Nhất Xiển Đề, Ác Kiến và Tà Kiến

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ
Như Lực vâng mệnh, châm một bình trà nóng, rót mỗi người một ly... Hương trà thơm phức, mọi người vui vẻ uống... Đợi cạn tuần trà, Như Bổn Mạt lên tiếng:
Thưa Lão Sư!... Thưa các huynh đệ!... Lão Sư vừa rồi đã giảng nói ý nghĩa của chữ nghi. Đến nay trong lòng đệ tử đã dứt ba thứ nghi, nhưng còn vài điều chưa thông suốt, xin Lão Sư cắt nghĩa cho chúng con minh bạch...
Lý Tứ mỉm cười nói: - Lão Huynh Như Bổn Mạt!... Lão Huynh có gì chưa thông, xin nêu lên để mọi người cùng kiến giải.
Như Bổn Mạt nói:
Thưa Lão Sư!... Trong lòng đồ đệ còn thắc mắc về sự khác biệt giữa ba thứ, đó là:
Như thế nào gọi là “Nhất Xiển Đề”, như thế nào gọi là “ác kiến”, như thế nào gọi là “tà kiến”... Ba thứ này có liên quan với nhau, cùng một nguồn gốc hay mỗi thứ đều riêng khác?
Lý Tứ ôn tồn nói:
- Thưa Lão Huynh!... Trong Phật đạo có ba hạng người như huynh vừa nêu ra. Ba hạng người này có ba cách nhìn và hiểu biết khác nhau về Phật đạo.
- Hạng thứ nhất, đó là những người không tin Phật đạo. Vì không tin nên đánh mất thiện căn, hạng này Phật đạo gọi là Nhất Xiển Đề.
- Hạng thứ hai, chạy theo các kiến chấp sai lầm, tựu trung có 62 thứ kiến chấp. Dùng đây trói buộc mình, người không tìm thấy con đường giải thoát nhẫn đến quả vị tối thượng, hạng này Phật đạo gọi là ác kiến.
- Còn hạng thứ ba đó là hạng người tu hành trong Phật đạo nhưng do thiếu trí nên có những kiến giải lệch lạc, hoặc vì si mê nên tin vào những điều không đáng tin, tin vào những điều không có cơ sở và chẳng được kiểm chứng bằng kinh điển. Phật giáo gọi hạng này là tà kiến...
Ba hạng người này không có mối liên hệ gì với nhau về nhận thức, nếu có mối liên hệ nào đó thì liên hệ này không lớn lắm...
Thứ nhất, tôi xin nói về Nhất Xiển Đề. Nhất Xiển đề là phiên âm từ Phạn văn của chữ “A tyan tka”, người Hán đọc là Nhứt Xiển Đề, A Xiển Đề Ca, A Xiển Đề hoặc Triển Đề... Chữ này có nghĩa là chẳng thành quả Phật... Cũng có khi dịch là“bất tín cụ”, tức niềm tin không đầy đủ.
Trong kinh Phật, chia làm hai loại Nhất Xiển Đề. Đó là: Bồ Tát Nhất Xiển Đề và Nhất Xiển Đề... Bồ Tát Nhất Xiển Đề là loại Bồ Tát chẳng mong muốn thành Phật quả và Nhất Xiển Đề tức hạng người niềm tin không đầy đủ (bất tín cụ)...
Hạng thứ nhất là Bồ Tát Nhất Xiển Đề chỉ cho những Bồ Tát chẳng mong thành Phật quả. Danh xưng Nhất Xiển Đề trong trường hợp này nhằm nói đến các Bồ Tát vì Bi nguyện mà chẳng chịu thành Phật. Ví dụ như ngài Địa Tạng vì thâm nguyện của mình mà không nỡ vào Niết Bàn khi thấy chúng sanh còn khổ đau nơi địa ngục... Hoặc như ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, phát nguyện rằng: “khi nào còn một chúng sanh chưa thành Phật thì bản thân mình chưa thành Phật”...
Hạng thứ hai, Nhất Xiển Đề có nghĩa là “bất tín cụ”. Nghĩa này để chỉ cho những chúng sanh niềm tin không đầy đủ. Đó là những hạng chúng sanh không tin có Phật quả và có các quả Thánh trong phật đạo, không tin giáo pháp của Đức Phật có thể dứt phiền não và các cột trói, thậm chí không tin nhân quả...
Hạng này do vì không tin Phật, Pháp, Tăng nên đánh mất căn lành, vì thế chẳng thể quy y Tam Bảo, chẳng thể tu hành trong Phật đạo. Không thể tu hành trong Phật đạo nên không có các quả vị an lạc, không quy y Tam Bảo nên chẳng có chỗ nơi để sám hối ba nghiệp lỗi lầm... Vì thế Phật dạy hạng này phải chịu quả báo về những nhận thức không đầy đủ nói trên...
Tuy nhiên Phật cũng dạy, đối với hạng chúng sanh như thế, sau khi tạm thời đánh mất căn lành do ngu mê, phải chịu quả báo khốc liệt nơi đường dữ thời gian dài lâu, sau đó thức tỉnh nếu có duyên lành, phát khởi tín tâm, người này tu hành rồi cũng được các quả vị bậc Thánh cho đến Phật quả. Vì Phật Tánh là thường... Và “Nhất Xiển Đề cũng có Phật Tánh...”
Thứ hai, tôi xin trình bày về nghĩa “ác kiến”. Chữ “ác kiến” trong Phật đạo thông thường để chỉ cho các ngoại đạo và những kiến chấp sai lầm...
Những kiến chấp nào có tính trói buộc, đi ngược lại ý nghĩa giải thoát đều gọi chung là ác kiến... Cho nên, có thể hiểu ác kiến là những hiểu biết không làm cho chúng sanh giải thoát, đưa chúng sanh đến mờ tối, trái với quan điểm giải thoát của Phật giáo... Vì thế kinh Lăng Già Phật nói: “Các ngoại đạo kia bị ác kiến nuốt sống”.
Ác kiến thuộc về lợi sử, tức những người bị các món lý luận được cho là cao siêu của thế gian trói buộc...
Thứ ba là tà kiến. Chữ tà có nhiều nghĩa, ở đây chúng ta chỉ đề cập đến ba nghĩa. Ba nghĩa này liên quan đến nhận thức tu hành đó là: Một, tà có nghĩa là: Lệch, cong... Nghĩa thứ hai của chữ tà là trái với chánh: Bất chánh... Thứ ba chữ tà được dùng trong các từ ngữ sau đây: Tà thuật, tà ma, yêu tà, tà thuyết...
Tà kiến là một trong những kiết sử... Vì thế chữ tà kiến trong Phật đạo nhằm nói nhiều đến nghĩa của chữ tà trong ý thứ nhất và ý thứ nhì... đôi khi cũng có đề cập ý nghĩa thứ ba nhưng rất hiếm...
Như vậy, nếu xét ở nghĩa thứ nhất và thứ nhì của chữ tà, thì tà kiến ở đây được hiểu rằng, tà kiến là chỉ cho những người tu trong Phật đạo mà thiếu trí tuệ, căn trí ám độn... nên hiểu biết giáo pháp sai lệch, hiểu biết không chân chánh... Vì hiểu biết sai lệch, hiểu biết không chân chánh nên dù người này có cố công cũng chẳng thể giác ngộ, chẳng thể thấu suốt... Cố công trong trường hợp này gọi là tà tinh tấn, tức là tiến lên trong sự không trong sạch, nỗ lực không đúng chánh pháp… kiến giải giáo pháp theo ý nghĩa tà vạy... tức những kiến giải này không thật sự đưa đến giác ngộ và thanh tịnh như pháp...
Để làm rõ nghĩa tà kiến, chúng ta có thể tham khảo đoạn kinh Kim Cang: “Nhược dĩ sắc kiến ngã; Dĩ âm thanh cầu ngã; Thị nhân hành tà đạo; Bất năng kiến như Lai”. Đoạn kinh này có nghĩa, đã là người tu hành trong Phật đạo mà không thấu suốt ý nghĩa Phật dạy, nên chấp thân tướng của Phật gọi là Phật, chấp văn tự lời nói của Phật cho rằng đó là Phật... Hạng người như vậy được gọi là đi đường tà (tà đạo), tà vì chẳng thể thấy được Như Lai, tức chẳng rốt ráo chân chánh biết được trí tuệ tối thượng...
Như vậy chữ “tà” trong đoạn kinh này nhằm đề cập đến những người tu trong Phật đạo mà hiểu biết sai lầm chứ không nhằm chỉ người ngoài đạo...
Hoặc ta có thể hiểu chữ “tà” qua câu chuyện kinh sau:
Phật dạy “Tỳ Kheo, ăn ngày một bữa, ít bịnh, ít não, thân thể khinh an, dễ đắc thiền định”. Có vị Tỳ Kheo nghe như vậy rồi ngẫm nghĩ và bạch với Phật: “Bạch Thế Tôn!... Con nghĩ, ăn ngày ba bữa, ít bịnh, ít não”.
Hiểu sai lệch, rồi thấy biết sai lệch, gọi là tà kiến...
Chữ tà kiến trong Phật đạo còn dùng để chỉ cho hạng người tu hành trong Phật pháp mà thiếu trí, cả tin... bị người khác dùng tà thuật, tà pháp, tà đạo, tà thuyết dối gạt... Do thiếu trí nên tin những thứ này là Phật pháp rồi chạy theo... Vì tin và chạy theo những thứ không chân chánh như vậy nên chẳng thể hết phiền não, chẳng được giải thoát...
Có thể nói, chữ tà kiến trong Phật đạo nhằm chỉ cho những người tu hành pháp Phật mà ít trí tuệ, hiểu biết sai lệch, tin vào những kiến giải hoặc hiện tượng không chân chánh... Kết quả của tà kiến là nhọc công tu hành mà không đưa đến giác ngộ...
Các vị!... Nói tà là vì có chánh. Tự thân những kiến chấp như thế, tự thân những niềm tin như thế không gọi là tà, vì đây là tự do của mỗi chúng sanh... Nhưng một khi đã dấn thân tu hành trong Phật đạo mà theo đuổi những kiến chấp này, tin vào những hiện tượng không chân chánh này, rồi coi đó là Phật đạo thì mới được gọi là tà...
Đã là Phật tử thì phải quang minh, mọi thứ đều có chuẩn mực của nó, không quơ đũa cả nắm...
Một người không tu hành trong Phật đạo, có quyền tin và có quyền nghe vào những gì mình cho là đúng cho là phải... Nghe và tin như vậy chẳng có gì là tà, thậm chí còn là chánh đối với bản thân họ... bởi chuẩn mực của họ là những thứ này...
Nhưng nếu đã là Phật Tử, lấy Tam Bảo là chuẩn mực và là chỗ cho mình nương cậy. Nhưng vì lý do nào đó, chỉ quy mà không y, vì không y nên dẫn tới hiểu sai, vì không y nên gởi gắm niềm tin vào những thứ không chân chánh.
Phật Tử mà y vào những thứ không chân chánh bây giờ mới gọi là “tà”... Có thể hiểu “tà” ở đây là lệch lạc so với cái “chánh”.
Tóm lại Nhất Xiển Đề, ác kiến và tà kiến như tôi vừa trình bày ở trên... xét tổng thể thì, nếu chúng sanh nào bị một trong ba thứ này đều không đưa đến đạo quả an lạc. Nếu xét riêng biệt thì mỗi loại phát sinh từ một nhận thức khác nhau... Cả ba thứ như vậy, Phật đạo đều gọi chung là “vô minh”...
Trên đây chỉ là kiến giải cá nhân tôi về ý nghĩa của ba thứ này. Huynh đệ!... Vị nào có kiến giải tốt hơn, xin mời tham gia để mọi người cùng tăng trưởng kiến thức... Nói đến đây, Lý Tứ đảo mắt nhìn mọi người rồi cung hai tay thủ lễ hướng về phía Thập Như nói lớn:
- Xin mời các vị… Xin mời!...
Như Bổn Mạt lại lên tiếng:
Thưa Lão Sư!... Ba thứ này trước nay đồ đệ có suy nghĩ nhưng không phân minh, nay được lão Sư cắt nghĩa, đồ đệ sáng tỏ rành mạch từng thứ... Từ đây biết đâu là Nhất Xiển Đề, biết đâu là ác kiến và cũng biết đâu là tà kiến... không còn nhầm lẫn nữa...
Lý Tứ thấy mọi người im lặng nên nói:
- Các vị!... Nếu không còn gì nghi hoặc, không còn gì thắc mắc, hoặc hiện tại chưa có thắc mắc, chúng ta tiếp tục uống trà... Nào Như Lực Cô Nương... Bày tuần trà thứ hai!...
(còn nữa)
Người Tu Hành Muốn Thành Tựu Phải Dứt Nghi. Muốn Có Trí Tuệ Phải Dứt Si Mê

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ
Lý Tứ lại nói tiếp:
Các vị!... Cho đến bây giờ, trong các vị, có ai còn thắc mắc điều gì thì hãy nêu lên để được giải đáp... Một trong mười kiết sử đó là nghi. Nghi chính là lực cản lớn nhất che mờ tâm trí. Người tu hành muốn thành tựu các thứ phải dứt nghi... Nghi chính là hòn đá lớn cản đường làm trở ngại tinh tấn và cũng là một trong những nguyên nhân khiến người tu hành đi vào lối tẻ và từ đây phát sinh tà kiến...
Nghi có nhiều thứ, nhưng tựu trung có ba:
- Một là nghi mình. Nghi mình là nghi tự thân không đủ sức thành tựu đạo quả bậc thánh. Chuyện này thường thấy ở đời, có những người cứ mở miệng rao giảng Đại thừa, mở miệng là “đao to búa lớn”, tối ngày bàn luận có không... thường xuyên chê bai kẻ khác là thanh Văn, là chạy theo văn tự... Thậm chí bắt chước Phật chỉ trích các quả vị của Nhị thừa... Điều họ rao giảng chưa xét đến đúng sai... Nhưng một khi có ai đó đề cập đến việc làm sao để thoát khỏi khổ phiền não, thì người này một mực chối quanh, trườn uốn như con lươn, cho rằng các quả vị Phật đề cập là của bậc thánh, mình là người thì làm sao có thể đến đó...
Các vị!... Hạng này ngoài miệng thì ngã mạn, nhưng thâm tâm thì hạ liệt... Hạng như thế, khó thành tựu Phật đạo... Giống như kẻ sợ ma, đi một mình trong đêm tối thường hay nói lớn... Nói lớn để trấn áp nỗi sợ hãi trong lòng, nói lớn để tự khỏa lấp cái lo sợ bản thân, chứ chẳng phải người này không sợ, chứ chẳng phải tự tại mà nghêu ngao...
Lại cũng có hạng vì tự mình không kham nổi ý nghĩa kinh điển, muốn khiến người khác cũng giống như mình... Vì thế, bác bỏ việc tìm tòi học tập, bác bỏ việc đọc tụng nghiên cứu, bài xích những ai ham ưa giáo pháp, sợ đụng đến ý nghĩa thâm u... Để che giấu cái yếu kém của mình, bày ra các thứ lỗi lầm khi đọc tụng văn kinh, khiến người nghe sợ hãi mà từ bỏ như mình... Hạng này là đồ đệ của ác kiến, phá hoại chánh pháp... Hành động như vậy mặc nhiên vô hiệu hóa pháp Phật mà không tự biết, lỗi lầm này khó bề sám hối...
Các vị!... Chớ có nên như vậy!... Hãy tin vào chính mình... Những gì người xưa làm được thì nay mình cũng nhất định làm được. Các quả vị Phật nói ra là chung cho vạn loại hữu tình, chẳng của riêng ai... Ai quyết tâm như pháp, người ấy sẽ thành tựu... Khi Ngũ Tổ hỏi Huệ Năng: “Ông đến đây cầu gì?” Huệ Năng đáp: “Đến để cầu làm Phật, không cầu cái khác.” Chính sự tự tin, chính cái mạnh mẽ mà thẳng thắn của Huệ Năng đã đưa con người quê mùa thất học này đến ngôi vị Tổ Sư... Có người cho rằng nói như thế là ngã mạn, xin thưa các vị, lời này không ngã mạn. Vì sao? Vì nói như những gì trong tâm suy nghĩ thì lời này không gọi là ngã mạn. Không nói hơn cái mình có thì chẳng thể gọi đó là ngã mạn. Không nói quá cái biết cái thấy của mình thì chẳng thể gọi đó là tăng thượng mạn... Bao giờ Huệ Năng nói rằng tôi đang là Phật, hoặc tôi bằng thậm chí hơn Phật, thì câu này mới đáng trách, đáng gọi là ngã mạn, tăng thượng mạn... Còn nói để cầu học, nói để thực hiện bản hoài của chư Phật, thì những câu như vậy, những ý tưởng như vậy thiệt đáng cho ta học tập...
- Thứ hai là nghi người. Nghi người ở đây là nghi bậc đạo sư... Khi nghe bậc đạo sư giảng giải, không lãnh hội hết cũng chẳng hỏi lại. Vì chẳng hỏi lại nên tâm trí không thông, không thông thì trong lòng nghi hoặc là điều khó tránh khỏi...
Phật đạo là đạo của trí tuệ nên mọi thứ liên quan đến việc tu học cần phải minh bạch.
Vì thế, điều gì chưa thông thì nên hỏi lại cho thông, không vì lý do nào đó mà để trong lòng...
Chúng ta tôn trọng nhau không có nghĩa là tôn trọng cả cái đúng lẫn cái sai... Tôn trọng nhau không có nghĩa những điều trong lòng chưa minh bạch mà không dám hỏi… không có nghĩa chấp nhận một vấn đề mà không cần biết lý do, không cần xét nét đúng sai... Làm như thế, vô hình trung trở thành kẻ si mê...
Như thế nào gọi là “Si” trong Phật giáo. Tôi xin đưa một ví dụ, các vị có thể nhân ví dụ này mà hiểu nghĩa. Ví như có người nam bắt gặp người nữ, rồi đem lòng yêu thương, thương quá hóa cuồng... Nam nhân không cần tìm hiểu thân thế người nữ, không cần biết người nữ đức hạnh ra sao, xuất thân tốt xấu, tiền sử dữ lành... Gặp người hiểu biết, chỉ ra rằng người nữ kia là giống La Sát, đêm đến ăn thịt người... Người này vì quá si mê, bỏ ngoài tai tất cả những gì đã nghe, bất chấp đúng sai, bất chấp phải quấy... Vì si mê người nữ, nên bằng mọi giá chỉ cần sống chung là mãn nguyện... Và hậu quả của si mê là nam tử ấy phải chuốc lấy khổ hoạn vào thân... Si mê có tác hại lớn như vậy...
Các vị!... Vì thế muốn có trí tuệ phải dứt si mê. Muốn dứt si mê cần phải minh bạch, điều gì chưa thông thì phải hỏi lại... Không nên chấp nhận vấn đề được nêu ra một cách mù quáng... Khi ai dạy mình điều gì, phải cần hỏi lại, vì sao ông dạy tôi cái này, tôi thực hiện theo lời nói của ông thì được những gì, không làm theo thì hại gì... Có nghĩa thực hành một điều, hay từ bỏ một điều, nhất nhất phải biết rõ lý do của nó. Cần hiểu rõ lợi ích của việc thực hiện hay từ bỏ sẽ đưa đến dứt nghi, và hiểu rõ thì mới thực hành đúng. Việc làm có đúng mới cho ra kết quả đúng đắn...
Cần nhất, hiểu rõ việc đang làm thì hồ nghi tự dứt... Có hỏi lại chỗ chưa thông, vị đạo sư mới nhân đây mà giải đáp cặn kẽ. Cặn kẽ rồi thì trong lòng nhất định dứt mối nghi về đạo sư của mình... Dứt nghi là một trong những hình thức tôn trọng. Dứt nghi mới có cung kính, có cung kính mới thực hành rốt ráo những lời được chỉ dạy...
- Thứ ba là nghi pháp. Nghi pháp là nghi cái mình đang thực hành có rốt ráo đưa đến giải thoát hay lại thêm trói buộc. Nghi pháp là nghi những gì đạo sư chỉ dạy có đưa đến an lạc hay chỉ chuốc lấy phiền não. Nghi pháp là nghi rằng những điều mình được nghe nói có phải là chánh pháp hay tà thuyết... Các vị!... Muốn dứt cái nghi này phải căn cứ vào lời dạy của Phật. Muốn dứt cái nghi này phải có sự thông cảm của hai bên. Muốn dứt cái nghi này trước tiên cần phải giác ngộ... Vì thế muốn dứt cái nghi này, cần có sự nỗ lực của cả hai bên, đó là nỗ lực của đạo sư và nỗ lực của người cầu học... Và cả hai, mỗi mỗi đồng căn cứ vào lời Phật dạy… gọi là nương thần lực chư Phật...
Thế nào là phải căn cứ vào lời Phật dạy? Lời Phật chính là mực thước để người tu hành y theo đó xác định đúng sai. Giống như người thợ hồ, muốn xây chiều đứng phải có dây dọi, muốn cân chiều ngang phải có thước thủy... Đây là công cụ để người thợ xác định đúng sai... Phật pháp cũng có những công cụ như vậy. Trước khi nhập Niết Bàn, Phật có di huấn lại, để đời sau biết đâu là lời Phật, đâu là chẳng phải...
Phật dạy: “Người tu hành nên căn cứ vào hai điều, đó là: Giới luật và nghĩa kinh... Giới luật lấy Ba La Đề Mộc Xoa làm thầy, nghĩa kinh lấy tứ Niệm Xứ làm chỗ nương tựa... Lời nào phù hợp với giới là lời của Phật, Pháp nào đưa đến thanh tịnh, sáng tỏ bốn niệm xứ là phù hợp nghĩa kinh…”.
Phật cũng dạy: “Nơi nào, những ai làm cho các ông an lạc, làm cho các ông thấu triệt diệu lý, thì dù người đó có đánh đuổi các ông cũng không được bỏ đi...”. Cái này phụ thuộc vào hai bên. Thứ nhất thuộc về người thính pháp... Người thính pháp phải thỉnh hỏi đạo sư cặn kẽ để dứt cái nghi về người. Người thuyết pháp phải thiện xảo giúp người thính pháp giải tỏa nghi hoặc và mau chóng đưa họ đến giác ngộ như pháp... Khi đã thật sự giác ngộ thì nghi hoặc chấm dứt, kiết sử trói buộc không còn thì thế lực trì kéo sẽ bị triệt tiêu...
Điều này Phật có đưa ra ví dụ: Như con chó, khi ném một vật, tức thì con chó chạy theo vật bị ném... Con sư tử khi ném một vật, sư tử sẽ vồ ngay chủ thể ném ra vật đó... Thì cũng vậy, người tu hành, như con sư tử, khi nghe thuyết pháp, liền vồ ngay nguồn tâm của mình, chẳng như con chó kia chạy theo văn tự... Vồ ngay nguồn tâm sẽ giết chết đối tượng làm cho tâm này điên đảo. Người thuyết pháp, đối trước người thính pháp, không chạy theo tiền đề hươu vượn đảo điên của người nói đưa ra, mà hãy vồ ngay nguồn tâm khiến họ mau giác ngộ...
Với người chưa giác ngộ, chớ có giảng giải đạo lý nhiều... Giống như người uống rượu, say quá hóa mê. Vì mê, lầm tưởng gốc cây bụi cỏ là nhà... Người đời chưa giác ngộ như kẻ nghiện rượu, sáu căn uống sáu thứ rượu trần cảnh cả ngày lẫn đêm, uống riết từ say đến mê. Vì mê nên chẳng biết “mặt mũi xưa nay”, lấy ba cõi làm nhà, lấy dục ái làm cha mẹ... Đối với người đang say mê vì rượu như thế, chớ có nên giảng giải đạo lý, mà biện pháp trước mắt là hãy làm cho họ tỉnh dậy hết say. Thì cũng vậy, đối với người đời say mê trần cảnh danh tướng, thì không vội giảng giải đạo lý cao siêu, mà hãy làm cho họ dừng lại, thôi không uống trần cảnh nữa... Một khi người kia tĩnh tâm tĩnh trí, bây giờ giảng giải đạo lý cũng không muộn... Bằng làm ngược lại thì thứ đạo lý nói ra chẳng khác người say nói chuyện với người say, người mê giảng giải đạo lý trong mê, không có nhiều ích lợi...
Giảng giải trong hoàn cảnh như thế cũng gọi là điên đảo. Chẳng những tự mình điên đảo mà thêm khiến người điên đảo... Tự mình điên đảo mình chịu được rồi, khiến người điên đảo tội nghiệp cho họ... Các vị!... Chớ có làm như vậy!...
Đó là lý do vì sao Phật chưa sẵn sàng nói thật nghĩa khi tâm đồ đệ còn hư dối. Đó là lý do vì sao Phật phải ba lần chuyển Pháp Luân. Đây là lý do vì sao đồng một Phật đạo lại có quyền có thiệt... Ngày trước, khi còn tại thế, Phật dùng Tứ Đế để chuyển pháp luân lần thứ nhất tại vườn Lộc Uyển, giống như làm cho người say giã rượu.
Lần chuyển thứ hai tại núi Kỳ Xà Quật khai nói Diệu Pháp Liên Hoa, như người say đã tỉnh, bây giờ mới giảng giải đạo lý để người kia hồi tưởng tên họ thân thế quê quán của mình mà biết đường về...
Lần chuyển thứ ba tại thành Câu Thi Na, giống như người say kia đã về đến quê quán, bây giờ biết đích thực mình là ai. Vì thế thật nghĩa mới được nói ra, đó là “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật Tánh”. Có nghĩa ba cõi chính là Phật quốc, ông đang là Phật, trước đây vì say mê ngủ bờ, ngủ bụi mà quên mất cái cao quý của tự thân... Như gã cùng tử, làm thuê làm mướn kiếm sống qua ngày mà chẳng biết cha mình là trưởng giả...
Các vị!... Nhưng vì sao đồng là Phật đạo, mà người tu hành lại hiện khởi các mối nghi? Ngoài những ý nghĩa như tôi đã nói, còn một lý do khác khiến người chưa thông hiểu Phật lý phát sinh nghi ngờ... Đó là: Chính cái thâm u muôn màu muôn vẻ của Phật đạo!...
Nếu có người nào đó, nhìn Phật đạo dưới nhãn quan tôn giáo thì thấy Phật đạo là một tôn giáo, vì ở đây có đầy đủ màu sắc của tôn giáo, vì rằng cũng có các nghi lễ, cũng có giáo chủ, cũng có giáo điều... Nếu ai đó nhìn Phật đạo dưới nhãn quan triết học, thì thấy Phật đạo đúng là triết lý, vì ở đây cũng có lý luận khúc triết, cũng có suy tư và trăn trở, cũng có các khái niệm vũ trụ nhân sinh... Nếu nhìn Phật đạo dưới con mắt của một nhà giáo dục thì Phật đạo lại là một nền giáo dục, vì ở đó có đầy đủ giáo trình giảng dạy, có học thuật, có các thứ cần có của một nền giáo dục chính thống...
Như vậy Phật giáo đích thực là cái gì... Xin thưa các vị, Phật đạo là Phật đạo chẳng là cái gì hết!... Nếu Phật đạo là cái gì, thì thứ đã nhìn thấy là cái đó chứ chẳng phải Phật đạo...
Giống như viên ngọc dưới ánh sáng mặt trời, nó có màu gì... Xin thưa viên ngọc kia không màu... Vì không màu, nên tùy vào góc nhìn, tùy vào ánh sáng mà người ta cảm nhận viên ngọc kia có nhiều màu sắc khác nhau... Nếu quả thật viên ngọc có một màu nhất định thì mọi người dù nhìn ở góc độ nào cũng chỉ thấy đồng nhất một màu...
Điều này đưa đến kết luận gì? Xin các vị hãy rời xa nhãn kiến của mình thì sẽ thấy ý nghĩa đích thực của Phật đạo...
Dùng nhãn quan của một cá nhân hay một nhóm người rồi đánh giá Phật đạo là gì thì nhãn kiến này sẽ làm chúng ta chấp nhất và nghi ngờ... không giúp tự thân và mọi người thấu suốt đạo lý... Chính vì điều này mà…
⁎ Phật thường tuyên nói: “Không pháp mới là Phật pháp”. Có nghĩa: Nếu còn một pháp nào, thì đó là pháp chứ chẳng phải Phật pháp...
Giống như người ngủ mê thấy mình chạy qua nhiều thành ấp, bảo rằng những thành ấp là có thì kết luận này không đúng, nhưng ngược lại một bề quyết rằng thành ấp này là không thì điều này cũng trật... Muốn thấy chân thật là có hay không, xin các vị hãy thức dậy đi. Khi thức dậy thành ấp là có hay không, là đẹp hay xấu, nó như thế nào... sẽ tự biết rõ!...
Nhưng thưa các vị!... Vì sao Phật đạo lại muôn màu muôn vẻ như thế? Chỉ vì chúng sanh tâm nghiệp chẳng đồng, chỉ vì chúng sanh căn cơ sai khác, chỉ vì chúng sanh ham ưa mỗi loài một thứ... Để khiến hết thảy đồng rời những dị biệt hư dối kia, mà Phật phải nhọc lòng hóa hiện muôn hình muôn vẻ, dùng sai khác để dẫn hữu tình về cái chẳng khác. Dùng quyền để dần dần nói cái thiệt... Cái thiệt nói ngay, như đứa trẻ ăn đồ sống sẽ phát bệnh cuồng... Vì thế, kinh Phật có dạy: “Vì thương chúng sanh nên Như Lai vẽ các hình”. Đã đến lúc, các vị!...
Hãy từ bỏ thấy nghe sai khác, đã đến lúc phải quay về với chỗ đồng... Thanh tịnh tâm chính là bến bờ, chính là bãi đỗ, chính là cội nguồn của những kẻ lạc loài...
Các vị!... Mười người các vị, ít ra đến giờ phút này cũng thấy được tác hại của sáu thứ rượu trần cảnh. Có người dừng uống, có người đã tỉnh hẳn, có người sắp làm một cái gì đó khi biết mình hết say sưa... Con đường trước mặt còn rất dài...
Ai còn nghi ngờ gì trong hoàn cảnh này, cần thiết phải nêu lên. Nêu lên để tất cả cùng mổ xẻ, cùng nhau làm sáng tỏ... Sáng tỏ để chuẩn bị làm một hành trình mới dài hơn trong Phật đạo... Nào xin mời các vị, nếu chưa dứt nghi quyết chưa đi tiếp...
Nói đến đây, Lý Tứ đảo mắt nhìn mọi người một lượt, rồi nói:
Như Lực Cô Nương!... Cô Nương hãy tận dụng hết những gì có được trong khả năng của mình... Chế một bình trà thật ngon rồi mời các bằng hữu... nâng chén... Nào Cô Nương hãy nhanh lên... Như Lực!...
(còn nữa)
Phật Pháp Là Pháp Xả. Thiệt Tướng Của Vạn Pháp Là Không Tướng

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ
Lý Tứ lại quắc mắt nhìn sang phía Như Báo, gục gặc cái đầu ôn tồn hỏi:
- Như Báo!... Ông đang suy nghĩ cái gì?
Như Báo trả lời:
Thưa Lão Sư!... Con đang tư duy câu nói của Lão Sư đó là: “Phật đạo có thể biến quả người thành báo thánh, quả ác thành báo lành”.
- Ông hiểu như thế nào về câu nói này?
Thưa Lão Sư!... Bây giờ con mới thoát hẳn ra khỏi nghi hoặc xưa nay, đó là vì sao Phật dạy trên Cực Lạc cây vàng sanh trái bạc, cây lưu ly sanh trái mã não... Nhân sinh ra thân con là tham ái, thân của con đây là quả, quả này không thể làm khác. Nhưng nếu thấu suốt bốn Đại không tánh, tâm này bổn lai tự không, ngã kia không thật... thì cho dù đang mang thân phàm tục, sinh ra từ ái dục mẹ cha... Nhưng diệu lý chư Phật là loại công nghệ cao, có thể biến tính chất chua ngọt ở trong thân này là tâm, từ phàm sang thánh... từ ngu si thành trí tuệ... Như người ta có thể biến quả cam từ chua thành ngọt, như Phật đã biến kẻ giết người không gớm tay Ương Quật Ma La thành một A La Hán...
Bây giờ con mới hiểu vì sao trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Phật Đa Bảo mang nguyên nhục thân đến nơi đâu có Phật tuyên nói kinh này để xưng tán... Con cũng thấu suốt luôn vì sao chư Phật khi thị hiện thành Đẳng Chánh Giác cũng thị hiện sinh ra bằng thân tướng như con người... Cũng sinh ra lớn lên... nhưng Phật lại tuyên nói đã thành từ vô lượng kiếp chứ không phải nay mới thành... Kinh cũng nói chỉ cần ai tin điều này thôi, được vô lượng công đức...
Con cũng hiểu luôn vì sao Phật không để cho các tha Bồ Tát hộ trì kinh Diệu Pháp Liên Hoa mà nói rằng chỉ có các Bồ Tát ở phương này mới đủ sức hộ trì...
Lý Tứ nói tiếp:
- Như Báo!... Ông có thể tuyên nói cặn kẽ những điều trên cho mọi người cùng nghe được không?
Thưa Lão Sư!... Khi nghe Như Quả Lão Huynh nói về nghĩa như thị, tâm con chợt rỗng rang... Con thầm nghĩ, chỉ một niệm bất giác, hữu tình trôi lăn trong ba cõi... Nếu tự tâm không bất giác, thì nhân kia do đâu mà có... Nhân đã không thì duyên cũng không... Quả báo... cũng như thế mà tự không... Tính chất của ba cõi là cột trói, nên cây nào sanh quả ấy... Nếu thoát ra khỏi sự cột trói này, không một tính chất có thể có được... thì tại sao cây vàng không sanh trái bạc, cây lưu ly tại sao không sanh trái mã não... Nhân quả không còn tương tục thì nhân này sinh quả kia cũng đâu có gì là lạ...
⁕ Từ đây cho thấy thiệt tướng của vạn pháp là không tướng... đã là không tướng thì tướng vàng bạc lưu ly... có thể hóa sanh...
Nhưng vì sao, từ cung trời Đâu Suất đản sanh vào cung vua Tịnh Phạn, Phật cũng phải thị hiện thân người?
- Thứ nhất: Vì hữu tình ở đây là nghiệp người nên không thể thấy khác...
- Thứ hai: Nếu thị hiện bằng thân hóa sanh, thì hiệu quả thuyết pháp không được con người chấp nhận, bởi lẽ chúng sanh chấp Tướng... Đạo vô thượng lại khó thấy... Cho nên nếu thị hiện thân nghiệp khác, khi tuyên nói Phật pháp, chúng sẽ đổ thừa, ông là huyễn nhân nên thành Phật được, còn thân tôi do cha sanh mẹ đẻ làm sao mà có thể bắt chước được...
- Thứ ba: Thân ông từ trời sa xuống nên không tham hoặc chẳng cần các thứ... vì thế có thể từ bỏ tham sân, còn đã là người thì không thể nào bỏ các thứ ấy...
- Thứ tư: Thân ông không khổ, vì chẳng có tính chất của khổ... Thân người đầy đủ tính chất kia thì hết khổ là làm sao...
- Thứ năm: Ông chưa từng tham nên nói rằng tham là khổ... Làm sao ông biết tham là khổ? Chưa thân chứng điều này thì lời Pháp một khi thốt ra trở thành hư dối... Các thứ pháp khác như ái biệt ly, cầu bất đắc... cũng đồng được chúng sanh hiểu như vậy...
Đây cũng là nguyên nhân vì sao Phật không chấp nhận cho tha Bồ Tát hộ trì Phật Tri Kiến mà chỉ dành cho Bồ Tát cõi này, vì Bồ Tát cõi này dưới con mắt của chúng sanh, xuất thân Hữu Vi Bồ Tát không khác gì họ... Nay Bồ Tát tu được thì các chúng sanh này cũng tu được, Bồ Tát thành tựu trí tuệ thì người đời cũng có thể thành tựu trí tuệ...
Cõi này, Phật Tri Kiến thành tựu nơi nhục thân chứ không phải thành tựu từ cái gì khác, nên nói quả phàm mà báo thánh... Như sen kia chỉ mọc trên bùn chứ chẳng thể mọc nơi hư không hay gò nổng... Phật tri kiến chỉ thành tựu nơi cõi đời ác thế ngũ trược... Như thầy thuốc hay chỉ hay giữa những người bệnh... Nếu không có bệnh nhân thì cái hay của thuốc men chẳng thể thành tựu... Chính ý nghĩa này mà Phật Đa Bảo mang nguyên nhục thân đến xưng tán công đức thuyết kinh Diệu Pháp Liên Hoa...
⁎ Thưa Lão Sư!... Vì sao Phật nói: “Chư Phật đã thành Phật từ vô lượng kiếp... thân Phật chẳng phải như thân huyết nhục, chẳng phải do cha sanh mẹ đẻ... lớn lên bằng cơm cháo... nuôi sống bằng thuốc men”… Câu này có hai điều:
Thứ nhất: Phật dạy trong kinh Kim Cang: “Ta không có một chút pháp chi gọi là thành tựu, Phật Nhiên Đăng mới thọ ký cho ta đời sau thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni”.
Điều này có nghĩa là: Thành Phật là thành cái không thành... Phật pháp là pháp xả... như viên ngọc quý vùi lâu trong sình bùn... cạo bỏ sình bùn đeo bám bên ngoài thì viên ngọc tự hiện ra với đầy đủ tính chất quý báu của nó...
Có nghĩa rằng, thành Phật là xả bỏ những gì ngu si đeo bám trí huệ, làm mờ tối trí huệ... Thành Phật là tìm lại cái tự đã có từ vô lượng trước chứ chẳng phải làm ra cái mới... Vì thế, nghe pháp là bỏ đi cái được nghe chứ không phải đeo bám kiến thức... Nghe pháp là bỏ đi cái chấp nhất chứ không phải học thêm cái mới để nó trói buộc như học vấn thế gian... Nói chung, thành Phật là thành cái đã tự thành...
Thứ hai: Cũng trong kinh Kim Cang Phật dạy: “Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai”. Cũng kinh này Phật lại dạy:
“Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như Lai”.
Có nghĩa: Hai điều trên Phật đồng cảnh báo, đừng nên thấy thân tướng hay âm thanh mà cho đó là Như Lai... Thân tướng, âm thanh... không phải là Như Lai thì cái gì mới là Như Lai... Thưa Lão Sư!... Như Lai đích thị là trí tuệ tối thượng hay còn gọi là Pháp Thân Phật vậy... Cho nên Phật ân cần căn dặn, chỉ cần ai tin Như Lai chẳng phải do cha sanh mẹ đẻ... thôi, cũng phát sinh vô lượng công đức... Vì Sao? Vì công đức do trí tuệ sanh chứ chẳng phải do tướng tạo tác sanh...
Vì thế, tin trí tuệ tối thượng mới thật là Phật, thì niềm tin vào trí tuệ này sẽ nhân trí tuệ mà thành tựu trí tuệ, có trí tuệ là có công đức...
Thưa Lão Sư!... Con trước đây là kẻ u mê vô trí... chỉ đem cái thân hì hờm này ra giang hồ mà dọa nạt người khác, chẳng có một chút trí tuệ... Tháng ngày phiền não, chỉ lấy tranh đấu hơn thua làm vui... Nhưng cái vui này thật giả tạm... Từ ngày Lão Sư hóa sanh ra con, cái ngu tự dứt... Trí tuệ bỗng dưng sáng suốt...
Bây giờ con mới hiểu được ý vị câu nói của Lão Sư: “Chỉ có tâm vô lậu, trí vô lậu, mới hiểu kinh Phật, vì kinh Phật là ngữ ngôn vô lậu”. Ví như chỉ có con cá mới thấm nhuần văn hóa thủy tộc... Con tự biết từ đây vĩnh viễn thôi hết mê lầm...
Ơn đức hóa sanh của Lão Sư, con xin đem cái quả không thể đổi thay trong đời này là thân con, lấy nó giữ gìn cái báo an lạc là trí tuệ này, để làm lợi ích cho tất cả hữu tình... Con tự nghĩ chỉ có làm như vậy mới đền đáp công ơn Lão Sư, công ơn chư Phật... Con nguyện từ đây đến tận đời vị lai, có sinh ra nơi nào cũng vì tất cả chúng sanh... Xin Lão Sư và các huynh đệ chứng minh cho tâm nguyện của con... Nói đến đây, Như Báo bước khỏi chỗ ngồi hướng về phía Lý Tứ và mọi người lạy ba lạy...
Đợi Như Báo ngồi vào vị trí của mình, Lý Tứ nghiêm giọng:
Như Báo!... Sức thông tuệ của ông đúng là “báo lành”. Thân tâm có như thì trí mới như, trí có như thì lực mới như, lực có như thì tác sẽ tự như... Như chiên đàn tự tỏa hương, những ai có tỷ căn sẽ ngửi được mùi thơm của nó...
Như Báo!... Cứ như thế!... Như thế!... Mọi tốt lành sẽ đến với ông...
(còn nữa)
Thập Như Thị. Tập Nhân. Giao Báo

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ
- Trung Nguyên Cửu Tuyệt và một lão lái đò vị chi mười người... nay giang hồ không còn bóng dáng những cái tên này nữa, mà Phật đạo lại xuất sanh Thập Như. Ha ha... ha ha...
⁕ Thập Như!... Thập Như... Các vị có đồng ý cái tên mới này không?
Mọi người hoan hỷ, Lão Trượng lên tiếng trước:
Thưa Lão Sư!... Thưa các huynh đệ!... Rất hay!... Hay mà thanh tịnh!... Lão Sư đúng là Lý Thập Như... còn con là Lý Như Nhân...
Lão Đại vội vã nói:
Voi chúa đi đâu, voi con theo đó... Lão Trượng giành mất cái tên Như Nhân thì đồ đệ cũng xin được tiếp nối với cái tên là Như Duyên... Hay thiệt, từ nay con sẽ là Lý Như Duyên con của Lý Thập Như, em của Lý Như Nhân... Ha ha ha!... Anh Em chúng ta đồng Họ Lý... Nào Là Như Nhân, Như Duyên, Như Tánh, Như Tướng, Như Lực, Như Tác... Ha ha Thập Như vậy... Đúng là “Tôi nghe như vậy...” Ha ha ha ha!...
---•••⁕ ⁕⁕ ⁕•••---
Cả mười người theo thứ tự chọn một tên.
Đầu tiên Lão Trượng là Như Nhân, Lão Đại là Như Duyên, Lão Nhị là Như Quả, Lão Tam là Như Báo, Lão Tứ là Như Tánh, Lão Ngũ là Như Tướng, Lục Đệ là Như Thể, Thất Muội là Như Lực, Bát Đệ là Như Tác, Cửu Đệ là Như Bổn Mạt... địa vị trước sau không đổi... chỉ có Lão Trượng lên làm anh cả... Mọi người hoan hỷ với cái tên mới này... Chọn xong Như Nhân lên tiếng:
Thưa Lão Sư!... Thưa các huynh đệ!... Hôm qua là ngày huynh đệ chúng con vui nhất trong đời, đó là ngày Lão Sư chính thức nhận mười anh em chúng con làm học trò... Hôm nay là ngày vui thứ hai, mười người làm con một cha, đồng là họ Lý... Nói đến đây lão rót trà ra ly rồi mời mọi người nâng cốc... Đợi mọi người uống xong, lão nói tiếp:
Thật là nhân duyên hy hữu, hoàn cảnh hôm nay, làm đồ đệ nhớ lại phẩm “Tòng Địa Dõng Xuất” trong kinh Pháp Hoa... Đó là người cha còn nhỏ mà các con có người râu tóc bạc phơ... Không ngờ chuyện kinh trở thành hiện thực...
Thưa Lão Sư!... Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, khi khai Phật Tri Kiến, Phật cũng có nói đến “Lý Thập Như”... hay còn gọi là: Thập Như Thị. Nay mọi người nhờ nhân duyên này mà có tên riêng của mình theo trình tự Thập Như... Xin Lão Sư giảng giải ý nghĩa của Thập Như Thị cho chúng đồ đệ tường tận...
Lý Tứ lên tiếng:
Các vị!... Thập Như Thị được Phật đề cập đến trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa... Sau khi ngài Xá Lợi Phất ba lần thưa thỉnh... Phật im lặng một hồi rồi nói:
“Thôi đi Xá Lợi Phất, không nên hỏi nữa. Vì sao? Vì pháp mà chư Phật đã chứng khó thấy khó biết, không phải dùng cái biết của phàm phu mà biết được[1]... Chỉ có Phật với Phật mới thấu suốt thiệt tướng của vạn pháp... Vì sao? Vì các pháp thành tựu được không ngoài mười phạm trù đó là: Nhân, duyên, quả, báo, tánh, tướng, thể, lực, tác, bổn mạt cứu cánh như vậy...”
Các vị!... Nếu mười phạm trù này mà hiểu theo ý nghĩa thế gian thì:
- Các pháp sở dĩ có được là bởi nhờ có hạt nhân ban đầu, giống như có hạt giống mới có cây trái.
- Hạt giống này muốn thành tựu phải đầy đủ duyên lành.
- Nhờ duyên lành mà cho ra kết quả gọi là quả.
- Trong cái kết quả đó sẽ có ý vị của nó, ý vị này gọi là báo...
- Nơi báo kia tùy nghiệp hiện các tính chất gọi là tánh. Ví như trái khổ qua, người ăn thấy ngọt kẻ ăn thấy đắng.
- Từ tánh chất ngọt đắng mà sinh các thứ tướng ghét ưa, ưa thì vui vẻ, ghét thì nhăn nhó, “vui vẻ”, “nhăn nhó”gọi là tướng...
- Thể của ưa là mong cầu, thể của ghét là xa lánh...
- Do mong cầu hay xa lánh nên xuất ra các ý tưởng hoặc tham hoặc sân gọi là lực.
- Lực này vô hình nhưng có thể tạo nghiệp lành dữ nên gọi là tác.
- Một khi tác rồi thì cứu cánh khổ vui trước sau không thể tránh khỏi...
Phật tuyên nói Thập Như Thị theo trình tự trên, là có nguyên nhân của nó... Vì bởi người đời khổ vui sanh diệt không ra khỏi mười phạm trù này, và nằm trong một quy luật nhất định... Nếu chẳng có nhân, thì duyên kia vô nghĩa... giống như không có hạt giống thì cấy cày phân bón không có chỗ dùng…
Sở dĩ chúng sanh hiện tướng khổ vui tham sân vì trong lòng có tích chứa hạt giống tham sân, giống như đứa bé mới sinh ra, không ai dạy mà tự biết dỗi hờn...
⁎ Hạt giống vô hình này Phật đạo gọi là “Tập Nhân”. Trong lòng đứa bé đã tích chứa tập nhân khổ vui nên nay vừa sinh ra tự biết biểu lộ tình cảm...
⁎ Các duyên thấy nghe Phật gọi là “giao báo”.
Tập nhân tích chứa trong lòng thông qua giao báo của thấy nghe... cho ra “cõi nước” tức là các thứ tướng khổ vui. Biểu hiện của tướng khổ vui đó là mười kiết sử. Các kiết sử này chính là quả của nhân kia gọi là quả báo... Và từ đó biện biệt cùng trói buộc dẫn dắt hữu tình luống sâu vào phiền não... Tánh, tướng, thể, lực, tác, rốt ráo trước sau hiện khởi... như con tằm nhả tơ tự trói...
Các vị!... Tu hành trong Phật đạo là làm sạch tập nhân vô hình đó... Một khi trong tâm không còn tập nhân, nhân đã không thì mười phạm trù kia tự không. Có nghĩa tâm thanh tịnh thì kiết sử sẽ không hiện khởi. Kiết sử không hiện khởi thì cõi nước cũng thanh tịnh. Cõi nước thanh tịnh thì tánh, tướng, lực, tác đồng đưa người đến thanh tịnh. Nhân quả bây giờ sai khác, như cõi Cực Lạc cây vàng sanh trái bạc, cây lưu ly sanh trái mã não, tiếng chim lại kêu thành tiếng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng... chẳng như quả báo ba cõi.
Vì thế Phật đạo có thể biến “Quả người mà báo thánh, quả ác thành báo lành”.
Quả báo vô lậu không như quả báo thế gian người đời thường hiểu... Giống như mặt trời lên thì nỗi ám ảnh hãi sợ bóng ma tự dứt... Nỗi ám ảnh không còn thì tánh tướng và các mối đe dọa vô hình từ con ma không còn. Cũng cảnh đó mà thể, lực, tác bây giờ là an vui chứ không phải đau khổ sợ hãi...
Tóm lại Thập Như Thị chính là nguyên lý hình thành khổ vui ba cõi, và Thập Như Thị cũng chính là nguyên lý để bậc Thánh thoát ra khỏi trói buộc ba cõi... Vì thế Thập Như Thị được Phật đề cập đến trong giáo trình giảng dạy Phật tri kiến. Có nghĩa là học Phật tri kiến hay học Nhất thiết trí, là một giáo trình Phật giảng dạy cho Bồ Tát gồm nhiều thứ, trong đó có Thập Như Thị. Thập Như Thị chính là một học phần trong toàn bộ giáo trình nhiều học phần này…
Học Thập Như Thị cơ bản là học nguyên lý hình thành ba cõi và nguyên lý thoát ra khỏi trói buộc ba cõi. Thành tựu cơ bản này mới có thể học các học phần khác. Đó là học thêm các thứ phương tiện thiện xảo, giúp hữu tình hết phiền não và tiến đến Phật quả...
Muốn học được nguyên lý này, người học phải hội đủ một số điều kiện nhất định... Đó là: Nếu Nhị thừa thì vị này phải là một A La Hán, nếu là Bồ Tát thừa thì vị này phải thấu suốt hai vô ngã, tâm pháp rỗng không...
Vì thế, kinh Diệu Pháp Liên Hoa chỉ tuyên thuyết chủ yếu với Nhị thừa gồm toàn “hạt chắc”, có nghĩa hội chúng là những đệ tử đã chứng Thánh... hoặc trí tuệ tương đương một vị Thánh... Còn đối với Bồ Tát muốn học cái này thì phải như Thiện Tài Đồng Tử trong kinh Hoa Nghiêm, đó là Tâm vị này phải như hư không... Các công đức có được đều hồi hướng về Vô Thượng Bồ Đề... Đây là điều kiện “ắt có và đủ” để có thể lãnh hội toàn bộ giáo trình Phật tri kiến trong đó có học phần “Thập Như Thị”...
Các vị!... Thập Như Thị được khởi đầu bằng hai chữ “Như Thị”... Muốn thấu suốt Thập Như Thị, phải thấu suốt ý nghĩa hai chữ Như Thị (Như Vầy)... Như vậy…
⁎ “Như Thị” là nghĩa như thế nào? Trong kinh Phật di huấn lại, ngày sau khi kết tập, đầu kinh phải để: “Như thị ngã văn” có nghĩa “Tôi nghe như vầy”... Ý nghĩa này theo thông lệ của thế gian đó là Ngài A Nan nghe như vậy, rồi cứ y như điều đã nghe mà thuật lại... Nhưng phật thuyết pháp, là thuyết cho mọi hữu tình. Nếu cứ theo thông lệ ở đời, cho đó là cái nghe của A Nan thì mặc nhiên tự loại bản thân ra khỏi dòng nước pháp của Phật... Nếu không muốn tự loại bản thân ra khỏi dòng nước pháp, thì người tu hành cần nên hiểu như thế nào về nghĩa “Tôi nghe như vầy”?...
Nói đến đây Lý Tứ đảo mắt nhìn mọi người rồi im lặng...
Một hồi lâu, Như Quả lên tiếng: Thưa Lão Sư!... Tôi nghe như vầy, trong ý nghĩa này con hiểu là chính con nghe như vầy!... chứ không phải Ngài A Nan nghe như vầy!...
- Ông nghe như vầy, là nghe thế nào?
Như Quả im lặng ngẫm nghĩ một hồi rồi nói: Con nghe như vầy là không nghe theo “cái bị nghe”!... - Những gì được gọi là “cái bị nghe”?
Thưa Lão Sư!... “Cái bị nghe” chính là âm thanh cùng ngữ nghĩa từ miệng Lão Sư phát ra!...
- Ông nên suy nghĩ thật kỹ... một khi không nghe theo “cái bị nghe”, thì cái nghe nó như thế nào?
Như Quả ngẫm nghĩ rồi nói:
Thưa Lão Sư!... Con thấy cái nghe tự nó rỗng rang, không có bóng dáng của nhĩ thức...
- Nhĩ thức không sanh, thì cái gì sanh?
Thưa Lão Sư!... Nhĩ thức không sanh thì biện biệt không sanh, biện biệt[1] không sanh thì chẳng thấy ý nghĩa của tịnh cùng bất tịnh... Tịnh cùng bất tịnh chẳng thấy nên không có gì sanh...
- Trong cái không sanh đó, ông thấy cái gì?
Thưa Lão Sư!... Con thấy tâm con thanh tịnh!...
- Tâm ông thanh tịnh thì nó như cái gì? Thưa Lão Sư!... Tâm con thanh tịnh thì nó như vậy, như vậy ạ!... Thưa Lão Sư!... Con ngộ ra chữ Như Thị trong câu “Như thị ngã văn” rồi ạ!... Chữ Như Thị theo con hiểu là không như cái gì hết, không như cái gì hết mới chính là như thị!...
- Nếu còn thấy nó như cái gì thì tâm như cái gì?
Thưa Lão Sư!... Nếu còn thấy nó như cái gì thì đó là như nhân, như duyên, như tánh, như tướng... chứ chẳng phải như thị ạ!...
- Thấy Thập Như Thị chỉ là một như thị, thì nhân cái gì mà nói là mười?
Thưa Lão Sư!... Mười chẳng khác một, một chẳng khác không... Nhân đã không, thì quả cũng không. Quả không thì tánh tướng tự không!... Nên chẳng nói nó là cái gì, vì ra ngoài văn tự ngữ ngôn...
- Tánh tướng tự không, văn tự cũng không thì gọi là gì?
Thưa Lão Sư!... Là không tánh, là không tướng, là vô ngôn...
- Đã không tánh, không tướng, vô ngôn thì ba thời từ đâu lập bày?
Thưa Lão Sư!... Ba thời chỉ một niệm bất giác... Vì bất giác nên ba thời hiện khởi. Để dứt cái ngu này của phàm phu, chư thánh phải một phen nhọc công mở miệng nói có nói không... Chúng sanh nhân ý nghĩa này mà hết ngu si. Chừng nào giác ngộ tự tâm rỗng rang, mới biết rằng chẳng có đây kia sáng chiều... Bây giờ mới hiểu ra ngữ ngôn văn tự như là dẫn dược chứ chẳng phải thuốc men... Nước kia chẳng làm hết bệnh...
- Vậy ba thời là mấy thời?
Thưa Lão Sư!... Ba thời do mê... Dứt mê, ba thời chỉ là nhất thời... Nhất thời đó là không thời ạ.
- Không thời thì gọi là gì?
Thưa Lão Sư!... Không thời chính là Phật thời ạ.
- Không thời chính là Phật thời, thì trong thời đó, Phật ngụ tại đâu?
Thưa Lão Sư!... Phật là vô tướng, vì vô tướng nên vô phương sở... Vì vô phương sở nên đâu cũng là Xá Vệ Quốc, Kỳ Thọ viên...
- Như vậy kinh dạy: “Như thị ngã văn, nhất thời Phật tại xá Vệ Quốc, kỳ thọ Cấp cô Độc viên...” là nghĩa gì?
Thưa!... Là Tự Tâm như thị ạ... như thị ạ…!...
Lý Tứ cười ha hả rồi nói:
- Văn tự không gạt được Như Quả... Ha ha... Đúng là Như Quả chứ chẳng phải như văn tự... Ha ha ha ha!... Không như kẻ ngu kia, miệng thì nói như thị mà tâm lại như văn tự... Ha ha ha ha!...
Chúc mừng Lão Đệ thấu suốt ý nghĩa hai chữ Như Thị... Ha ha ha ha!...
(còn nữa)
Thế Nào Là Tâm? Thế Nào Là Pháp?

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ
Hôm nay Lý Tứ mặc áo mới, quần mới, đi dép mới... Cả bọn Trung Nguyên Cửu Tuyệt và Lão lái đò gồm mười người, ai nấy quần áo cũng bảnh bao... Mười một người cùng nhau dắt xuống chiếc du thuyền được Trung Nguyên Cửu Tuyệt thuê của một khách điếm ở Giang Tây... Đây là loại du thuyền giong ruổi trên sông nước, nên không lớn lắm. Tuy vậy cũng đầy đủ các tiện nghi... Cũng gồm khoang nhà bếp, khoang chứa thực phẩm nước uống đủ dùng cho mười người trong nửa tháng lênh đênh. Có các phòng ngủ và một phòng khánh tiết, phòng này dùng để tiệc tùng và đàm luận...
Phòng khánh tiết ở tầng trên con tàu, tương đối rộng cũng có đủ bàn ghế... Chung quanh là những cửa sổ lớn. Ngồi trong phòng, du khách có thể ngắm sông nước chung quanh, cần thiết ngắm trời đất bao la hoặc trăng sáng. Du khách có thể đẩy mui thuyền về phía sau và bầu trời xanh hiện ra bên trên...
Có thể nói, du thuyền này thuộc hạng sang với các tiện nghi tối đa có được. Cả đoàn dự tính dùng du thuyền này xuôi về phương Nam, không tính thời gian, đến khi nào không muốn đi nữa thì sẽ quay về...
Chiếc du thuyền lướt nhẹ trên sông... Mọi người tề tựu nơi phòng khánh tiết… Căn phòng được trang trí bởi những bức họa nổi tiếng từ các thời Hán Đường. Xen kẽ là những bức họa đương đại, kèm theo một vài bài thơ nổi tiếng của các thi nhân được viết theo lối thư pháp... Chiếc bàn tròn ở giữa, chung quanh cũng bày đúng mười hai cái ghế. Trên bàn là bình hoa tươi được cắm sẵn... Nhìn cách bài trí này, cái cũ và cái mới đan xen vào nhau ta có cảm giác đang sống trong một không gian đầy sức sống nhưng tĩnh lặng...
Cái khéo của người cắm hoa là tuy mới nhìn, những bông hoa được cắm không theo một bố cục nhất định, nhưng để ý kỹ thì nó lại mang dáng dấp của nghệ thuật sắp đặt. Hoa chủ là một bông sen lớn, cao vút tinh khiết. Màu cánh sen nổi bật giữa khoảng không gian bao la...
Phía dưới xa xa là một dãy xen kẽ những cúc vàng và mẫu đơn đỏ nằm nghiêng nghiêng như một vệt sáng đỏ vàng xiên thẳng vào hư vô…
Vệt sáng nghiêng nghiêng vàng đỏ làm tôn thêm oai nghiêm của đóa sen đơn độc trên cao...
Miệng bình phía dưới cùng, được trang trí dày đặc vô số những hoa dại đủ màu cùng những chiếc lá xanh... Nhìn tổng thể bình hoa cứ tưởng như trước mặt là ngọn lửa rực cháy... nhưng nó lại toát lên cái cao hứng bay bổng hay một ý tưởng vượt thoát... Đỉnh cao là đóa sen, xa xa phía dưới là vệt sáng chênh chếch của mười đóa cúc vàng và mẫu đơn đỏ. Cuối cùng là một trời hoa dại nhô lên cao thấp không đều. Các đóa hoa dại dưới cùng nở xòe hướng lên trên như chờ đón cái tinh khiết của hương sen, cái cao cả đáng trân trọng của mẫu đơn và cái vô ưu của hoa cúc... Ba tầng riêng biệt của bình hoa được phân cách bởi những khoảng không như là dấu lặng. Người xem có cảm giác đây là cung bậc của một dòng nhạc...
Lão Đại đứng dậy, cung hai tay xá mọi người rồi mỉm cười cất giọng:
Thưa Lão Sư!... Thưa các huynh đệ!... Chuyến du ngoạn không hạn định thời gian của chúng ta hôm nay, có rất nhiều ý nghĩa... Thứ nhất, đây là lần đầu tiên Lão Sư và mười đồ đệ của mình đi chung trên một chiếc thuyền trên danh nghĩa chính thức thầy trò sau buổi lễ hôm qua... Thứ hai, hành trình đầu tiên, chúng ta chủ ý chọn con thuyền làm phương tiện, lại đi trên dòng Ô Giang chứ không phải con sông nào khác, có một ý nghĩa đặc biệt... Thứ ba, nhân chuyến đi này, vừa thư giãn, vừa học tập. Xin Lão Sư nhân con thuyền này mà khai thị cho huynh đệ đạo lý... Lần này lão nói ngắn gọn không dài dòng nhưng có chút nghĩa lý. Nói rồi lão cung tay hướng về phía mọi người thủ lễ...
Lão Trượng tiếp lời:
Thưa Lão Sư!... Thưa các huynh đệ!... Nhà thuyền bài trí phòng này theo ý tưởng của Thất Muội và Lục Đệ... Các huynh đệ ở đây đóng góp mỗi người một tay... Chỉ mong chuyến đi này gặt hái được nhiều tốt đẹp... Lão nói đến đây, mở nắp đỉnh đồng nhỏ giữa bàn và châm lửa, một mùi thơm mát dịu từ khói đỉnh đồng tỏa ra... khiến cả căn phòng tràn ngập hương thơm... Đợi hương thơm tỏa khắp căn phòng lão tiếp:
Hôm qua nhân lúc rỗi rảnh, thấy Thất Muội cắm bình hoa đẹp quá, bình hoa có đủ chất thơ nhạc họa, vừa đẹp vừa có hồn. Nhìn bình hoa mà đồ đệ thấy lòng thanh thản, bèn hỏi Thất Muội ý nghĩa của nó. Thất Muội có nói sơ lược cho đồ đệ nghe, đồ đệ gẫm lại thấy hay quá... Tiện đây xin Cô Nương thuật lại ý tưởng của mình, để Lão Sư và các huynh đệ thưởng thức...
Thất Muội đứng lên, hai má ửng hồng, ả bẽn lẽn cười rồi nói:
Thưa Lão Sư!... Thưa các huynh đệ!... Chỉ tại Lão Trượng đề cao đó thôi. Thật ra tiểu nữ chỉ biết võ vẽ đôi chút cắm hoa, do hồi còn nhỏ trong lúc rỗi rảnh mẫu thân có dạy sơ qua... Hôm trước Lão Sư và các huynh đệ ngồi giữa sân giảng giải đạo lý, trong lúc lòng thanh thản, tiểu nữ nhìn mọi người như những bông hoa, mà trên cùng là Lão Sư. Lão Sư như búp sen lớn vút thẳng lên trời cao, phía dưới xa xa là mười huynh đệ như mười bông hoa thấp cao sai khác cùng hướng về Lão Sư theo chiều chênh chếch... Rồi tiểu nữ lại nghĩ đến hữu tình. Hữu tình như những bông hoa dại phía dưới đang chờ đón hương thơm tinh khiết từ đóa sen. Mười bông hoa như là vệt sáng của ngọn lửa chạy dài xiên xiên từ thấp lên cao... nối liền vô số hoa dại với đóa sen tinh khiết... Tất cả hòa nhịp trở thành bản trường ca dâng hiến cho đời!... Tiểu nữ xúc động nên lấy đây làm đề tài cắm hoa...
Ả ngưng một chút như để mọi người thấm thía cái ý tưởng vĩ đại của ả, rồi ả chậm rãi tiếp:
Nhưng vì sao tiểu nữ lại liên tưởng mười huynh đệ chúng con là những đóa mẫu đơn và cúc vàng mà không phải là những loài hoa khác...
Thưa Lão Sư!... Thưa các huynh đệ!... Hoa Mẫu đơn tượng trưng cho ý nghĩa cao cả của người mẹ, bằng trái tim của mình, người mẹ đã dạy cho những đứa con thà chết chứ đừng phản bội quê hương...
Còn hoa cúc, hoa này còn có tên Cúc Vô Ưu... Ngoài nét đẹp thanh thản, nó còn là loài dược thảo có nhiều dược tính cứu người... Mười anh em chúng con ngoài tấm lòng người mẹ, còn phải là những bông hoa đẹp cứu người... là vệt lửa nối dài từ khổ đau đến an lạc... Và tất cả hoa dại phía dưới cùng như những chúng sinh, tất cả đồng hướng đến đỉnh cao tối thượng đó là đóa sen tinh khiết...
Lý Tứ nghe ả giảng giải nghĩ thầm trong bụng:
Ả này thiệt là triết lý quá chừng, chỉ có mấy cái bông mà ả tưởng tượng ra không biết bao nhiêu ý nghĩa. Nếu cho ả này vào rừng hoa chắc trong đầu ả đẻ ra không biết bao nhiêu triết lý... Nhưng mà ả giảng giải nghe cũng lọt lỗ tai... Ngẫm nghĩ như vậy, Lý Tứ im lặng để nghe ả giảng giải tiếp...
Thất Muội lại nói:
Thưa Lão Sư!... Thưa các huynh đệ!... Khi cắm bình hoa này, tiểu nữ biết nó chưa đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật. Nhưng chỉ mong nói lên được chút ý tưởng nhỏ nhoi của mình là... một lòng huynh đệ ở đây hướng về phía Lão Sư, hướng về chư Phật... Xin Lão Sư dạy bảo!...
Lý Tứ lên tiếng:
Cô Nương quả không hổ danh là người có kiến thức về hoa lại là thiếu nữ có nhiều ý tưởng... Bình hoa nói lên cái không tầm thường của người cắm... Chỉ có mấy bông hoa mà Cô Nương đã làm cho nó trở thành bay bổng và nhiều ý vị. Lý Tứ thiệt khâm phục tài nghệ của Cô Nương...
Nhưng tôi xin hỏi Cô Nương:
- Khi cắm những bông hoa lên bình, Cô Nương có hỏi những ý nghĩa vừa nói với các bông hoa không? Và có nghe các bông hoa đồng thuận hay phản đối những ý nghĩa cô vừa nêu không?
Thưa Lão Sư không ạ!... Theo tiện nữ thì bông hoa là vô tình nên nghĩ suy còn không biết chứ đừng nói gì đến nói năng!...
- Như vậy những ý tưởng tốt đẹp Cô Nương vừa giảng giải là của riêng cô vừa nghĩ ra hay do trước đây đã có?
Thưa Lão Sư!... Ýnghĩa các loài hoa thì tiểu nữ đã biết trước, còn nội dung bình hoa như thế nào thì chỉ mới khi nhìn thấy Lão Sư và các huynh đệ đàm đạo tiểu nữ mới nghĩ ra... Riêng bình hoa thì đợi đến khi đủ nguyên liệu cộng với ý tưởng trước đây và tiểu nữ cắm lên, bình hoa mới hình thành...
- Như vậy trước khi biết ý nghĩa các bông hoa, gặp hoa cúc hoặc mẫu đơn cô có biết ý nghĩa này không?
Thưa không ạ!...
- Khi biết ý nghĩa các loài hoa, nhưng cái hoa không ở trước mặt, cô có nhớ ý nghĩa của nó không?
Thưa Lão Sư!... Bình thường thì không, nhưng nếu có nhân duyên liên hệ nào đó, tiểu nữ mới nhớ!...
- Với ý nghĩa các bông hoa như cô đã nói và bố cục bình hoa được sắp đặt theo ý tưởng của mình, cắm xong Cô Nương có mãn nguyện không?
Thưa Lão Sư!... Cắm bình hoa xong, nhìn ngắm nó, tiểu nữ rất mãn nguyện!...
- Khi cắm xong, giả sử duyên chẳng lành nào đó bình hoa mất đi Cô Nương có buồn phiền tiếc rẻ không?
Thưa Lão Sư!... Có một chút buồn phiền và tiếc nuối...
- Cái gì làm cho Cô Nương buồn phiền và tiếc nuối?
Thưa Lão Sư!... Công sức bỏ ra tiếc một phần, nhưng tiếc cho ý tưởng thì nhiều...
- Cô Nương thử suy nghĩ xem, trước khi có được những ý tưởng đẹp về bình hoa, trước khi các hiểu biết về ý nghĩa các bông hoa mà cô học được, hai thứ này có trong cô không?
Thưa Lão Sư!... Hồi nhỏ tiểu nữ không biết ý nghĩa các loài hoa. Trước khi mẫu thân dạy cắm hoa tiểu nữ cũng không biết nghệ thuật, và trước khi nhìn thấy buổi đàm đạo tiểu nữ không hề có những ý tưởng này...
- Nếu không có các nhân duyên như cô vừa nêu thì bình hoa có hình thành không?
Thưa Lão Sư không ạ!...
- Không có bình hoa thì sự vui hay tiếc nuối có xảy ra trong lòng Cô Nương không?
Thưa không ạ!...
- Vui hay tiếc nuối, nó là cái gì?
Thưa Lão Sư!... Đó gọi là “Tâm”!...
- Vậy cái tâm từ đâu ra?
Thưa Lão Sư!... Do thấy nghe, hoặc nghĩ suy rồi sinh pháp ạ...
- Nếu thấy nghe, nghĩ suy mà không sanh pháp thì cái gì xảy ra?
Thất Muội chiêm nghiệm một hồi rồi nói:
Thưa Lão Sư!... Không có cái gì ạ!...
- Không có cái gì thì thế nào?
Thưa Lão Sư!... Chẳng như thế nào hết...
- Cô Nương nghiệm xem, lúc trong lòng chẳng như thế nào hết thì cái tâm thế nào?
Thưa Lão Sư!... Cái tâm lúc ấy rỗng rang thanh tịnh...
- Như vậy Cô Nương biết cái gì làm cho một hữu tình mê mờ không thanh tịnh không?
Thưa Lão Sư!... Đó là định đặt các khái niệm, rồi mê mờ chạy theo những khái niệm mà sinh tâm...
- Các khái niệm có thật hay không?
Thưa Lão Sư!... Đã là khái niệm thì không thật, vì nếu là thật thì không phải khái niệm...
- Mê mờ các khái niệm không thật rồi chạy theo, kết quả nó cho ra cái gì?
Thưa Lão Sư!... Cho ra cái tâm không thật, gọi là hư vọng tâm...
- Đã có hư vọng tâm thì thế nào?
Thưa Lão Sư!... Sẽ sinh phiền não và cột trói, phiền não vì vô thường, cột trói vì giữ gìn sợ mất...
- Nếu không có hai thứ đó thì thế nào?
Thưa thảnh thơi ạ!...
Lý Tứ cười ha hả hai tiếng rồi nói:
- Như vậy Cô Nương biết cái gì là “pháp”, cái gì là “tâm” rồi chớ?
Thưa!... Tiểu nữ biết rất rõ, ngày càng rõ thêm ý nghĩa của hai chữ “Tâm Pháp”... Thưa Lão Sư!... Tiểu Nữ nghiệm ra:
Đối trước muôn cảnh mà không sanh các quan niệm thì chẳng thể sinh tâm. Nếu tâm không bị mê mờ bởi cảnh thì chẳng thể sinh pháp... Hai thứ này không sanh thì rốt ráo thanh tịnh...
Lý Tứ nói tiếp:
- Các vị!... Các bông hoa là trần, trần do duyên sanh, đủ duyên thì hiệp hết duyên thì tan, tụ tán tự nó chẳng cột trói ai… Nhiều trần hợp lại thành cảnh, cảnh kia tự nó không tánh...
Hữu tình do mê mờ nơi trần cảnh, không thấy được các duyên tự nó không tánh, lặng lẽ mà tụ, lặng lẽ mà tán...
Một khi mê mờ thì sinh các món hy vọng, do hy vọng nên sinh các thứ ý nghĩa, cố chấp nơi ý nghĩa này sẽ cố sức giữ gìn, giữ gìn này gọi là ngã, có ngã thì có tâm, ba món: Pháp, tâm và ngã như bóng với hình... Người có trí, trả cái vắng lặng về cho trần cảnh, trả cái tâm về cho hư không, một niệm không sanh, bất giác chẳng thể hiện khởi...
Trí này không bất giác, duyên kia không sanh pháp, tự tâm sẽ thanh tịnh... Khi tâm thanh tịnh mới biết bản lai vô sanh... không tâm không ngã...
Cũng như cái bình hoa kia, tất cả chỉ là những bông hoa vô tri. Nhưng một khi ý thức chen vào, các thứ tưởng hiện khởi... Chạy theo, hy vọng nơi tưởng gọi là vọng tưởng... Một khi đã vọng tưởng thì tâm sẽ phiền não... Tưởng thành tựu thì tâm nhân đây mà vui, vui gọi là phiền. Tưởng kia không như mong muốn sẽ não hại tâm, não hại tâm gọi là não...
Vui là phiền vì khi vui sẽ chướng thanh tịnh, não sẽ khổ vì không toại nguyện... Vì thế chớ có nhân nơi trần cảnh hay nghĩ suy mà sinh tâm, không sinh tâm như vậy kinh gọi là: “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”...
Đối trước muôn cảnh muôn pháp, tâm không sanh khởi Phật giáo gọi vị này là thánh... Sở dĩ gọi là thánh vì chẳng thuận theo phàm... Cho nên phàm hay thánh cũng chỉ tự tâm này... khác nhau chăng giữa mê và giác... Một phen bất giác... trở thành tôi mọi cho thấy nghe... Lấy cái hư dối làm ta, làm ngã của ta và làm tự ngã của ta... từ đây bao nhiêu muộn phiền sanh khởi... Tôi nói như thế, các vị có nghe rõ không?
Đại chúng im lặng...
Lý Tứ lại tiếp:
- Nhưng cứ một bề chấp nhất không pháp, không tâm, không thần, không vật... rồi đả phá tất cả, bạ đâu cũng chê, bạ đâu cũng trách, cứ mở miệng là nói tất cả đều không... Người như vậy gọi là bọn chấp không. Đây là loại đồ đệ của kiến chấp, là kẻ cực đoan, là khùng điên chứ chẳng phải người giác ngộ... Kẻ như thế chẳng xứng đáng đệ tử Phật gia...
- Bình hoa kia tự nó không lỗi, lỗi hay không do tâm... Đứng trước muôn cảnh muôn vật... không bị mê mờ. Không bị mê mờ không bị trói buộc nên gọi là không... chứ chẳng phải đem thân tâm này hủy diệt mọi thứ rồi nói là không... Cái do làm ra, hoặc do hủy diệt hoặc do chấp nhất... những hành động nghĩ suy như vậy tự nó là “có” chứ chẳng phải “thiệt không”...
- Vì thế Phật dạy: “Không là không hai mươi lăm cõi”. Hai mươi lăm cõi hay ba cõi đều tự tâm sanh...
- Vì thế người xưa thường nói: “Chớ nên hướng ngoại tầm cầu...” là ý nghĩa này... Phật cũng dạy: “Thà chấp có như núi Tu Di, chớ đừng chấp không như hạt cải”. Có nghĩa người chấp có còn có thể giác ngộ vì thuận theo dòng giác, còn người chấp không là kẻ tự mình hủy diệt pháp lành nên vô phương cứu chữa... Các vị có thấu suốt những điều tôi vừa nói không?
Mọi người đồng hướng về phía Lý Tứ im lặng chắp tay xá xá coi bộ hoan hỷ... Thất Muội lên tiếng:
Thưa Lão Sư!... Nhân nơi bình hoa mà Lão Sư đã dạy cho đồ đệ ý nghĩa thế nào là tâm thế nào là pháp... Lại dạy thêm ý nghĩa thế nào “chẳng hoại hữu vi”… Con và các huynh đệ từ nay một bề thanh tịnh... Vì tâm thanh tịnh nên ở đâu cũng là đạo tràng, chẳng luận đây kia... Xin Lão Sư chứng minh cho lời tiểu nữ...
Lý Tứ cất giọng cười lớn: Ha ha! Ha ha!
---•••⁕ ⁕⁕ ⁕•••---
(còn nữa)
Hy Vọng Là Tâm Chúng Sanh. Lấy Bát Chánh Đạo Làm Đời Sống

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ
Lão Nhị lên tiếng:
Thưa Lão Sư!... Lão Sư thiệt là Từ Bi. Những điều cao siêu như vậy mà đối với kẻ sơ cơ như đồ đệ Lão Sư cũng ôn tồn cắt nghĩa. Tuy chưa thấu đáo cái gì là Phật Tâm nhưng sau khi nghe cắt nghĩa, ít ra trong lòng đồ đệ cũng có chút manh mối.
Thiệt là cảm tạ ơn đức Lão Sư. Nhưng thưa Lão Sư khi nghe đến câu, “Hết thảy các pháp do tự tâm hiện”, lòng đệ tử bỗng dưng mát dịu, như biển cả lặng yên. Những con sóng thức ào ạt ngày xưa không thấy hiện khởi. Tuy lỗ tai đồ đệ đang nghe, ý nghĩa đồ đệ lờ mờ nhưng tâm rỗng rang không chấp nhất cái biết, cũng không còn giống như xưa biết rồi muốn biết thêm, tâm mong cầu tự dưng bặt dứt. Xin Lão Sư khai thị tiếp cho đồ đệ...
Lý Tứ tiếp lời:
⁎ Phật dạy: “Hy vọng là tâm chúng sanh”. Vì chúng sanh hy cầu nên có ba thời, ba thời hiện khởi thì sanh diệt không ngừng... Mà không biết rằng quá khứ như giấc mơ.
⁎ Phật dạy, “quá khứ như mộng”. Quá khứ là chuyện đã qua nếu có biết chẳng qua chỉ là những nghĩ nhớ trong lòng. Đã là nghĩ nhớ thì chẳng gọi là thật... Vì thế, bổn tâm đang thanh tịnh, nhớ nghĩ quá khứ trở thành não hại. Vị lai thì chưa đến, tâm ý vọng tưởng họa vẽ những điều chưa có, như nhà ảo thuật nơi không có hóa thành chim bồ câu.
⁎ Phật dạy, “vị lai như huyễn”... Vị lai đó cũng chỉ là niệm vọng tưởng hiện tiền, không thật...
⁎ Hiện tại thì chẳng thể được vì “niệm niệm không dừng”. Vừa tưởng nó là hiện tại thì tưởng này đã là quá khứ... Nếu chấp có một hiện tại thì biết rằng hiện tại này chỉ là niệm mê, do mê nên trái chướng tâm thanh tịnh...
Rốt lại, vọng về vị lai là phiền, nhớ nghĩ quá khứ là não, ngu nơi hiện tại thành chướng. Nếu không dứt tâm này thì phiền não chướng sẽ não hại tâm, như trời đang trong mây đen kéo đến...
⁎ Người trí nên biết ba thời không thật, chỉ là những khái niệm trong lòng. Những khái niệm không thật này gọi là sinh pháp. Nếu chìm đắm nơi pháp thì buồn vui sẽ hiện, hiện này gọi là tâm.
Tâm mê lại sanh pháp, rồi pháp huân thành tâm cứ thế không dứt... Nếu một phen giác ngộ, tâm này tự dừng, không chạy theo bóng ma quá khứ, cũng chẳng vọng tưởng hư ảo vị lai, hiện tại không mê trần cảnh, thanh tịnh rỗng rang tự hiện, như trời quang mây tạnh... Các pháp do tự tâm hiện là nghĩa này.
⁎ Vì thế Phật dạy: “Khéo quan sát tự tâm hiện lượng”, các pháp hiện khởi trong tâm như bọt nước, trẻ con không biết tưởng đó là hạt lưu ly... Không biết gọi là mê, dứt mê tạm gọi là giác... Thưa Lão Huynh!... Lão Huynh có nghe rõ điều tôi nói không?
Lão Nhị nói:
Thưa Lão Sư!... Lời Lão Sư như phèn lóng trong nước bẩn. Những lời của Lão Sư lọt qua lỗ tai đệ tử như gió thổi tan mây... Chỉ cần dứt cái ngu này, cái ngu ngàn đời không hiện... Bây giờ đồ đệ mới hiểu câu nói:
⁎ “Vô lượng kiếp chỉ là một niệm mê”… Dứt mê thì không kiếp cũng không niệm... Như nói nước trong chỉ vì nước kia có đục, xưa chưa từng đục thì nay lấy gì làm trong... Lão Sư đã phóng đao hóa kiếp Lão Nhị ngu mê này... Nói đến đây, lão quỳ mọp lạy lấy lạy để Lý Tứ...
Lý Tứ lên tiếng:
Xưa không biết thì thôi, nay biết rồi đừng tự khinh mình... Cái ngu hôm qua không thật có, thì chúng sanh chẳng lẽ thật có hay sao? Xin Lão Huynh đừng xúc động... Ngộ rồi mới biết hết thảy hữu tình đồng một bổn tâm thanh tịnh, chẳng qua một niệm bất giác mà có thân sau... Dứt mê mới biết, tôi và Lão Huynh nào có khác gì đâu!... Ha! Ha! Ha! Ha!...
Lý Tứ lại nói tiếp:
Nhị Huynh!... Kẻ giác ngộ, như người uống nước nóng lạnh tự biết, giác ngộ này chỉ có mình biết, bậc đạo sư biết và chư Phật biết...
⁎ Một phen thấy được, con người cũ đã mất, bây giờ mới xứng đáng với tên gọi Phật tử. Vì thế phải biết giữ mình, từ nói năng thức ngủ đến ăn uống tu hành chẳng nên giống như người đời. Phải gìn giữ chỗ có được như con gà ấp trứng. Không nên có những hành động thô tháo như phàm phu...
⁎ Lấy Bát Chánh Đạo làm đời sống. Đây là môi trường tốt nhất để trưởng dưỡng thánh pháp, như cá phải sống trong nước, cá ra khỏi nước sẽ tự diệt... Trong giai đoạn này, phải hiểu như thế nào về Bát Chánh Đạo? Bát Chánh Đạo bây giờ có tên là Bát Thánh Đạo phần, tức tám phần của con đường mà bậc thánh phải đi qua.
- Thế nào là Chánh Kiến? Chánh Kiến là chỉ thấy tướng tâm thanh tịnh không thấy tướng khác.
- Chánh Tư Duy là gì? Là biết tất cả tư duy tự nó không thiện ác. Vì thế dù có tư duy cũng không làm cho hành tâm giong ruổi, như nước hai đầu của dòng kênh không cao thấp sai lệch. Vì thế hiện tượng chảy xiết không thể xảy ra. Không có sự chảy gọi là dừng... Điều này trong kinh mô tả: “Sanh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc”. Tâm như gương sáng, chiếu bao nhiêu cảnh gương kia cũng không hề lay động...
- Thế nào là Chánh Ngữ? Chánh Ngữ là tự biết “Bản lai vô ngôn”, bất đắc dĩ nói ra điều gì cũng vì an vui của người. Vì thế tác phong của bậc giác ngộ là không nói phi thời, không hý luận, rời xa thế luận, không cố nói, không ham nói, không như người đời mê nói không biết chỗ dừng, không như người say, say quá quên mất đường về...
- Thế nào là Chánh Nghiệp? Biết rằng thân khẩu ý này tự nó trống không, tuy thấy có nói năng đi lại nghĩ suy nhưng mà vô tác, tựa như huyễn nhân, như chim bay giữa hư không chẳng để lại dấu vết. Vì thế với thân phải quán nó đồng hư không, với khẩu phải biết như tiếng kêu của cái trống, với ý phải thấy ý này tự thanh tịnh, kinh gọi là “tự tịnh kỳ ý”...
Thấu suốt như vậy, ba nghiệp không lỗi lầm, không sanh lỗi ác cho nên kinh nói: “Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý, thị chư Phật giáo”. Một phen thấu suốt, thì ác thiện chẳng phải như quan niệm thế gian...
- Chánh Mạng là gì? Chánh Mạng của người giác ngộ chính là Xa Ma Tha, Tỳ Bà Xá Na và Thiền na. Lấy ba thứ này nuôi thân, rời ba thứ này gọi là tà mạng...
- Sao gọi là Chánh Tinh Tấn? Thẳng một đường về với nguồn tâm thanh tịnh, không quanh co không sai lệch, không lấy ba cõi làm chỗ nương cậy... Như con hương tượng đi vào rừng sâu, cứ một đường đi tới bất kể chông gai, không gì có thể ngăn ngại...
- Thế nào là Chánh Niệm? Chẳng niệm hữu vi chẳng niệm vô vi gọi là Chánh Niệm. Vì sao? Vì bổn tâm thanh tịnh tự chẳng hữu vô. Như thế nào là niệm thanh tịnh? Chẳng niệm tịnh, chẳng niệm bất tịnh gọi là niệm thanh tịnh...
- Chánh Định là gì? Như đèn soi sáng, không còn tối tăm gọi là Chánh Định... Đối trước muôn cảnh không sinh mê lầm gọi là Chánh Định...
Nhị Huynh!... Tóm lại Bát Chánh Đạo được dẫn đầu bằng Chánh Kiến. Chánh Kiến như tôi đã nói. Thưa Nhị Huynh!... Như vậy Nhị Huynh có kết luận gì về Bát Chánh Đạo chăng?
Lão Nhị ngẫm nghĩ một hồi rồi nói:
Thưa Lão Sư!... Theo đồ đệ hiểu:
Y nơi thanh tịnh tâm mà thấy nghe hay biết là đủ Bát Chánh.
Lý Tứ khen: Nhị Huynh quả là bất phàm. Người giác ngộ có vô lượng cái chánh, nhưng cũng đều quy về một tâm chân chánh...
⁎ Như thế nào gọi là tâm chân chánh? Vì không tâm nên tạm gọi là tâm chân chánh... Nếu còn một tâm nào thì tâm này chưa chánh...
Lão Nhị lên tiếng:
Thưa Lão Sư!... Đồ đệ có nghe người xưa nói “Tâm bình là giữ giới”... Như vậy người giác ngộ có cần phải tụng giới hằng nửa tháng hay không???
Lý Tứ nói: Lão Huynh!...
Nếu bảo rằng “Tâm bình là giữ giới” rồi nửa tháng bỏ tụng giới, kẻ làm như thế gọi là “tận hữu vi, trụ vô vi”...
Người này không thấy nghĩa trung đạo... Sai với cứu cánh của Phật đạo. Tôi nói như vậy Nhị Huynh có hiểu không?
Lão Nhị nói:
Lão Sư!... Nay đồ đệ đã hiểu... Giác ngộ chẳng phải vì mình...
Lý Tứ nói tiếp:
Đã nói ý nghĩa của Bát Thánh Đạo Phần. Nay tôi gợi ý, Nhị Huynh có thể hiểu thêm về Thất Giác Chi. Lão Huynh nhớ lại từ đầu câu chuyện trao đổi giữa tôi và Lão Huynh... nhân cái gì mà Lão Huynh được giác ngộ...
Lão Nhị ngẫm nghĩ một hồi rồi nói:
Thưa Lão Sư!... Ban đầu con còn nghe Lão Sư giải thích ý nghĩa, đến câu “Các pháp tự tâm hiện”, tâm con tự dừng, rồi hỷ lạc khinh an xảy ra, như người uống nước cam lồ, lại được tắm dòng nước mát nên toàn thân nhẹ nhàng mát lạnh... Kế đến nhân nghe Lão Sư khai thị ý nghĩa ba thời, tâm đồ đệ như đặt gánh nặng xuống, kết thúc câu chuyện cũng là lúc đồ đệ không còn là Lão Nhị của người xưa nữa... Một con người mới do Lão Sư sinh ra...
Bây giờ con mới hiểu Thất Giác Chi là như thế, như thế!... Hèn chi Thất Giác chi đi trước Bát Chánh Đạo... Nếu không nhờ Giác Phần để giác thì làm gì biết được sự thật của chánh tà...
Thưa Lão Sư!... Bây giờ con đã rời xa hý luận... Lý Tứ khen:
Chúc mừng Nhị Huynh!... Bây giờ Nhị Huynh mới xứng danh Phật Tử chân chánh!...
(còn nữa)
Báo Thân, Hóa Thân và Pháp Thân. Các Cảnh Giới Đệ Nhất Nghĩa

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ
Lão Nhị lại nói tiếp:
Thưa Lão Sư, hồi còn trẻ đồ đệ cũng từng đọc qua sách thánh hiền, cũng có thi cử rồi làm chức quan nhỏ. Sau đó về làng dạy dăm ba đứa học trò. Nói ra xấu hổ, trong đời đồ đệ nay đã ngoài bốn mươi... trước khi ra giang hồ kết nghĩa với các huynh đệ ở đây, đồ đệ đã trải qua không biết bao nhiêu nghề, thượng vàng hạ cám và đã tiếp xúc không biết bao nhiêu hạng người, cũng không biết bao nhiêu lần ngồi nghe đàm đạo. Nhưng cứ mỗi lần nghe lại thêm rối mù, chẳng những không thông mà hồ nghi thêm nhiều... Đồ đệ dạy học không bao nhiêu năm, nhưng lại nhiễm cái thói mô phạm, mỗi mỗi phải rõ ràng, không rõ ràng trong lòng bứt rứt. Nhưng học hỏi các cao nhân lại thêm bứt rứt... vì bởi các vị ấy nói chỗ cao quá, đồ đệ chẳng tiếp thu được gì. Lại thêm ràng buộc bởi chữ nghĩa thánh hiền, thành ra trói lại thêm trói, buộc lại thêm buộc... Cho đến khi gặp Lão Sư, nghe Lão Sư giảng giải, đồ đệ mới thỏa mãn vài điều. Nếu Lão Sư không chê cười, xin cho đồ đệ được giải các mối nghi trong lòng... Lão nói một hơi không nghĩ, nói như chưa từng được nói...
Lý Tứ tiếp lời lão:
- Thưa các huynh đệ!... Lý tôi chẳng phải là thánh hiền nên không thể biết hết chuyện thiên hạ... Nhưng mà đã là huynh đệ với nhau đâu cần khách sáo. Cái học như biển lớn, khó bề tới đáy... Chúng ta cứ nêu lên thắc mắc hồ nghi của mình. Ai biết thì chia sẻ cho người chưa biết, chẳng phải dạy dỗ gì nhau... Mong các vị đồng tình với tôi chuyện này... Nhưng chúng ta gặp nhau ở đây, chẳng phải như người đời... để khỏi mất thì giờ, và tôn trọng mục đích của buổi gặp mặt, xin chư vị chỉ nên hỏi những điều liên quan đến đạo lý nhà Phật. Đừng hỏi chuyện khác!...
Nếu gặp nhau mà bàn nhiều thứ, trao đổi nhiều vấn đề không liên quan đến mục đích, thử hỏi các vị, không phải một đời, mà biết bao nhiêu đời mới giải quyết cho xong... Để khỏi mất thì giờ, xin Nhị Lão Huynh nêu thắc mắc của mình. Mọi người ở đây, ai biết trả lời giùm...
Lão Nhị lên tiếng:
Thưa Lão Sư!... Thưa các huynh đệ!... Đồ đệ thắc mắc là, theo đồ đệ biết Thích Gia là nhà sư, còn gọi là Sa Môn... Nhưng tại sao đồ đệ thấy chùa am hoặc nơi nào có thờ cúng thì hình tượng của Phật trên đầu có tóc? Không giống nhà Sư... Lại có một số nơi, cũng hình Phật nhưng tướng mạo cho đến mũ nón không đồng... Xin vị nào biết, chỉ giáo giùm...
Lý Tứ nhìn quanh, thấy mọi người hình như đồng tình với câu hỏi của Lão Nhị, bèn nói:
Thưa các vị!... Tôi cũng đã có nghe nhiều người hỏi câu này, thắc mắc này chắc không riêng gì của Lão Huynh. Tôi xin trình bày sở kiến của mình, nếu thiếu sót xin các vị bổ túc...
⁎ Trong kinh có dạy, Phật có đến ba thân. Đó là: Báo thân, Hóa thân và Pháp thân...
Báo thân là cái thân do cha mẹ sinh ra, cũng lớn lên có vợ con rồi xuất gia tu hành sau đó thành Phật... Thân này Phật thị hiện trong cõi người, nên giống nghiệp người... Những ai có phước đức, nhân duyên sinh cùng thời với Phật, và hội đủ phước lành sẽ gặp thân này... Vì thị hiện nghiệp người nên giống như bao nhiêu người. Vì giống người, cho nên có những người trong đời đã từng gặp thân này cũng không biết đó là Phật. Cơ may có người nói mới biết, không nói không biết...
Ví dụ như quần chúng trên đường Phật đến chỗ Ương Quật Ma La, gặp Phật nhưng mọi người chỉ biết đó là Sa Môn, thậm chí Ương Quật Ma La mới gặp cũng kêu bằng Sa Môn... Hay chuyện chàng thanh niên gặp Phật trong lò gạch. Người thanh niên này đi tìm Phật, nhưng khi gặp Phật không biết. Đợi đến khi nghe Phật thuyết pháp mới biết đó là Thế Tôn... Hoặc trường hợp người giữ rừng trong chuyện kinh. Một hôm Phật muốn đến thăm các đệ tử của mình đang tu trong một khu rừng. Phật đắp y đến đó. Người giữ rừng ra hiệu cho Phật dừng lại và nói rằng: “Hiền giả!... Hiền giả!... Xin đừng vào trong đó, xin đừng làm kinh động khu rừng này. Vì trong rừng có năm Đại đệ tử của Phật đang thiền định làm sáng chói khu rừng”. Sau đó các đệ tử biết Thế Tôn đến thăm mình, vội vã chạy ra. Bây giờ người giữ rừng mới biết đó là Phật... Hoặc chuyện người già không có duyên gặp Phật...
Thân này, trong Phật lý còn gọi là “Sắc giải thoát”, tức đồng như một A La Hán, có thân mà không bị thân ràng buộc... Cho nên trong một số kinh Phật có nói: “Ta cũng là một A La Hán…” Phật còn gọi là Đại A La Hán... tức là Một A La Hán làm thầy các A La Hán...
Hiện nay một số phái trong Phật giáo chỉ thờ thân này... Báo thân của Phật cũng đầy đủ 32 tướng tốt... Nhưng vì là ẩn tướng, chỉ có ai biết thuật tướng[1] hoặc đủ phước duyên mới nhận ra... Ví dụ như tiên nhân A Tư Đà hoặc các Thanh Văn đệ tử chứng quả... Còn người thường rất khó nhận dạng...
Thân thứ hai của Phật là Hóa thân, đó là cái thân chúng ta đang thấy khắp nơi thờ phụng... Thân này chỉ những ai đủ công đức mới thấy được. Phật dùng thân này để giáo hóa Bồ Tát... Phần lớn các kinh Đại Thừa Phật thuyết bằng thân này. Phật cũng dùng thân này để đến các cõi Phật... Thân này cũng còn có tên: “Nhứt thiết chúng sanh hỷ kiến Bồ Tát sắc thân tam muội”. Vì thế Phật cũng là một Bồ Tát...
Tóm lại đây là một loại thân biểu hiện của bi nguyện tương ưng với công đức của người thấy. Chỉ khi nào chúng sanh đủ bi ngưỡng và công đức sẽ được thấy... Về sau các Bồ Tát và người đời nương nơi lời thuyết của Phật trong kinh mà họa lại thân. Vì thế cũng đồng thời một đức Phật mà tùy vào công đức, mỗi dân tộc thấy đức Phật với vẻ đẹp phù hợp với dân tộc hoặc nghiệp chung của mình, nên mặt mũi, mũ nón không đồng... Thân này chính là khắc họa rõ nét về 32 tướng tốt của Phật... Cũng chính Hóa thân này mà xuất sinh 80 vẻ đẹp gọi là tướng hảo tùy hình... Tướng hảo này phần lớn thị hiện trong các loài khác loài người và chư thiên... Ví như loài sư tử, khi thấy Phật sẽ là một con sư tử chúa, hoặc loài nai thì sẽ thấy Phật là con nai vương...
Vì thân này là Hóa Thân với đầy đủ 32 tướng hiển lộ nên chúng ta thấy trên đầu Phật có tóc, không giống tướng một Sa Môn... Phần lớn các Đại Bồ Tát cũng dùng hóa thân như: Quan Âm, Văn Thù vì thế rất ít khi thấy mô tả các vị này là Tăng... Đặc điểm của Hóa Thân là 32 tướng tốt và 80 tướng hảo tùy hình, thị hiện trong tất cả các loài, nên khi đọc kinh Đại thừa, chúng ta thường thấy Phật thuyết một thời kinh có nhiều loài tham dự... Vì ngữ ngôn các loài sai biệt, nên sau khi thuyết xong tiếng người, Phật thường hay tuyên nói chú...
Chú là chính ngữ ngôn của các loài, không phải ngữ ngôn của loài người. Chú này các loài nghe hiểu những điều Phật dạy theo nghiệp của mình...
Thành ra Cổ Đức không dịch chú ra tiếng người. Vì nếu dịch ra tiếng người khi đọc lên, các loài không thể hiểu. Hóa ra ta làm ngược là nói chú của ta cho các loài... Giống như khi gặp người Tây phương lẽ ra nói bằng tiếng Tây phương, ta lại làm ngược là dịch thành tiếng Hán rồi nói bằng tiếng Hán... Bây giờ tiếng Hán trở thành Thần chú với người Tây phương... Ha ha ha ha...!... Ví dụ như câu: “Yết đế ba la...” ta làm tài khôn dịch thành: “Độ đi, rốt ráo độ đi...” gì gì đó, rồi đọc câu này (độ đi độ đi... ), thì một số loài chẳng hiểu mô tê gì hết... Ha ha ha ha!...
Thứ ba, Phật còn một thân nữa, đó là Pháp thân... Thân này chính là Phật trí, nên Phật hay nói thân Phật đồng như hư không... Có nghĩa Phật trí thanh tịnh biến mãn khắp mười phương và nó chẳng phải là thân...
- Từ thân này mà xuất sinh vô lượng “Hóa Thân” hay còn gọi là “phân thân Phật”... Có thể hiểu một bài kinh chính là một Hóa thân nhỏ được chiết xuất từ Pháp thân lớn... Pháp thân giống như khối vàng lớn, cắt nhỏ một phần trong vô lượng để làm các món đồ trang sức như cà rá dây chuyền...
Khác biệt của cà rá dây chuyền chính là Hóa thân của khối vàng lớn kia... Mỗi món trang sức phù hợp với một ưa thích nào đó. Cho dù khác nhau về hình tướng nhưng tất cả đồng là vàng, và giá trị không khác...
Hoặc có thể ví dụ kiến thức của một thầy giáo thì bao la (pháp thân thầy giáo). Nhưng khi dạy học trò chỉ cần một chút nhỏ (hóa thân thầy giáo) trong khối lượng kiến thức này là đủ biến hóa cho học trò... ghê chơi!...
- Điều này Phật có dụ trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa... Muốn mở Bảo Tháp, tức muốn thấy được Phật tri kiến, phải gom tất cả Hóa thân khắp mười phương về... Giống như muốn biết khối vàng lớn bao nhiêu phải gom tất cả trang sức làm từ khối vàng này... Thân này còn gọi là “Sắc Thường Trụ”... có nghĩa thời gian có thay đổi nhưng Phật trí thì không thay đổi...
- Thân này gồm đủ bốn đức: Thường, Ngã, Lạc, Tịnh… Muốn thấy được thân này, phải là những Đại Bồ Tát có đầy đủ trí tuệ... như Văn Thù, Phổ Hiền... Thân này theo lời Phật, trên đỉnh đầu có Vô Kiến Đảnh Tướng, không một ai có thể nhìn thấy đảnh này... Pháp thân chư Phật đồng nhau... cho nên kinh Đại Bát Nhã có nói đến “Tứ Bình Đẳng” của chư Phật, một trong bốn bình đẳng đó là “Thân Đẳng”...
Tóm lại, cái thân mọi người đang thờ là Hóa Phật hay còn gọi là Hóa thân Phật... vì thế trên đầu có tóc...
Thân trên đầu không có tóc đó là Báo thân... Báo thân người đời thấy thông qua hình tướng các Tỳ Kheo Tăng...
⁎ Ba thân Phật đã làm nên mười danh hiệu... Vì thế viên mãn Phật quả gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác... tức giác ngộ chân chánh đồng như chư Phật, không có một ai cao hơn... Về ba thân, và câu hỏi của Nhị Huynh tôi chỉ hiểu có thế. Và hiện nay qua buổi sơ giao này chỉ có thể trình bày phần cơ bản... Khi nào có duyên lành chúng ta sẽ trao đổi sâu hơn... Vị nào có kiến giải tốt, xin mời... Nói đến đây, Lý Tứ chắp tay xá xá mọi người...
Lão Nhị, gật gật cái đầu, lim dim hai mắt ra chiều thỏa mãn, lão cất giọng:
Lão Sư trả lời thiệt là minh bạch và thỏa đáng, bản thân đồ đệ hết thắc mắc về chuyện này... Nhưng khi nghe Lão Sư nói về ba thân Phật, đồ đệ lại liên tưởng đến mấy chữ hồi nãy Lão Sư có nói đó là “Như Lai tự đáo cảnh giới”. Câu này đồ đệ đọc trong kinh có thấy đề cập, đó là một trong bảy cảnh giới gồm: Kiến cảnh giới, Tâm cảnh giới, Trí cảnh giới, Huệ cảnh giới, Siêu nhị kiến cảnh giới, Siêu tử địa cảnh giới và Như Lai tự đáo cảnh giới... Xin Lão Sư cắt nghĩa giùm cho. Đọc mấy cảnh giới này đồ đệ rất mơ hồ...
Nói đến đây lão chắp tay xá xá Lý Tứ có vẻ hoan hỷ lắm...
Lý Tứ hướng về phía Lão Nhị chắp hai tay xá xá đáp lễ, mặt tươi cười rồi nói:
Thưa Nhị Huynh!... Nhị Huynh đúng là tác phong của nhà mô phạm. Tư duy của Lão Huynh biểu lộ sự kết nối rất tốt các sự kiện có được. Câu hỏi của Lão Huynh cho thấy cái sắc sảo của một người đọc sách thánh hiền.
Thưa Lão Huynh!... Đúng là liên tưởng của Lão Huynh giữa các cảnh giới đệ nhất nghĩa và ba thân có sự liên hệ mật thiết. Ba thân Phật chính là biểu hiện toàn bích của bảy cảnh giới nên kinh gọi là có bảy thứ Đệ Nhất Nghĩa. Nhưng vì sao nó lại như vậy? Tôi xin trình bày sơ lược. Hy vọng nếu có cơ duyên lâu dài, chúng ta sẽ mổ xẻ cặn kẽ những vấn đề này. Nếu đào sâu được thì đây là đề tài rất thú vị của người tu hành...
⁎ Thưa các vị!... Phật dạy có bảy thứ Đệ Nhất nghĩa đó là: Kiến cảnh giới, Tâm cảnh giới, Tuệ cảnh giới, Trí cảnh giới, Siêu nhị kiến cảnh giới, Siêu tử địa cảnh giới và Như Lai tự đáo cảnh giới...
Trước nhất tôi xin nói vì sao bảy cảnh giới này gọi là Đệ Nhất Nghĩa: Đệ Nhất Nghĩa ở đây phải hiểu là Đệ Nhất Nghĩa Phật tâm, có nghĩa là chư Phật ba đời không thấy bảy cảnh giới này sai khác. Không như phàm phu, ngoại đạo, Nhị thừa... không biết các pháp do tự tâm hiện vì thế cho rằng có sai khác đây kia, và họ cũng không biết cái mà họ đang thấy sai khác đó đều không ngoài Viên Giác thanh tịnh. Vì không biết như thế nên đưa ra các quan điểm sai lầm là ngoài tâm có pháp, chấp các cảnh kia cho đó là tâm, lại chấp thủ cái thấy mà cho rằng có tự tướng cộng tướng sai biệt... Như người ngu soi mặt trong gương, lầm tưởng trong gương có kẻ giống mình...
Cho nên kinh Lăng Già Phật dạy: “Những người ấy không biết cảnh giới tự tâm mà chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai đều nói. Lại chấp trước cảnh ngoài tâm, nên thường trôi lăn không cùng trong sanh tử... Đại Huệ!... Thân, tài sản, khí thế gian, v.v... tất cả đều là bóng dáng của nhận thức, năng thủ, sở thủ đồng hiện khởi”…
Bây giờ tôi xin sơ lược giải thích về bảy cảnh giới.
- Kiến cảnh giới: Là cảnh giới của thấy nghe mà sanh.
- Tâm cảnh giới: Là cảnh giới do nhớ nghĩ huân tập mà sanh.
- Tuệ cảnh giới: Là cảnh giới do chủ ý học tập mà sanh.
- Trí cảnh giới: Là cảnh giới do thấu suốt hai vô ngã còn gọi là căn bản trí.
- Siêu nhị kiến cảnh giới: Là cảnh giới do Thanh Văn Duyên Giác thành tựu.
- Siêu tử địa cảnh giới: Là cảnh giới Phiền Não Bồ Đề không hai và
- Như Lai tự đáo cảnh giới: Là cảnh giới chư Phật tự chứng tự tại.
Kiến và Tâm cảnh giới là cảnh giới của phàm phu chấp trước, nên Báo Phật y nghiệp của họ mà dùng phương tiện Thế Đế để thuyết, khiến lần lượt dứt mê, sau tuyên nói các pháp do tự tâm hiện. Tuệ cảnh giới, Trí cảnh giới, Siêu nhị kiến cảnh giới của hàng hữu học vô học. Vì họ mà Như Lai phương tiện nói nghĩa Thánh Đế để Nhị thừa tu hành lần lượt thành tựu Thánh vị, sau đó dắt ra khỏi hóa thành vào thánh trí. Siêu tử địa cảnh giới Hóa Phật tuyên nói Chân Đế sanh tử tức Niết Bàn. Như Lai tự đáo cảnh giới là cảnh giới Phật Pháp Thân tự tại hóa hiện.
Tuy nói rằng bảy nhưng đồng Đệ Nhất Nghĩa Phật Tâm, nên kinh dạy: “Đại Huệ!... Đây là Đệ Nhất Nghĩa Phật tâm, tự tánh không tánh, ba đời chư Phật dùng Thánh Huệ Nhãn chiếu soi tự tướng cộng tướng mà kiến lập pháp Thế gian và Xuất Thế gian, an lập để người tu hành đồng về chỗ chân thật, không như phàm phu ngoại đạo dùng ác kiến phân biệt mà an lập”.
Để minh họa điều này, kinh có dạy: “Người tu hành từ Thủy Giác đi vào, chư Phật từ Bản Giác đi ra, chỗ gặp gọi là Đẳng Giác”.
Lý Tứ nói tiếp:
Thưa các vị!... Rất mong những ngày gần gũi, chúng ta sẽ đào sâu thêm vấn đề này. Những điều tôi vừa nói chỉ là cơ bản, muốn thấu suốt phải có quá trình tư duy tu tập. Vì rằng đây là những nghĩa giáo Bồ Tát, tức Phật dạy các Bồ Tát vào sâu Thánh Trí tự chứng để thấu suốt Phật Tâm Tông... Hay nói khác hơn những lời tôi vừa nói cũng chỉ là lời mở đầu, lời giới thiệu, giống như “cưỡi ngựa xem hoa”... Nếu bảo rằng dựa vào văn tự ngữ ngôn vừa nghe mà cho đây là chỗ thấy biết chân thiệt thì suy nghĩ này có lỗi... Rất mong các vị thông cảm và hy vọng nhân những giải thích này chúng ta có thể hiểu một vài phần về Thân Phật và Trí Phật... nhằm có thể tự định hướng cho mình hầu tiến đến mục tiêu tốt đẹp của đời sống tu hành...
[1] Thuật tướng: Học thuật tướng số
(còn nữa)
Ý Nghĩa Hai Chữ Bồ Tát

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ
Rồi Ả nói:
Thưa Lão Sư!... Tiểu nữ trước đây thường hay mơ ước, phải chi mình có nhiều tiền chừng vài trăm triệu đặng bố thí cho thỏa thích. Vì thế tiểu nữ thường hay mua vé số... nhưng chưa thấy trúng... Không biết tiểu nữ suy nghĩ như vậy có lỗi gì không? Xin Lão Sư từ bi mà khai thị cho tiểu nữ...
Lý Tứ cười ha hả rồi nói:
Cô Nương ơi!... Cô Nương!... Đã mong ước sao không mong ước luôn thể vài trăm tỷ cho nó đã. Tội gì mong ước lặt vặt vài trăm triệu mai mốt xài hết rồi lại mơ ước nữa. Cứ thế làm hoài có phải là nhọc công hạ sách hay không... Ha ha ha ha... Còn cô hỏi tôi:
Mong ước như vậy có lỗi gì không? Xin thưa với Cô Nương, mong ước có tiền vì lòng tốt và có tiền bằng cách trúng số, thì mong ước này đối với ba cõi chẳng lỗi gì hết... Thậm chí đáng vỗ tay hoan nghênh... Nhưng…
Điều này với Bồ Tát đạo thì coi là có lỗi. Lỗi vì trong Bồ Tát đạo, móng tâm tức tâm không thanh tịnh. Không thanh tịnh là gốc của mọi thứ sai... “Muốn được” là chướng giải thoát vì chưa “vô sở cầu”. “Muốn có” là còn vọng tâm vì chưa “vô sở đắc”... Vì thế, tốt nhất “có nhiêu cho nhiêu, cho hết thì thôi”…
⁎ Trong đạo Bồ Tát, móng tâm đồng nghĩa phạm lỗi... Chỉ cần móng tâm liền sai, chẳng luận tham nhiều hay tham ít... Vì thế, giới Bồ Tát gọi là giới tánh... Có nghĩa lấy thanh tịnh tâm làm giới, cái gì làm tâm này mất thanh tịnh đều coi là phạm...
⁎ Khác với Thanh Văn thừa, lấy một xu tội khác một tiền, lấy một tiền tội khác năm tiền... Cái này gọi là giới tướng... Tức Thanh Văn “tùy vào mức độ sai phạm mà xử lý”... Có nghĩa nhân nơi tướng sai phạm mà luận tội...
⁎ Vì thế Thanh Văn có Luật mà Bồ Tát thì không...
Bồ Tát chỉ nói đến phạm hay chẳng phạm, chứ không đem luật ra mà bàn cãi... Tôi nói như vậy, Cô Nương có thông cảm hay không?
Thất Muội cười bẽn lẽn rồi lí nhí trong miệng: Con hiểu!... Con hiểu!... Từ đây chẳng nên móng tâm cho dù tâm thiện!...
Thất Muội lại nói:
Thưa Lão Sư!... Tiểu nữ nghe nói trong thời kỳ đầu, Đức Phật không cho người nữ tu hành trong Phật đạo. Phải đợi đến thời gian sau khi ngài A Nan khẩn cầu, Thế Tôn mới cho Di Mẫu của mình và phụ nữ tu hành. Và cũng tại có người nữ trong giáo pháp mà chánh pháp phải rút ngắn còn năm trăm năm. Vì sao như vậy? Xin Lão Sư giải thích cho tiểu nữ... Tiểu nữ cũng là phụ nữ nên muốn giải tỏa chuyện này trong lòng... Xin lão Sư đừng cười đàn bà nhiều chuyện...
Lý Tứ cười nói: Cái gì mà đàn bà nhiều chuyện!... Chưa thông thì hỏi.
⁎ Phật dạy, một trong những kiết sử đó là “Nghi”. Khi chưa rõ điều gì phải hỏi cho ra lẽ. Trong lòng dứt mối nghi thì tu hành mới dễ dàng...
⁎ Theo tôi, nói rằng thời kỳ đầu, Phật không cho người nữ tu hành là không đúng, mà chỉ là Phật chưa sẵn sàng chấp nhận người nữ xuất gia trong giáo pháp của mình...
⁎ Theo cá nhân tôi, sở dĩ có chuyện như vậy là vì, thời đó giai cấp thống trị Sát Đế Lợi và giai cấp tế tự Bà La Môn cũng như văn hóa Ấn Độ không coi trọng người nữ. Nếu cho người nữ làm Tăng trong khi họ và quần chúng chưa hiểu nhiều về giáo pháp sẽ gặp bất lợi. Mà lúc này Phật giáo rất cần sự ủng hộ của hai giai cấp này cũng như quần chúng... Nếu giáo pháp trong thời kỳ còn phôi thai, mọi người chưa cảm thông mà bị chỉ trích thì sẽ không ổn...
Sau đó khi A Nan khẩn cầu, thấy đã đủ duyên, Phật mới đồng ý cho người nữ xuất gia, nhưng phải chịu phép “bát kính” và ràng buộc nhiều hơn về giới luật tất có lý do, và cũng không ngoài một phần ý nghĩa như tôi đã nói...
⁎ Chứ chẳng phải Phật không coi trọng người nữ, vì đối với Phật, mọi người bình đẳng...
Tôi còn nhớ, trong kinh có kể chuyện, khi Phật nhận ông Ni Đề là người thuộc giai cấp hạ tiện làm Tăng, tức thời bị vua A Xà Thế chất vấn...
Nam nhân của giai cấp Thủ Đà làm Tăng mà còn bị chất vấn như thế, hà huống nữ nhi... Cũng giống như xưa kia, một thời phụ nữ không được tham gia quân đội, hoặc một số vị trí trong xã hội là do hoàn cảnh nhất định của lịch sử và văn hóa địa phương... Nhưng không nhất thiết chuyện này mãi mãi như vậy...
Đây chỉ là suy nghĩ của cá nhân tôi, có thể suy nghĩ này chưa thỏa đáng. Khi nào thuận tiện Cô Nương có thể gặp các cao Tăng nhờ họ giải thích thêm... Hoặc ở đây, có vị nào kiến giải tốt hơn, xin mời lên tiếng...
⁎ Còn chuyện vì sao có người nữ xuất gia tu hành, giáo pháp phải mất đi năm trăm năm thời chánh pháp. Thì cũng theo cá nhân tôi, đây là lời huyền ký của Phật. Mà đã là lời huyền ký thì chẳng thể luận bàn... Bởi lẽ…
⁎ Phật nói như vậy thì nó như vậy, lý do rất khó biết... Ví dụ như Phật thọ ký một vị nào đó đời nào đó làm Phật... Theo tôi, lời huyền ký này chỉ có Phật biết, sức của tôi đây chẳng thể biết được... Tôi cũng nghĩ, Phật đạo không phải nhất nhất đều có thể bàn luận lý giải, vì có nhiều lý do. Một trong những lý do đó là:
⁎ Phật trí khác, phàm trí khác... Có những điều Phật biết, chúng ta không biết, đây cũng là lẽ đương nhiên...
Vả chăng, lời Phật là thiệt ngữ, có nghĩa khi Phật tuyên nói như vậy thì sự việc nhất định phải xảy ra như vậy. Còn nguyên nhân như thế nào thì rất khó thấy rất khó biết... Nếu Phật không nói ra chẳng có ai biết được...
Ví dụ chuyện khu rừng bị cháy lúc Phật và Tăng đoàn trú ngụ... Cả khu rừng bị cháy chỉ có nơi Phật và tăng đoàn đang ở không cháy...
Sau đó thấy sự việc lạ, các đệ tử hỏi nguyên nhân. Do có hỏi nên Phật mới kể là: “Nhiều kiếp trước Phật đã chú nguyện cho nơi này không cháy...” nên nay không bị cháy!... Nguyên nhân này Phật không tự miệng nói ra thì không ai có thể biết được...
Vì thế, trong năm cảnh giới[1], có cảnh giới gọi là: “Như Lai tự đáo cảnh giới...” ra khỏi nghĩ bàn của thế thường...
Thưa các vị!... Trong Phật đạo, cái gì chưa thông thì nên tìm hiểu trong phạm vi có được để thông. Cái gì tôi biết thì tôi chia sẻ cùng các vị. Cái gì tôi chưa biết mà có vị nào đã biết thì hãy nói cho mọi người cùng nghe cùng được lợi ích. Cái này gọi là “Lợi hòa đồng quân, Ý hòa đồng duyệt”. Không nên giấu giếm chỗ chưa thông cũng như kiến thức của mình... Vì tất cả các điều hôm nay tôi và các vị có biết được cũng đều là Phật pháp, tức của Phật nói ra, mình may mắn học được, chẳng phải của riêng mình tự biết... Lại nữa, tu hành trong Phật đạo cần nhất là chân thật. Cái gì biết thì nói tôi biết. Cái gì chưa biết thì nói chưa biết. Không phải mọi thứ đều biết như Phật. Vì thế chẳng ai chê trách cái chưa biết của mình...
Một khi ai hỏi điều gì mà mình chưa biết thì nói rằng cái này tôi chưa biết, tôi sẽ học hoặc tìm hiểu thêm... Đừng nên cưỡng cầu nói cái không biết, giải thích với người một điều mà mình chưa biết rõ, vô tình sẽ làm hại người. Tự hại mình thì không sao... nhưng hại người là việc không nên... Lại càng không nên dối với người tu hành trong Phật đạo... Phật đạo chỉ chê trách những người không biết mà cố nói, tài khôn dạy người. Làm như vậy chẳng khác gì người đời, khó lòng thành tựu pháp vô ngã... Thất cô Nương!... Những điều cô hỏi, hiện nay tôi chỉ biết có thế, chưa nghĩ ra ý nghĩa nào tốt hơn, xin Cô Nương hoan hỷ...
Bây giờ Lão Nhị mới lên tiếng:
Thưa Lão Sư!... Cái biết của Lão Sư thật là chân chánh và cái chưa biết của Lão Sư cũng rất chân chánh... chúng con nguyện học cái chân chánh này... Thưa Lão Sư!... Trong Phật đạo, nên hiểu về hai chữ Bồ Tát như thế nào mới đúng. Ở đời có rất nhiều người sẵn sàng đem tài sản của mình cho người... làm nhiều điều phước thiện... Không biết những người như thế có phải là Bồ Tát, và có được coi là Bồ Tát hay không. Con vẫn phân vân, xin Lão Sư giải thích giùm...
Lý Tứ ngẫm nghĩ một hồi rồi nói:
Thưa các vị!... Muốn minh bạch điều này, trước nhất chúng ta phải xác định ý nghĩa hai chữ Bồ Tát theo quan niệm chánh thống của Phật giáo.
⁎ Theo tôi hiểu, Bồ Tát là Phạn ngữ, Bồ Tát tức cách viết gọn của hai chữ Bồ Đề và Tát Đỏa, có nghĩa Giác Ngộ Hữu Tình... Ý nói đây là những người tự mình đã giác ngộ diệu lý và giúp người giác ngộ diệu lý... Trong Phật đạo, những ai làm được điều này đều gọi chung là Bồ Tát...
⁎ Như vậy, mục tiêu của Bồ Tát là sau khi mình giác ngộ còn phải giúp người giác ngộ. Chính vì vậy mà Phật dạy rất nhiều ý nghĩa thâm u cho Bồ Tát. Những lời dạy này nhằm giúp cho Bồ Tát biết phải làm gì mới đúng, trên tinh thần của một Bồ Tát theo yêu cầu Phật đạo... Nếu chiếu theo nghĩa này mà nói, thì người nào dùng phương tiện gì nhằm hoàn thành mục tiêu giúp người hoặc bây giờ hoặc sau này giác ngộ diệu lý, đều gọi chung là Bồ Tát...
Trong đời không ít người có lòng tốt, biết giúp đỡ người khác, biết chia sẻ quyền lợi, biết vì mọi người, có khi sẵn sàng xả thân... Nhưng không phải vì mục đích cho người giác ngộ diệu lý, mà vì một lý do riêng tư nào đó thì còn phải coi lại...
Theo quan niệm thế gian, thông thường hễ ai có lòng tốt, bao dung độ lượng... thì họ cho rằng người này có tâm Bồ Tát. Nói rằng làm như vậy là Bồ Tát không có gì sai, nhưng Bồ Tát trong ý nghĩa này hoàn toàn thuộc về quan niệm của người thế gian... Thế gian hiểu theo nghĩa thế gian, Phật đạo hiểu theo nghĩa Phật đạo. Cũng là chữ Bồ Tát, nhưng không đồng nhất trong cách hiểu là nguyên nhân như vậy.
Thưa các vị!... Chỉ có hai chữ Bồ Tát mà vì sao phải cắt nghĩa dông dài, tỷ mỷ như vậy... Các vị thử nghĩ xem, Phật thuyết pháp cũng mượn văn tự ngữ ngôn của thế gian mà nói. Vì thế xét trên phương diện từ ngữ thì thế gian và đạo không khác nhau, nhưng ý vị ẩn chứa trong đó mỗi thứ lại có phần riêng của mình. Vì thế cũng văn tự đó nhưng người tu hành phải hiểu theo ý nghĩa Phật dạy mới biết lời kinh nói gì. Nếu cứ hiểu từ ngữ Phật giáo theo như cách hiểu thế gian thì không rốt ráo được lý lẽ của nó... Thậm chí có khi sai lệch rất xa về mặt ý nghĩa...
⁎ Như hai chữ Bồ Tát, thế gian hiểu không sai, nhưng người tu hành muốn làm Bồ Tát mà hiểu như vậy nhất định không ổn. Bởi lẽ hiểu như thế gian làm Bồ Tát không cần gì phải tu phải học, chỉ cần có tấm lòng là được... Nhưng thưa các vị!...
Trong Phật đạo chỉ một tấm lòng thôi chưa đủ, mà đòi hỏi đã là Bồ Tát ngoài tấm lòng, còn phải thấu suốt một số vấn đề nhất định của Phật đạo. Nếu không như vậy thì chẳng thể giải quyết phần mình, cũng chẳng giúp người giác ngộ diệu lý.
Giống như thấy người chết đuối, trong tâm muốn cứu người đó nhưng tự mình không biết bơi lội, cũng chẳng có phương tiện tốt thì phỏng có cứu người được không? Hay là cả hai cùng chết chìm...
Trong kinh Đại Niết Bàn Phật cũng có ví dụ về chữ Tiên Già Bà... Đồng một chữ này mà người lính hiểu nó là cây gươm, người nội trợ hiểu chữ này là muối, người hầu hiểu đó là tấm chăn, người giữ ngựa hiểu là con ngựa... Mỗi người có cách hiểu riêng. Nếu hiểu không đúng hoặc người này hiểu cách của người kia thì nhất định sẽ hỏng việc...
Cho nên đã là thuật ngữ thì điều rất cần là phải hiểu đúng. Nếu hiểu như cách ở đời thường hiểu, thì còn gì gọi là thuật ngữ... Mà Phật đạo có vô số thuật ngữ như vậy, xin các vị hiểu cho...
Lão Nhị lại lên tiếng:
Lão Sư đúng là mỗi mỗi phân minh, đã hiểu thì phải hiểu đến nơi đến chốn... Nếu chỉ qua loa mà cho rằng như thế là đủ thì sẽ không có nhiều lợi ích. Anh em chúng con từ xưa đến giờ, vì thiếu cái cặn kẽ này mà đọc kinh tuy nhiều, nghe giảng không ít... rốt cùng nếu không may mắn gặp Lão Sư thì chẳng khác chi người đời... Vẫn cứ loay hoay trong cái hạn hẹp của chấp nhất, chưa thông lại tưởng đủ...
| [1] Nếu thêm Kiến và Tâm (phàm phu cảnh giới) thì tổng là bảy. |
(còn nữa)
Công Đức Cúng Dường. Văn Hóa Vô Lậu

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ
Lão Đại mở choàng đôi mắt nói lớn:
Thưa Lão Sư!... Thưa các huynh đệ!... Đúng là như kinh nói “Nghe cái chưa từng nghe, thấy cái chưa từng thấy”. Một đời đồ đệ đã bôn tẩu nhiều nơi, đọc nhiều sách vở, nghe nhiều cao nhân thuyết pháp giảng kinh... nhưng tất cả chỉ là học vấn văn tự ngữ ngôn. Vì thế tuy giảng nói lời Phật mà ý nghĩa chẳng khác thế gian là mấy... Chưa thấy vị nào thông qua một vài lời mà chỉ được bổn tâm như Lão Sư. Đồ đệ thầm nghĩ, dù có học bao nhiêu văn tự mà không thấu suốt nguồn tâm thì cũng như “gãi ngứa ngoài hia”, chẳng có tác dụng gì... Mỗi lời Lão Sư nói ra, tác động thẳng vào tâm người nghe, đúng là “chấn động sáu cách”... Bây giờ đồ đệ mới tận mắt chứng kiến thế nào là đương cơ... thế nào là thuyết pháp... Đồ đệ cũng nhận ra khác nhau giữa thuyết pháp và giảng kinh...
Và đồ đệ mới hết thắc mắc vì sao sau khi Phật thuyết một thời pháp, đệ tử chứng quả nhiều vô số... Thì ra bí mật của Phật đạo là ở chỗ này!...
Trước đây đồ đệ cũng lấy làm thắc mắc về việc cúng dường bố thí. Thế Tôn dạy ý nghĩa bình đẳng... nhưng tại sao lại còn dạy, “Cúng dường một Tu Đà Hườn công đức chẳng bằng một phần vô lượng cúng dường một Tư Đà Hàm... Cứ thế chẳng bằng cúng dường một A La Hán, một Bồ Tát, một Đẳng Chánh Giác.”
⁎ Công đức cúng dường tỷ lệ thuận với địa vị người được cúng dường... Hóa ra là như vậy, người cúng dường cho Tu Đà hườn sẽ thụ hưởng một nền giáo dục chỉ tương đương một Tu Đà Hườn và công đức có được sẽ không thể cao hơn... Thiệt là đạo lý thâm u, nếu không có duyên lành khó mà biết được.
Đệ tử cũng nhân dịp này mà giải mối nghi trong lòng. Đọc kinh đệ tử thường nghe kinh nói, thần thông của Bồ Tát không thể nghĩ bàn... Với năng lực của mình, Bồ Tát có thể đưa một chúng sanh từ cõi này đến vô số cõi khác, thậm chí đến các Phật quốc chỉ trong chớp mắt rồi đưa trở về bổn xứ mà chúng sanh đó không thấy mình có đi lại... Hoặc cũng có kinh nói, Bồ Tát có thể đem hết tam thiên Đại thiên thế giới để trên đầu một sợi lông rồi thổi cho tam thiên Đại thiên thế giới đó bay vào hư không... Quả là hy hữu!... Quả là hy hữu... Lão Sư đã đem bao nhiêu người ở đây chu du qua vô lượng thế giới đến Phật quốc rồi trở về mà chẳng ai rời chỗ ngồi... chẳng động lấy thân...
Lão Sư đã để tam thiên Đại thiên thế giới trên đầu sợi lông rồi thổi bay ra khỏi tâm ba cõi này... Thổi một cái biến những tâm trạng ngổn ngang thành hư không thanh tịnh...
Đệ tử cũng hiểu ra, ngài Mục Kiền Liên thần thông quảng Đại, có thể bay lên núi Tu Di rồi bay qua rất nhiều Phật quốc... mà vẫn nghe Thế Tôn thuyết pháp “văng vẳng bên tai”... Đúng là “Nhất thiết Phật ngữ tâm”. Đúng là “Chẳng nên hướng ngoại tìm cầu”.
Đúng là “Tam giới duy tâm”. Đúng là “Vạn pháp duy thức”...
Thiệt là cái ngu này nếu không gặp được Lão Sư thì muôn kiếp đồ đệ không thể dứt nó...
Lão Sư ơi!... Đúng là Lão Sư đã khai Thiên nhãn cho đồ đệ, Lão Sư đã khai Pháp nhãn cho đồ đệ... Một lời Lão Sư, đồ đệ giải cái nghi trong vô lượng kiếp... Nghĩ lại, đồ đệ tự cười chính mình, cười bao nhiêu người khác giống như đồ đệ. Miệng tuy nói “Tam giới duy tâm”, mà cứ nhìn ngó vọng tưởng bên ngoài để mong tìm thấy các pháp ngoài tâm...
Hỡi ơi!... Cứ như vậy thì biết đến bao giờ mới có cơ may giác ngộ... Và không giác ngộ, thì làm sao hiểu lời Phật... Không hiểu lời Phật, hèn chi ở đời người ta thích đọc luận hơn kinh!...
Bây giờ đồ đệ mới có manh mối để hiểu, thế nào là Hóa Phật, Hóa Bồ Tát thuyết pháp. Thế nào là ba mươi hai tướng tốt tám mươi vẻ đẹp và sáu mươi bốn phạm âm... Thế nào nghĩa “Như Lai là như chư Phật xưa mà thuyết pháp” mà Phật đã dạy trong kinh Đại Niết Bàn... Thế nào là ý nghĩa câu nói của ngài Xá Lợi Phất: “Bạch Thế Tôn!... Con từ miệng Phật sanh”. Thế nào là câu nói của Ương Quật Ma La: “Từ ngày con được chánh pháp sinh ra, chưa từng giết hại sinh mạng nào”. Thế nào là câu nói: “Vì thương chúng sanh nên Như Lai vẽ các hình...”... Thế nào là thân hóa sanh...
Lão Sư ơi!... Nay con cũng xin nói: “con từ miệng Lão Sư hóa sanh”… Thất Muội và các huynh đệ ơi!... Thất Muội và các huynh đệ chẳng phải phàm nhân. Nhờ hết thảy huynh đệ ở đây tâm cầu đạo mãnh liệt mà mới có duyên lành để Lão Sư đương cơ khai thị... Bây giờ mới hiểu cái câu: “Phật, Tổ chẳng thể độ kẻ vô duyên”.
Các huynh đệ muội ơi!... Ngày xưa Lão Đại ngu dốt mờ tối, những tưởng mình có cái hơn người, những tưởng mình là huynh trưởng của đệ muội... Nay ngộ ra mới biết rằng chẳng có cái gì là huynh chẳng có cái gì là đệ. Huynh đệ trên dưới chỉ qua đem cái tâm hư dối mà đối đãi với nhau...
Khi giác ngộ mới biết bổn tâm xưa nay chưa từng có trên dưới đệ huynh... Hết thảy hữu tình đồng một bản lai thanh tịnh... Thiệt là một đời người, bây giờ mới thấm cái nghĩa “Các pháp bình đẳng”...
Lý Tứ lại bảo:
Thưa Lão Đại, các huynh đệ!... Tuy nghĩa là thế, chẳng thấy có huynh đệ tỷ muội... Nhưng là người trong ba cõi, thì cũng nên thuận theo thế thường, không nên làm khác... Cũng xưng nhau là huynh là muội, mà trong lòng không thấy có cao hạ mới là ý vị của đạo, cái này chỉ thầm tự biết mà thôi...
Vì thế Phật dạy: “Phàm nói trâu, thánh cũng nói trâu.” Nay chúng ta cũng thế, chớ nên nói khác... Chỉ khi nào thấy mình có cái hơn người. Chỉ khi nào thấy người chẳng bằng mình dù bất kỳ ở phương diện nào, nên biết rằng cái thấy này là chướng đạo... cần phải từ bỏ... Đạo có văn hóa của đạo... Tôi thường hay nói với các vị văn hóa vô lậu là muốn nói điều này.
⁎ Thế nào là văn hóa vô lậu? Văn hóa vô lậu là một hình thái văn hóa chỉ có trong Phật đạo. Đó là đời sống được xây dựng trên nền tảng giác ngộ, gồm cộng đồng những người có giác có ngộ. Văn hóa này lấy thanh tịnh tâm làm chuẩn mực. Những gì trái với thanh tịnh được loại bỏ hoàn toàn. Công sức bỏ ra sẽ gặt hái thành quả là công đức. Vì thế các giá trị ở đây được đo lường bởi công đức tức sự thanh tịnh tự thân...
Văn hóa này cho ra cái tự vui. Tự vui là sự vui chẳng do bất kỳ cái gì làm nên. Vì chẳng gì làm ra cho nên nó là thường... Đây là loại văn hóa của những ai biết tùy hỷ, biết tán thán. Vì biết tùy hỷ tán thán nên một vui là tất cả vui, tất cả vui là một vui...
Văn hóa vô lậu là một xã hội không tích chứa phiền não, tạm gọi là “Ngũ uẩn giai không”, tức là không đặt giá trị hư ảo lên thân này; không lấy khổ vui của cảm thọ mà sinh hai tâm, biết các tưởng không thật nên chẳng có phương sở sai khác, biết rõ các niệm chính là hành tâm nên chẳng tạo ra hiệu số chênh lệch thiện ác, thấu suốt hiểu biết thế gian là sản phẩm của nghiệp nên thức chẳng sanh...
Ứng xử của cộng đồng là “Không bốn tướng”. Vì không bốn tướng nên tâm lo sợ tự mất...
Ngữ ngôn giao tiếp của cộng đồng là “Không tứ cú”. Không kẹt tứ cú nên có thể dạy người giác ngộ...
Đời sống của cộng đồng là “Không bốn bệnh”. Vì không bốn bệnh nên đạo tràng thanh tịnh tự hiện...
Quan niệm của cộng đồng là “Không ba thời”. Vì không ba thời nên chẳng có thấy thường hay vô thường...
Tồn tại của cộng đồng là “Tứ vô lượng tâm”. Vì là tứ vô lượng tâm nên tồn tại này do nguyện...
Nói chung, văn hóa vô lậu là nền văn minh của bậc thánh có đầy đủ trí tuệ... Vì thế nơi văn hóa vô lậu không hô hào lục hòa, lục hòa cũng hiện...
Thưa các vị!... Muốn được thứ văn hóa này, muốn tồn tại trong nền văn hóa này, các vị phải nỗ lực bản thân...
⁎ Chỉ có văn hóa vô lậu mới cho ra những quả vị vô lậu... Quả vị vô lậu là các tầng sâu của thanh tịnh tâm...
Văn hóa vô lậu chính là nét đẹp trong lòng người giác ngộ. Một khi đã giác ngộ thì văn hóa vô lậu ngay nơi tâm này, chẳng nhọc công tầm cầu nơi khác...
Thuyết giáo một hơi về văn hóa vô lậu, coi bộ thấm mệt nên Lý Tứ không nói nữa mà bưng bình trà lên, làm một hơi năm sáu ly trà đậm...
Thất Muội trố con mắt dòm Lý Tứ rồi thầm nghĩ:
Lão Sư thiệt là “thần thông quảng Đại”, trà đậm làm một hơi năm sáu ly, ớt cay ăn lần cả nắm. Chắc cái bụng của Lão Sư làm bằng sắt thép hay ny lon gì đây. Thiệt là người “Đại ngộ” có khác!...
Hôm qua khi dọn cơm, mình quên lấy ớt, Lão Sư bèn dõng dạc như sư tử hống gầm lớn: “Bộ nhà to như vậy mà không mua nổi ký ớt hay sao”… Lão Sư ơi!... Tưởng Lão Sư đòi hỏi thứ gì thì tiểu nữ không dám hứa, chứ ớt cay thì mọc hoang đầy vườn, trà đậm thì sau núi không thiếu. Ở lại đây bao lâu Lão Sư cũng đừng lo hai thứ này... Lão Sư ơi!... Coi bộ thuốc dạ dày của thầy Cảnh Thiên mai mốt có chỗ dùng rồi...
Nghĩ đến đây ả ửng hồng đôi má rồi nghĩ tiếp... “Lão Sư thiệt là bậc Đại Pháp Sư, mới học có một chút xíu trí tuệ của Lão mà mình cũng thông tuệ hẳn lên... biết tính toán đến ớt trà dưa muối... Hi hi hi hi...”
(còn nữa)
Làm Sao Để Thấy Được Như Lai? “Ái Ngữ” Trong Phật Đạo

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ
Lý Tứ tiếp lời Thất Muội:
Thất Cô Nương!... Các huynh đệ!... Lý Tứ tôi thiệt trân trọng nghĩa tình của các huynh đệ đối xử với Lý Tứ này. Cuộc đời tôi chỉ tâm nguyện là những ai đã có cơ duyên gặp Lý Tứ, cho dù người đó lấy cái tình hay lấy phụ bạc đối với mình, đều coi như quyến thuộc, chẳng luận thân thù, chẳng thấy ghét thương... Mong rằng nhân cái duyên gặp gỡ này mà họ được pháp lành... Như con đò đưa người sang sông, con đò chẳng nói đây thù kia thân... Ai chịu bước xuống tất được đến bờ... Ngoài tâm nguyện này, Lý Tứ không có ý khác...
Tôi vốn không thích nói về mình. Trước đây Lý Tứ có người bạn văn hay chữ tốt, đã tặng mấy câu thơ. Xin đọc cho các vị nghe, cũng xin tác giả cho phép tôi sửa vài chữ để bài thơ hợp tình hợp cảnh:
“Ngàn thu làm kiếp con đò...
Giữa dòng sanh tử đôi bờ vốn không.
Trăng thanh lương nước tịnh dòng
Như muôn chiếc lá về nguồn đó thôi!…”
Đọc đến đây, Lý Tứ lại tiếp:
Nhưng Thất Cô Nương ơi!... Lý Tứ có thói quen sạch sẽ ngăn nắp lại thích trà ngon... Nếu Cô Nương không thấy gì bất tiện, thì lo mấy cái vụ này giùm... Biết đâu nhờ có trà ngon mà Lý Tứ ở lại đây làm bạn với các vị lâu hơn!... Ha ha ha ha... “Dù gì thì phụ nữ cũng chu đáo hơn nam nhân... mà!...” Ha ha ha ha...
Thất Muội tiếp lời Lý Tứ...
Lão Sư ơi!... Nhìn phong cách và nghe giọng cười của Lão Sư, tiểu nữ cứ tưởng Lão Sư là khách giang hồ... thứ thiệt… Hi hi hi hi... Hình ảnh của Lão Sư đã xóa đi trong lòng tiểu nữ những chấp nhất từ xưa đến giờ. Trước đây tiểu nữ cứ hình dung trong đầu, một người giác ngộ là phải “tiên phong đạo cốt” râu tóc bạc phơ... đi đứng nói năng như một cỗ máy... cái tướng rất ngầu, ai gặp cũng ớn... ai nhìn cũng ghê... Ai dè... thì ra trí tuệ chẳng can dự gì đến thân này...
Đúng rồi hình như kinh gì đó, chắc là kinh Can trường có nói:
“Nhược dĩ sắc kiến ngã,
Dĩ âm thanh cầu ngã,
Thị nhân hành tà đạo,
Bất năng kiến Như Lai.”
Bây giờ tiểu nữ mới hiểu câu nói hôm trước của Lão Sư: “Cho dù người tu hành có đắc cái quả hiện tiền cũng không vì thế mà mọc ba con mắt sáu cái tay”…
Hèn chi khi vào chùa, nhìn hình ảnh mấy chục vị Tổ, người nào cũng ngộ ngộ, có cái gì đó quái quái... Tiểu nữ rất thích hình ảnh này...
Lý Tứ thầm nghĩ, “Thiệt là may mắn, ả này không nói lộn lời kinh, chỉ lộn có cái tên. Thây kệ… lộn cái tên thì chẳng sao, mai mốt có dịp sẽ tìm cách nói khéo cho ả biết đó là kinh Kim Cang chứ không phải kinh Can Trường”. Đúng là ả vào giang hồ lâu rồi nên cứ lấy can trường mà đối đãi với nhau, nói riết quen miệng... Lý Tứ lên tiếng:
- Thưa Thất Cô Nương!... Nghe Cô Nương đọc bài kệ trong kinh Can Trường gì đó, Lý Tứ tôi thiệt hả dạ... Từ nay có người hiểu mình… Ha ha ha ha... Tôi có cái tánh hay hài hước, mong Cô Nương và các vị chỉ học cái đạo nghĩa đừng học cái hài hước của tôi... Cô Nương ơi!... Cô Nương đọc mấy câu kinh Can Trường gì đó hay thiệt. Xin cô Nương cắt nghĩa cho tôi biết, nếu ai chấp vào thân tướng hay nghe lời nói mà cho đó là Như lai thì đây là kẻ hành tà đạo và nhất định “bất năng kiến Như Lai”…
- Như vậy “Như Lai là cái gì?” để “thường năng kiến Như Lai” thì phải làm sao?
Thất Muội mỉm cười rồi nói:
Thưa Lão Sư!... Thưa các huynh đệ!... Thú thật, mấy câu kinh này tiểu nữ đã thuộc từ lâu, lại được nghe giảng nhiều lần nơi các tự viện... Và thỉnh thoảng cũng có nghiền ngẫm về nó, nhưng không thể nào hiểu nổi... Đôi khi lại còn hiểu ngược... Chùa am thờ Phật thân tướng oai nghiêm, ai thấy cũng kính trọng, ai gặp cũng muốn lễ lạy... Trong chùa lại có rất nhiều quyển kinh, quyển nào cũng dày mo đều dạy Phật lý... Cớ gì bảo rằng hễ ai y cứ vào hai thứ này mà nói rằng đó là Phật đều là tà đạo hết, lại còn nói người này chẳng thể thấy Phật... Những lời thâm u như vậy thì thiệt tiểu nữ không thể nào hiểu nổi...
Bất ngờ lúc nãy, khi nghe Lão Sư cười với cái giọng hài hước, trong bụng tiểu nữ thầm nghĩ, “Lão Sư thân tướng chẳng tốt gì mấy, lại nói năng vui tai, không phải một bề nghiêm trang, nhất nhất lễ nghi như mấy vị Hòa Thượng trong chùa. Nhưng lời nào Lão Sư nói ra cũng đầy đủ ý vị, khiến người nghe từ u tối thành sáng, từ phiền não thành an vui”. Bất chợt tiểu nữ hiểu ra nghĩa lý bài kinh... Muốn thấy được Như Lai phải từ bỏ chấp nhất hình tướng bên ngoài; Như Lai không từ cái uy nghiêm nơi thân tướng, Như Lai cũng không từ cái trau chuốt của văn chương chữ nghĩa, Như Lai cũng chẳng tự cái thâm u của văn tự ngữ ngôn trong những cuốn kinh dày mo... mà Như Lai chính là ý vị của ngôn thuyết. Ai cảm được cái ý vị này tức đã diện kiến Như Lai. Một phen diện kiến rồi mới biết Như Lai ra ngoài thấy nghe hay suy nghĩ so lường...
Như Lão Sư đây, tiểu nữ để ý từ hôm Lão Sư đến đây. Mấy ngày qua, lần nào cũng vậy, nhân cái cảnh trước mắt mà Lão Sư tuyên nói diệu lý. Nghe xong diệu lý cảnh mất trong lòng... Lão Sư chẳng để cuốn kinh trước mặt mà diễn giải từng trang, cũng chẳng cao giọng bằng những lời lẽ đao to búa lớn, chẳng luận có, chẳng luận không... Nhưng qua cách nói của Lão Sư, ai ai cũng biết đó là Phật pháp, nghe xong thấm nhuần đạo lý... Không biết tiểu nữ hiểu như vậy có đúng không? Xin Lão Sư chỉ dạy...
Lý Tứ khen lớn:
Cô Nương đúng là một trượng phu!... Chiều sâu trong lòng Cô Nương rất là hiếm thấy. Xin chúc mừng Cô Nương đã dẹp bỏ cái nữ nhi thường tình... Nghĩa lý và oai lực của kinh Kim Cang là ở chỗ đó, nay Cô Nương đã lãnh hội một phần... Ai thấu suốt một phần kinh này, sẽ được cái tâm kiên cố vững chắc như Kim Cang. Vì sao lại được cái tâm kiên cố như vậy? Vì bởi trong lòng không còn vướng mắc, cái thấy không bị ngăn, cái nghe không bị bịt... Con mắt khi đối thân tướng bên ngoài chẳng làm động tâm, lỗ tai nghe qua lời kinh thấy được ý vị... Thấy nghe như gió thoảng đầu non, như tiếng vang trong núi... Lại nữa, được ý vị rồi phải xả bỏ ngôn thuyết... Như người ăn mía bỏ bã... chỉ lấy cái tinh túy làm sạch nguồn tâm...
⁎ Ngày xưa Phật cũng có dạy: “Người nghe kinh phải như con nga vương uống sữa hòa nước, thọc mỏ vào ly sữa để uống, chỉ hút toàn sữa, còn nước để lại”.
Thì cũng vậy, nghe kinh chỉ cốt được ý, ý ấy là tâm... Được ý phải biết quên lời, như con nga vương uống sữa trong nước... Chỗ thấy của Cô Nương nhất định nếu có duyên lành sẽ thành tựu lớn... Mong rằng từ nay Lý Tứ tôi không phải tặng Cô Nương mấy hộp thuốc tiêu thực... Ha ha... Ha ha...!...
Lý Tứ lại tiếp:
Nhưng Cô Nương cũng chỉ mới nói được cái tâm xả bỏ các tướng hư dối của thân tướng và ngôn thuyết, mà Cô Nương chưa cho tôi biết cái gì mới là Như Lai? Như Lai phải thấy như thế nào? Cô Nương cố suy nghĩ thử xem... Tôi đương rửa tai để nghe Cô Nương nói đây...
Thất Muội lại nói:
Thưa Lão Sư!... Tiểu nữ quán kỹ nguồn tâm của mình thì hiểu rằng: Như Lai chính là ngay hiện tiền cái tâm rỗng rang, cái ý hồn nhiên, cái trí sáng suốt... Đối trước cảnh duyên như gương sáng hiện hình, không bận không phiền, không não không hại... chẳng nhớ quá khứ, chẳng vọng vị lai... Thấy biết như thế gọi là thấy Như Lai... Chẳng hiểu tiểu nữ nghĩ như thế có đúng hay không? Xin Lão Sư chỉ dạy...
Lý Tứ nói:
Cô Nương quả là tư chất hơn người, những điều Cô Nương vừa trình bày thiệt đáng trân trọng...
⁎ Nhưng nếu hiểu như Cô Nương thì chỉ mới hiểu một nửa nghĩa của hai chữ “Như Lai”...
Tức là cái hiểu của Cô Nương mới nhằm nói được nghĩa “Như”. Cô Nương tĩnh tâm nghiệm lại xem tôi nói có đúng không? Nói đến đây Lý Tứ làm thinh...
Thất Muội chiêm nghiệm hồi lâu rồi bảo: Quả đúng như vậy. Khi thấy được nghĩa này, cái tâm của tiểu nữ dừng lặng... ý có chút nghĩ suy nhưng nghĩ suy này đối với tâm như nước chảy qua cầu... tâm chẳng hề dao động cũng chẳng duyên theo pháp... Một bề vắng lặng bất động...
Lão Sư ơi!... Tiểu nữ biết thế nào là nghĩa Như rồi... Hèn chi tiểu nữ hay nghe các cao nhân ngâm nga câu: “Thuấn Nhã Đa tánh khả tiêu vong, Thước Ca Ra tâm vô động chuyển...”... Nói rồi ả lạy Lý Tứ một lạy...
Lý Tứ cười ha hả rồi nói:
Hay!... Hay!... “Thuấn Nhã Đa tánh khả tiêu vong, Thước Ca Ra tâm vô động chuyển”. Đây là Phật ngôn, đây là Thần Chú chớ chẳng phải lời phàm... Hai câu này chỉ có người giác ngộ mới biết được một phần nhỏ ý nghĩa. Cô Nương mà thấy được một chút ý vị trong đây, có thể nói là “kỳ sự hy hữu”. Như thế là Cô Nương đã nếm chút nước cam lồ thừa của chư Phật, hy vọng một ngày không xa sẽ được đứng dưới chân đảnh Thủ Lăng Nghiêm mà chiêm bái Thế Tôn. Thiệt là duyên lành. Xin chúc mừng Cô Nương... Nhưng Cô Nương ơi!...
Cô Nương cố nghĩ suy xem, đã Như thì không Lai... Lời Phật là thiệt ngữ, lời Phật là chơn ngữ... Như vậy cái gì là Lai... Do đâu mà nghĩa Lai xuất hiện... Cô Nương cố nghĩ xem... Một phen thấy nghĩa này, thì mới xứng đáng lễ lạy đức Như Lai...
Thất Muội trầm ngâm một hồi lâu rồi lên tiếng:
Thưa Lão Sư!... Điều này tiểu nữ cố nghĩ suy mà không thông suốt, chắc căn cơ của tiểu nữ nhỏ hẹp. Xin Lão Sư từ bi chỉ dạy...
Lý Tứ nghiêm giọng nói lớn:
Làm sao Cô Nương biết căn tánh mình nhỏ hẹp? Cô Nương lại bị cái nữ nhi thường tình sống dậy rồi... Điều Đại kỵ của người học đạo là câu đó. Trên đời bất kỳ một ai mở miệng nói câu này trong lúc tu hành thì coi như tự đóng cửa đạo...
Học đạo không như ở đời, khi đối đáp với nhau, không thể dùng những câu thường tình yếu đuối để biểu lộ khiêm tốn mà làm cho cái tâm trở nên hạ liệt như kẻ phàm phu... Những câu nói như vậy hoặc tương tự như vậy, dùng để đối đãi với nhau ở đời là tốt, rất tốt... nhưng với đạo thì không có chỗ xài...
Thế Tôn ra đời!... Chỉ có hoài bão là mong muốn tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo. Có nghĩa rằng mặc nhiên công nhận cái gì Phật làm được thì chúng sanh cũng có thể làm được... Cớ gì nay có người chối bỏ điều này... Cái câu cô vừa nói chẳng khác chi phủ nhận hoài bão của chư Phật...
Tất nhiên người học đạo không được ngã mạn. Ngã mạn là lỗi lớn... Nhưng cũng không được sinh tâm hạ liệt, vì hạ liệt đồng nghĩa với chấp nhận tự thân ngu si không trí... Hai thứ tâm này đều phá hoại đạo tâm, phá hoại trí tuệ...
Đâu!... Cô Nương thử cố nghĩ xem, do nghĩa nào mà chữ Lai xuất hiện... Tôi tin rằng điều này không ngoài tầm tay của Cô Nương...
Thất Muội ngồi ngay ngắn chiêm nghiệm một hồi rồi nói: Thưa Lão Sư, cái nghĩa Lão Sư vừa nói với tiểu nữ chính là nghĩa Lai vậy. Vì cái ngu muội hạ liệt của tiểu nữ mà chư Thánh phải từ bỏ chỗ ngồi bất động đến với chúng sanh. Đến với chúng sanh để làm cho chúng sanh hết ngu muội hạ liệt. Đến với chúng sanh để ban cái an vui thì gọi là Lai...
Như cái trống kia chẳng có tiếng kêu, tự như bất động, nhưng có kẻ đánh liền kêu, tiếng kêu vừa tâm người đánh... Đánh lớn kêu lớn, đánh nhỏ kêu nhỏ, không đánh không kêu, tuy có kêu mà trống kia vẫn thường tịch diệt... Thường kêu thường tịch diệt nên gọi là Như Lai…
Thưa Lão Sư, nay con cũng thấu suốt ý nghĩa của hai chữ “Ái Ngữ” trong Phật đạo rồi... Ái ngữ là lời nói xuất phát từ Bi tâm. Chư Thánh mỗi lời mỗi lời đều là ái ngữ. Như cha mẹ thương con... dù lời ngon tiếng ngọt, hay chửi mắng la rầy... hai thứ này cùng là ái ngữ. Ái ngữ vì đều xuất phát từ một tâm đó là Từ Bi tâm vậy... Nhân nơi Từ Bi của Lão Sư mà nay con rụng rơi cái ngã... Nói đến đây, nước mắt ả ràn rụa... Ả lại quỳ xuống lạy dài Lý Tứ...
Lý Tứ lại nói:
Xin chúc mừng Cô Nương, chúc mừng huynh đệ!... Kẻ học đạo một phen giác ngộ, như người ra khỏi cơn mê... Ra khỏi cơn mê rồi, mới biết muôn cảnh muôn vật đều là huyễn hóa. Cảnh kia tự như, chỉ do tâm suy lường nên cảnh kia thành pháp... Mê nơi pháp, thì phiền não cột trói dậy lên... Phiền não cột trói dậy lên, buồn vui xuất hiện. Buồn vui gọi là tâm, có tâm là có ngã, tâm diệt ngã vong, ngã diệt tâm vong... nên phiền não gọi là pháp tương ưng...
Tương ưng vì tâm thanh tịnh phiền não liền dứt; dứt phiền não tâm liền thanh tịnh... Vì thế Kim Cang kinh Phật dạy: “Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh hương vị xúc pháp sanh tâm... Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”. Đạo là như vậy đó... Ha Ha... Như vậy!... Như vậy... Chỉ cần “Như Vậy” là xong... Sao Cô Nương nay đã “Như Vậy” hay chưa?
Thất Muội cung kính nói:
Thuật... lấy pháp huyễn để trị huyễn tâm... Nay con đã “Như Vậy” rồi, đã “Như Vậy” rồi ạ…!... Ả cười thật tươi mà nước mắt ả không ngớt tuôn rơi...!...
(còn nữa)