giác mới thấu đáo thiệt tướng của bốn đế, thưa các bằng hữu... 

Ở đây, tôi chỉ xin đề cập ý nghĩa Tứ Đế trong phạm vi những gì mình biết được, còn rốt ráo Tứ Đế như thế nào, có lẽ chúng ta cần phải miệt mài tu tập... 

Muốn hiểu biết Tứ Đế, đầu tiên chúng ta phải thấu suốt hai chữ Giác và Ngộ... Vì rằng giác ngộ trong Phật đạo có nhiều tầng bậc, nên Tứ Đế cũng có nhiều tầng bậc... 

Cho nên đồng một Phật Đạo mà lại có tứ quả Thánh, có năm mươi lăm địa vị Bồ Tát, lại có Vô Thượng Bồ Đề... Vì sai biệt như thế, nên Tứ Đế được gọi với danh xưng trang trọng là Tứ Diệu Đế. Và cũng vì sự thâm u khó thấy khó biết này mà Tứ Diệu Đế sản sanh ra Tục đế, Thánh đế, Chân đế và có Thật đế...

Sự sai khác của các nghĩa trên, chính là nét chấm phá tuyệt vời trong bức tranh Phật đạo. Nó chính là điểm nhấn đánh dấu mức độ giác ngộ của từng cá nhân, của từng thừa trong Phật đạo... Trong chừng mực nào đó, giác ngộ có thể hiểu là hai giai đoạn cần có trong một người tu hành. 

- Giác là cơ sở lý luận, giác chính là cơ sở dữ liệu, giác chính là những nguyên lý cơ bản, giác chính là chân lý mà người tu hành tiếp thu được từ giáo pháp... Rồi nương tựa vào đó để hàng phục tâm này. Giác có thể hiểu là công cụ, là phương tiện, là phép tắc... để biến một hữu tình nhiều phiền não đến chấm dứt phiền não, từ một chúng sanh bị cột trói đến chấm dứt ràng buộc. Hết Phiền não tạm gọi là thanh tịnh, hết trói buộc gọi là giải thoát... Giác là chất liệu làm hết nhiễm ô nguồn tâm, giống như phèn là chất liệu lắng trong nguồn nước... Nhờ có chất liệu “giác” mà nguồn tâm hết nhiễm ô, nhờ có lưỡi gươm “giác” mà hữu tình chặt đứt sợi dây cột trói.. 

. Thanh tịnh này, hết cột trói này sở dĩ có được là do sức giác làm nên, do sức giác huân lắng phiền não... Một khi nguồn tâm không nhiễm ô, nguồn tâm thanh tịnh, nguồn tâm không bị cột trói... Phật đạo tạm gọi là Niết Bàn, Giải Thoát... 

Nhưng thứ Niết Bàn này được làm nên bởi một công cụ nào đó, cho dù công cụ này là “giác trí”, thì đối với tổng thể Phật đạo, Niết Bàn này chính là kết quả làm ra của một phương thức. Vì thế đây được coi là thứ Niết Bàn do tạo tác mà thành, cho nên nó chưa chân thiệt... 

Trong kinh gọi đó là “Hóa Thành”... Hóa thành này do Hóa Phật, Hóa Bồ Tát từ bi hóa hiện để người tu hành tạm an ổn, tạm nghỉ ngơi, tạm an tâm tĩnh trí... Sau đó chuẩn bị một hành trình mới dài hơi hơn, xa hơn để đi đến một chân trời khác chơn thiệt hơn trong Phật đạo... Đó là Ngộ. 

Giống như một hồ nước, giống như bầu trời đêm nhiều mây... Nếu hồ nước kia chưa trong, còn vẩn đục, thì người có mắt chẳng thể thấy rõ con sò con ốc dưới đáy hồ... Nếu bầu trời kia chưa tan mây thì người có mắt chẳng thể thấy trăng tròn và các vì sao... Giác giống như hồ nước đã trong, giác như trời đêm không mây... Ở đây người có mắt và có trí sẽ thấy tất cả những gì cần thấy... Cái cần thấy kia, nay đã được thấy gọi là Ngộ... 

- Ngộ chính là sự thấy biết như thật những gì tốt lành trong một nguồn tâm không cấu nhiễm... Đó là thấy bổn lai tâm này Vô Sanh, thấy bổn lai tâm này Bất Động... Một khi đã thấy, vị tu hành này biết rõ, thấy rõ thật nghĩa Vô Sanh, thật nghĩa Bất Động... Chừng này, ý nghĩa Diệt Đế và Đạo Đế chân thật sẽ tự hiện... 

Có thể dùng ví dụ sau minh họa cho hai nghĩa Giác và Ngộ. 

Thưa các vị!... Giống như người ngủ mê, nằm mơ thấy mình bị giặc cướp đuổi theo sát hại, người này sợ hãi, hoảng loạn chạy trốn... Bọn cướp thì cứ đuổi theo sau. May mắn, gặp người có trí, người có trí bèn chỉ nơi ẩn nấp an toàn và người kia không bị giặc cướp sát hại... Giặc cướp đi rồi... người này vui mừng khen ngợi người kia là kẻ có trí... Đến khi giật mình tỉnh dậy thì mới biết rằng, sợ hãi và vui mừng kia cũng chỉ là giấc mơ, giặc cướp còn không có làm gì có sự trốn chạy và an vui... Bây giờ người này mới thật là vui... Kẻ trốn chạy và gặp người trí tuy được an ổn, nhưng đó là an ổn trong mơ... Giật mình thức giấc, mới thật an ổn... An ổn trong mơ dụ cho người giác, giật mình thức dậy dụ cho người ngộ... Giác và Ngộ, là hai trạng thái an vui khác nhau trong một con người giữa mê và tỉnh, thưa các vị!... Vì thế, cần phải thức giấc. Sớm thức giấc trong cơn mơ dài ba cõi mới thật an vui... Đây mới thật là Đế trong Phật đạo... 

Thưa các bằng hữu!... Tôi vừa trình bày ý nghĩa của hai chữ “Giác Ngộ”. Một người có giác có ngộ, mới hiểu biết một phần của Diệt Đế và Đạo Đế... Vì thế, trong chừng mực nào đó, người tu hành có thể hiểu Giác là Đế của Tập và Ngộ là Đế của Diệt... 

Thưa các vị!... Hồi nãy tôi có nói đến Tứ Đế có nhiều ý nghĩa nhiều tầng bậc nên Tứ Đế còn có tên gọi là tứ Diệu Đế... 

Diệu vì bởi thiện hạnh trải qua các địa vị kia, cho nên kinh gọi cái thấy đầu tiên của Phật đạo là thiện Kiến, và cái thấy cuối cùng là Diệu quả Bồ Đề... Chính vì nghĩa “Diệu” này mà Tứ Đế có Tục Đế, Thánh Đế, Chân Đế và Thiệt Đế, Thiệt Đế còn có tên gọi khác là Chân Trí... 

Tứ Diệu Đế cũng gồm có hai phần, đó là Thế Đế và Xuất Thế Đế. Thế Đế bao gồm Khổ Đế và Tập Đế. Xuất Thế Đế gồm có Diệt Đế và Đạo Đế. 

Điều này có nghĩa Khổ Đế và Tập Đế người tu hành có thể suy hiểu gọi là kiến giải, còn Diệt Đế và Đạo Đế là do giác ngộ chơn thiệt mà chứng nhập... Nương nơi hai thứ này… 

Tứ Diệu Đế xuất sanh Tục Đế, Thánh Đế, Chân Đế và Thiệt Đế hay còn gọi Chân trí... Bây giờ tôi xin nói rõ những món này... 

  • Tục Đế là gì? Đó là người tu hành, do không có được chánh giác nên nương tựa vào những cái không đáng nương tựa và cho đây là chân lý. Điều này kinh dạy là, “phàm phu có khổ có tập mà không có đế” 

Có nghĩa phàm phu lấy sanh lão bệnh tử khổ làm chân lý, lấy ái, lấy cầu, lấy tụ, lấy tán... làm chân lý nên không thể dứt khổ... Nói chung phàm phu nương tựa vào pháp đối đãi mà cho rằng chân lý, cho rằng đây là nơi đáng nương tựa nên chỉ có khổ có tập mà không có đế... 

  • Thánh Đế là gì? Chính là lấy đời sống bậc thánh làm chân lý. Muốn thực hiện chân lý này phải nương tựa vào ba điều, nương tựa ba điều để yểm ly các thứ ràng buộc, hết ràng buộc gọi là giải thoát... 

Đó là nương tựa nơi đồng phạm hạnh, xuất thế tục gia, từ bỏ nhà cửa, quyến thuộc, tài sản, lấy phạm hạnh làm đời sống... Đời sống này giúp người tu hành thoát khỏi trói buộc của cộng nghiệp. 

Sau khi từ bỏ các thứ cần từ bỏ, vị này một lần nữa phải xuất ngũ ấm gia, tức phá bỏ căn nhà ngũ ấm. Căn nhà này đã giam nhốt chân tâm, giống như người ta phá bỏ năm lớp tường rào che khuất báu vật. Phá bỏ tường rào này, trí tuệ sẽ sáng suốt, không còn bị biệt nghiệp che chướng... bóng ma phiền não không còn bủa vây. Phá bỏ này chính là sự đập phá Phiền Não Trụ Địa... 

Và cuối cùng, vị tu hành này xuất tam giới gia. Xuất tam giới gia chính là sự xác lập chánh kiến, thoát ra khỏi những quan niệm sai lầm về giải thoát và Niết Bàn... mà trước đây lầm nhận bởi những ác kiến hư vọng. Ác kiến đó là gì? Chính là lầm tưởng năm dục trưởng dưởng là Niết Bàn, là chính lầm tưởng các cảm thọ từ thân là Niết Bàn, và chính là sự lầm tưởng Phi tưởng là Niết Bàn... Thoát ra khỏi căn nhà tam giới chính là sự thoát ly vĩnh viễn Nhuận Chi Vô Minh, một phần của Vô Minh Trụ Địa... Thưa các bằng hữu!... 

  • Chân Đế là gì? Chân đế có nghĩa thấy được chân lý không hai (bất nhị), không còn hai pháp, tâm vị này rỗng rang, như trời quang mây tạnh. Lấy chỗ không nương tựa làm nơi nương tựa... 

Thấu suốt bản lai tự tịnh, tâm chẳng sinh pháp, pháp chẳng đến tâm... Một phen hoát nhiên, “vô khổ tập diệt đạo” chính là đế vậy... Từ đây, biết rằng Bất Động Tâm chính là Diệt Đế, Vô Sanh Tâm chính là Niết Bàn... Không một đế mới là chân đế... Không có một đạo mới gọi chánh đạo... Như con hương tượng, cứ thẳng một đường... 

Chân trí hay Thiệt Đế là gì? Có nghĩa Bồ Tát từ Bất Động bước ra, lấy Trí làm Đế... Biết rõ bốn trí là căn bản để thành tựu mười một loại trí... Chứng nhập các Tam Muội cho đến rốt ráo... 

Cũng biết rằng chư pháp “phi hữu phi vô”, tự an lập bản thân và an lập hữu tình... Dùng Thánh Huệ Nhãn xem thấy thiệt tướng như xem trái A Ma Lặc trong lòng bàn tay... Giống như trăng rằm soi sáng vạn hữu, chất vị thanh lương chính là Từ Bi Hỷ Xả... Các bằng hữu!... Tứ Diệu Đế như tôi đã trình bày, đây là chuỗi nhận thức của một hành giả tu tập. Từ sơ tu đến quả chứng, rốt ráo không lìa Tứ Đế cho nên mới nói Tứ Đế chính là xương sống, là nguyên lý làm nên Phật Đạo... Các vị!... Phải giác ngộ, giác ngộ chính là con đường duy nhất để thấu triệt ý nghĩa sâu thẳm của bốn đế... Không giác ngộ, lấy nghĩ suy để kiến giải bốn đế chính là tự làm tổn thương pháp lành và làm thương tổn chánh pháp... Ai thấu suốt Tứ Đế sẽ được gọi là thuyền bè, được gọi là đạo sư... Không thấu suốt bốn đế, chính là Khổ Đế vậy... 

Hãy ngồi xuống, các vị... Chúng ta chưa đem thân tướng này yểm ly triệt để trói buộc, thì ít ra hãy tự yểm ly triệt để từ nhận thức. Làm như vậy, tu như vậy gọi là Tu Ba La Mật. Ba La Mật chính là sự tập luyện thường xuyên để tạo ra một nhận thức không bất ngờ và choáng ngợp. Đó là “Phản xạ có điều kiện”, các tình huống giả định được lặp đi lặp lại trong tâm. Chính điều này giúp hành giả tiến sâu hơn trong Phật đạo... 

Các vị!... Chúng ta là những Cư Sĩ, không có Y Cà Sa che nhục thân thì hãy lấy Pháp Phục che Pháp Thân. Không có cơ hội cạo đầu như các bậc thánh, thì hãy mau mau cạo sạch kiết sử bằng các Ba La Mật... 

Không có bình bát để nuôi thân thì hãy mau mau giác ngộ để lấy Vô Tâm Bát đựng thức ăn bảo toàn mạng sống... 

Đao Lợi Vô Tướng Y,

Đâu Suất Vô Tâm Bát,

Ba cõi thường thanh tịnh,

Hữu Đế mà vô Đế... 

Các vị!... Tứ Diệu Đế như tôi đã trình bày... Các vị thấy thế nào... Hãy thấu suốt chữ Đế... Thấu suốt chữ Đế chính là thấu suốt Tứ Đế vậy... 

Lý Tứ dứt lời, mọi người im lặng... Suốt buổi sáng hôm ấy, chân lý tối thượng được mọi người đón nhận bằng sự im lặng bất động…

(còn nữa) 

Subscribe to