Mục Đích Đọc Kinh Điển; Nhận Biết Một Người Đã Giác Ngộ
Kinh Phật chính là “sách giáo khoa” của Phật đạo… !!! Dạy và học trong bất kì lãnh vực nào, cũng cần có sách giáo khoa, vì dạy và học mà “không căn cứ vào sách giáo khoa”, chắc chắn người dạy chẳng biết mình dạy gì, người học chẳng biết điều mình đã học có đúng với chuẩn mực của ngành học đó đề ra hay không !!!

Lý Tứ Hỏi Đáp Số 6
Các bạn !!!
Tuần này, chúng ta trao đổi câu hỏi của bạn Nhất Vi, câu hỏi như sau:
1) Người tu có cần đọc kinh điển hay không? Có người bảo rằng chỉ cần hành, không cần đọc kinh, vì tâm chính là kinh, câu nói này đúng hay chưa?
2) Lên mạng tôi thấy ai cũng tự cho rằng mình đã ngộ, chê kẻ khác là chạy theo tưởng tri gì đó rất khó hiểu, làm thế nào để phân biệt được người nào ngộ thiệt người nào ngộ giả? Xin Lý Tứ giải đáp dùm Nhất Vi những thắc mắc vừa nêu, cảm ơn BQT và Lý Tứ đã có nhiều bài viết và trả lời bổ ích.
Mình xin trả lời hai câu hỏi của Nhất Vi !!!
Về câu hỏi thứ nhất, xin chia làm hai ý:
– Ý thứ nhất: Người tu có cần đọc kinh điển hay không?
Theo mình, kinh Phật chính là “sách giáo khoa” của Phật đạo… !!!
“Sách giáo khoa trong giáo dục là loại sách cung cấp kiến thức, được biên soạn với mục đích dạy và học tại trường học. Thuật ngữ sách giáo khoa còn có nghĩa mở rộng là một “loại sách chuẩn” cho một ngành học. Sách giáo khoa được phân loại dựa theo đối tượng sử dụng hoặc chủ đề của sách” Theo Wikipedia.
Theo ý nghĩa trên thì, dạy và học trong bất kì lãnh vực nào, cũng cần có sách giáo khoa, vì dạy và học mà “không căn cứ vào sách giáo khoa”, chắc chắn người dạy chẳng biết mình dạy gì, người học chẳng biết điều mình đã học có đúng với chuẩn mực của ngành học đó đề ra hay không !!!
Cho nên theo mình, người tu học trong Phật đạo rất cần đọc kinh (Phật)… Nếu không đọc, không căn cứ vào lời dạy của Phật được ghi chép trong kinh điển thì, khó có thể thành tựu những điều cần thành tựu trong Phật đạo !!!
– Ý thứ hai: Có người bảo rằng chỉ cần hành, không cần đọc kinh, vì tâm chính là kinh, câu nói này đúng hay chưa?
Mình xin trả lời như sau:
Như đã nói trên, kinh Phật chính là mẫu mực, là lí thuyết (chuẩn) để người học căn cứ vào đó mà thực hành, nếu không đọc kinh thì thực hành như thế nào đây ???
Kinh: Theo Tiến Sĩ Vũ Cao Phan đăng trên Website Khoa Ngôn Ngữ Học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội thì: Kinh điển là một từ Hán -Việt. Giải nghĩa về từ này hầu như tất cả các từ điển xuất bản lâu nay tại Việt Nam (và cả Trung Quốc) đều thống nhất: 1- Tác phẩm có giá trị mẫu mực, tiêu biểu; có ảnh hưởng lớn cho một học thuyết, một chủ nghĩa, một tôn giáo. 2- Tác gia của các tác phẩm ấy (nhà kinh điển). 3- Có tính quy chuẩn, bài bản, cổ điển…
Thành ra, câu “tâm chính là kinh”, có lẽ nên coi lại !!! Theo mình, kinh (hay sách) xuất phát từ trí, chứ chẳng thể từ tâm !!! Và câu: “Có người bảo rằng chỉ cần hành, không cần đọc kinh, vì tâm chính là kinh” câu này có vấn đề !!!
Về câu hỏi thứ hai:
“Lên mạng tôi thấy ai cũng tự cho rằng mình đã ngộ, chê kẻ khác là chạy theo tưởng tri gì đó rất khó hiểu, làm thế nào để phân biệt được người nào ngộ thiệt người nào ngộ giả? Xin Lý Tứ giải đáp dùm Nhất Vi những thắc mắc vừa nêu, cảm ơn BQT và Lý Tứ đã có nhiều bài viết và trả lời bổ ích”.
Mình xin trả lời như sau:
Bất kì người tu học nào trong Phật đạo cũng mong muốn giác ngộ, mong muốn này là chánh đáng !!! Tuy nhiên, mong muốn là một chuyện, còn giác ngộ hay không là một chuyện !!!
Việc rất “nhiều người tự cho rằng mình đã giác ngộ, chê lời người khác là tưởng tri”. Theo mình, việc này cũng đâu có gì quan trọng !!!
Vì rằng, có ai đó tuyên bố mình đã giác ngộ và chê lời người khác là tưởng tri, tuyên bố này không phạm pháp, không bị vợ bỏ đói, cũng không đóng thuế đồng xu cắc bạc nào…Cho nên, thích thì cứ tuyên bố, không ưa thì cứ chê, chém gió cho sướng cái lỗ miệng, chê cho vui tai…chẳng sao hết !!! Quan trọng là, sau khi tuyên bố, anh được gì ??? Sau khi chê, anh được gì ???
Nếu là người chân thật giác ngộ, chắc chắn họ không nói càn, không khen ẩu, chẳng chê bừa, không chém gió lung tung… Vì rằng, đối với bậc giác ngộ, dù khen hay chê, mỗi lời đều có căn cứ, dựa trên cơ sở thuyết phục, nhằm giúp người nghe (hay đọc) hiểu ra điều gì đó, chứ không nhằm mục đích hơn thua, hay nói cho thoả mãn…cái…ngã…hư vọng như người đời !!!
Viết đến đây, mình nhớ một đoạn nhạc chế:
“Càng khen mình bao nhiêu, ta càng chê người bấy nhiêu
Đời phơi phới vui, cứ lên mạng, (là ta) tha hồ í ới
Giác ngộ rẻ như khoai môn, cứ tung hê chẳng tốn một đồng
Vui tai như tiếng phèng la, kèng kéng keng…là leng…keng…keng…” !!!
Về việc làm thế nào để biết một người đã giác ngộ hay chưa ??? Mình xin giới thiệu đến Nhất Vi, bài viết trong Vô Đối Môn đề cập đến việc này như sau:
NHẬN BIẾT MỘT NGƯỜI ĐÃ GIÁC NGỘ
Hỏi: Làm thế nào để biết được một người đã Giác Ngộ?
Đáp: Muốn biết được một người có Giác Ngộ chân thật hay không, chỉ có ba hạng người có thể biết rõ.
– Một là Bậc Đạo Sư của người ấy.
– Hai là người có Giác Ngộ sâu hơn.
– Ba là chính bản thân người đó.
Tuy nhiên, có một số dấu hiệu mà người tinh ý có thể nhận ra và tạm đánh giá đây là một vị đã Giác Ngộ thật sự:
− Một, nhìn vào phong thái của người đó trước kia và hôm nay (sau khi Giác Ngộ) thay đổi như thế nào.
− Hai, trong hành động và lời nói của người thật sự Giác Ngộ, không có (hoặc rất ít) bóng dáng của ngã, luôn luôn thể hiện sự nhân hậu.
− Ba, khi nói chuyện về đạo, người này lấy chỗ thực chứng để trình bày, nên văn tự ngắn gọn, không suy luận dài dòng.
− Bốn, lời nói thường “không có mùi phiền não”, vì thế hay làm cho chúng hòa hiệp.
− Năm, chán ghét tham gia chuyện thế gian, trừ trường hợp bất đắc dĩ.
− Sáu, ham ưa vắng lặng, thường độc cư thiền định.
− Bảy, không có tâm tranh giành, người đối diện cảm nhận được an lạc, thích gần gũi.
− Tám, chỉ thích văn tự, ngữ ngôn vô lậu.
− Chín, ham ưa đọc tụng kinh luận của Phật và Bồ Tát.
− Mười, khi đọc kinh luận chính thống của Phật và Bồ Tát, vị này thấy phấn khởi trong lòng, cảm giác Phật và Bồ Tát tuyên thuyết điều này cho riêng mình.
− Mười một, dễ phát hiện ra các sai lầm trong cách giảng nói của người chưa Giác Ngộ.
− Mười hai, ham ưa văn hóa vô lậu, nên thường tán thán người được pháp lành, dần dần từ bỏ thói quen nhân ngã, khen mình chê người.
− Mười ba, thường biết ơn, nhớ ơn Phật, Thiện Tri Thức.
− Mười bốn, tập khí chấp nhất, xả dần cho đến mất hẳn.
Nói chung, có vô số pháp lành xuất sanh từ một vị đã Giác Ngộ chân thật. Nếu một người tinh ý có thể căn cứ vào những đức tính nói trên, để nhận định đây có phải là một vị đã Giác Ngộ thật sự hay chưa.
Các bạn !!!
Trong tuần, mình cũng nhận được câu hỏi của một bạn không muốn nêu tên (gởi trong messenger), câu hỏi ngộ ngộ như sau:
“Thưa Thầy! Có người quy y tam bảo rồi, sau này người đó tu theo Thiên Chúa. Như vậy người đó có lạc mất quy y không Thầy?”
Mình đã trả lời bạn ấy như sau: “Theo mình, sau khi mãn duyên bên Thiên Chúa, chủng tử quy y tam bảo sẽ hiện trở lại…Vì tam bảo là thường, nên “tạm thời có lạc, mà không có mất” !!!”
Các bạn !!!
Trước khi kết thúc chuyên mục của tuần này, mình xin kể cho các bạn câu chuyện vui…Câu chuyện xảy ra cách đây trên mười năm !!!
Ngày ấy, mỗi sáng mình và một số bạn đạo thường hay ra quán cà phê quen, làm mỗi anh một ly xây chừng… Trong đám bằng hữu, có một anh lớn hơn mình chừng năm tuổi, nói về tu hành thì anh này cũng thuộc loại ba sồn ba sựt, tánh khí bốc đồng, thường tìm học những câu nói vu vơ, ngớ ngẩn, không đầu không đuôi… Nghe ở đâu có người tu hành, chẳng biết nông sâu thế nào, bèn lân la tìm đến chất vấn, đòi kiểm chứng, và kết quả cuối cùng là…cãi…nhau…một trận sanh tử lửa, mỗi người ôm một cục giận ra về, trăm lần như một !!!
Sáng hôm ấy, như thường lệ, mới ngồi vào bàn, chưa kịp chào hỏi… Không biết anh ta học lóm ở đâu cái câu xưa như trái đất, mà bất kì anh tu hành nào ăn vài hủ chao, đọc vài câu chuyện thiền hạng bét cũng thuộc như cháo, đem ra cật vấn mình liền:
– Tui hỏi già! Già nói cho tui biết, đạo ở đâu ???
Mình giả vờ không nghe rõ, hỏi lại:
– Bộ anh hỏi tui, gạo (mua) ở đâu hả ???
Anh ta bèn đính chính:
– Không, tui với già đâu có bàn chuyện gạo thóc mà làm chi !!! Tui hỏi già, đạo ở đâu ???
Mình giả bộ nghiêm mặt, bày đặt lên giọng cha nội, vừa đùa vừa thật:
– Đạo là thứ thâm u, những người tu hành ba sồn ba sựt như anh, công phu hàm dưỡng không có, kiến thức chưa đầy lá mít, tui có trả lời đúng, trả lời sai…nói đạo trong củ khoai hay trái bí thì anh cũng đâu có biết !!! Thành ra, cho dù tui có biết chắc “đạo ở đâu” thì cũng đâu thể trả lời cho anh được !!!
Anh ta hơi bực tức, nhưng có vẻ cố kìm chế, nói:
– Già đừng có chê tui !!! Già nói đi, đúng sai tui biết liền à !!!
Mình từ từ uống ngụm cà phê, rồi đủng đỉnh nói:
– Anh Hai à !!! Tui đã nói rồi !!! Đạo là cái thâm u, hạng như anh không nghe nổi đâu, tui có nói đúng hay sai, anh cũng đâu có biết !!! Thôi, uống cà phê đi !!! Đừng có hỏi nữa mà sinh giận hờn, mất hoà khí, lại tổn công đức…lắm…lắm !!!
Nghe mình nói thế, anh ta phừng phừng nổi giận, đứng dậy đập bàn cái rầm, quơ tay múa chân, xỉ vả mình và la lớn !!!
– Già khinh người quá đáng !!! Thế là anh ta chửi mình một trận nên thân !!!
Mình từ tốn nói:
– Anh chửi xong chưa ??? Tôi đã bảo rồi !!! Hạng người thiếu hàm dưỡng như anh, tu hành thì ba sồn ba sựt, chỉ tối ngày lo đi học mấy câu vô nghĩa về làm của, để loè thiên hạ, chưa chi đã giận hờn chửi rủa !!! Tâm địa như thế, làm gì hiểu nổi “đạo ở đâu” mà buộc tui phải trả lời !!! Giờ anh tin lời của tui rồi chớ !!!
Nghe xong, lửa giận bốc lên ngút trời, không nói năng, anh ta ngoe nguẩy leo lên chiếc xe đạp, đi tuốt luốt một mạch, không kiếu từ ai hết !!!
Thế là, anh ta giận mình cả năm trời, gặp mặt không chào hỏi, mặc dù mình cố ra sức làm lành…Từ đó về sau, anh ta kiên quyết, không thèm ghé quán cà phê chỗ mình hay uống mỗi sáng !!!
Thế đấy các bạn !!!
Trên đời có những hạng người, tu hành thì chẳng ra gì, hiểu biết thì vụn vặt, học chỗ này vài câu, chỗ kia mớ nhắm, chắp vá lung tung…Tối ngày, chỉ lo đi kiếm người tu hành thách đố đạo pháp (bằng những câu mà bản thân người ấy cũng chẳng biết các câu mà họ học được là đúng hay sai) !!! Các bạn thấy có chán hạng người ấy như…cơm…nếp…hay…không…chớ !!!???
Các bạn !!!
Tuần tới, chúng ta sẽ trao đổi câu hỏi của bạn có nickname Thanh Binh !!!
Câu hỏi như sau:
1) Xin hỏi, người ta thường nói: “Phật tại tâm”. Xin cho biết, Phật tại tâm là ở nơi nào trong tâm? Tìm Phật trong tâm bằng cách gì?
2) Khi người ta làm ác, Phật trong tâm có ác theo hay không? Một con quỷ trong tâm có Phật hay không? Cảm ơn Lý Tứ và BQT Lý Gia.
BQT rất mong, nhận được những câu hỏi thú vị và bổ ích từ các bạn !!!
BQT LÝ GIA
Phật Thuyết Kinh Bốn Mươi Hai Chương - Phần 3

Kinh bốn mươi hai chương
Chương 18: Ý NIỆM VÀ MỌI THỨ VỐN LÀ KHÔNG
Đức Phật dạy: “Pháp của Ta là nghĩ, nghĩ mà không nghĩ; là làm, làm mà không làm; là nói, nói mà không nói; là tu, tu mà không tu. Kẻ biết thì gần, người mê thì xa; đường ngôn ngữ đứt hết, chẳng bị vật gì ràng buộc; sai đi một ly ắt mất trong khoảnh khắc” [[1]]
Chương 19: QUÁN XÉT CẢ THẬT LẪN GIẢ
Đức Phật dạy: "Quán trời đất, nghĩ nhớ lẽ vô thường; quán thế giới, nghĩ nhớ lẽ vô thường;[[2]]
Quán linh giác[[3]] tức là Bồ đề;[[4]] hiểu được như thế thời đắc Đạo rất chóng vậy."
Chương 20: CÁI “TA” VỐN LÀ KHÔNG
Đức Phật dạy: "Nên nghĩ đến tứ đại[[5]] trong thân, mỗi thứ tự nó có tên, không có cái nào là “ta” cả. Cái “ta” đã không có thì nó chỉ như huyễn như hóa mà thôi."[[6]]
Chương 21: DANH VỌNG HẠI NGƯỜI
Đức Phật dạy: "Người theo tham dục mà truy cầu thanh danh, khi thanh danh rỡ ràng thì thân đã chết rồi!
Tham thứ thường danh ở đời mà chẳng học Đạo, thì chỉ uổng công mệt xác.
Ví như đốt hương, tuy người được ngửi mùi hương nhưng
khi hương kia cháy hết, thì thứ lửa hại thân liền theo sau."[[7]]
Chương 22: TIỀN CỦA VÀ SẮC DỤC MANG LẠI ĐAU KHỔ
Đức Phật dạy: "Đối với tiền của và sắc dục, người ta không bỏ được; ví như có chút mật dính trên lưỡi dao, chẳng đủ cho một bữa ăn ngon, đứa bé liếm lấy ắt mắc cái họa đứt lưỡi."[[8]]
Chương 23: GIA ĐÌNH CÒN TỆ HƠN LAO NGỤC
Đức Phật dạy: "Người ta bị vợ con và nhà cửa ràng buộc còn hơn cả lao ngục. Lao ngục còn có thời kỳ phóng thích, vợ con chẳng thể có một ý nghĩ xa lìa;[[9]] há chẳng sợ tình ái cùng sắc dục lôi cuốn? Dẫu có cái họa sa nơi miệng hùm, lòng cũng cam chịu.
Vì tự đắm mình nơi lầy lội nên gọi là phàm phu;[[10]] vượt qua được cửa ải này[[11]] là bậc La hán xuất trần."[[12]]
Chương 24: SẮC DỤC CHƯỚNG NGẠI ĐƯỜNG ĐẠO
Đức Phật dạy: "Trong các thứ ái dục, không gì đáng ngại bằng sắc dục. Lòng ham thích sắc đẹp to lớn không gì sánh bằng. May thay, chỉ có một mình nó mà thôi. Nếu có hai thứ như thế thì khắp thiên hạ không ai có thể tu Đạo được cả!"
Chương 25: LỬA DỤC ĐỐT NGƯỜI
Đức Phật dạy: "Người ham mê ái dục ví như kẻ cầm đuốc đi ngược gió, tất sẽ mắc phải nạn cháy tay."[[13]]
Chương 26: THIÊN MA QUẤY NHIỄU PHẬT
Thiên thần[[14]mang cô gái rất đẹp[[15]] đến dâng cho Phật, muốn phá hoại ý chí của Ngài. Đức Phật nói: "Những túi da chứa đồ ô uế,[[16]] các ngươi đến đây làm gì? Đi ngay! Ta chẳng dùng đâu."
Thiên thần càng thêm kính nể và nhân đó hỏi Phật về ý Đạo. Phật giảng nói xong, vị ấy liền đắc được quả Tu đà hoàn.
Chương 27: KHÔNG CHẤP TRƯỚC, TẤT ĐẮC ĐẠO
Đức Phật dạy: "Người hành Đạo ví như khúc gỗ dưới nước, theo dòng mà trôi. Nếu nó chẳng tấp vào hai bên bờ, chẳng bị người ta vớt lấy, chẳng bị quỷ thần ngăn trở, chẳng bị nước xoáy giữ lại, cũng chẳng bị mục nát, Ta cam đoan rằng khúc gỗ này nhất định sẽ ra đến biển.
Người học Đạo nếu chẳng bị các dục làm mê hoặc, chẳng bị các thứ tà kiến lung lạc, lại tinh tấn tu pháp Vô vi; Ta cam đoan rằng người này tất sẽ đắc Đạo."
+++
Phần chú giải
[[1]] Bài 18 này hoàn toàn là tinh thần Đại thừa Đốn giáo. Trong dị bản, bài này xếp thứ 15 và có ý hướng phù hợp với toàn văn kinh hơn. Xin dẫn ra như sau:
"Phật ngôn: Ngô hà niệm niệm đạo? Ngô hà hành hành đạo? Ngô hà ngôn ngôn đạo? Ngô niệm đế đạo, bất hốt tu du” (Phật dạy: "Ta lấy niệm gì để niệm đạo? Ta lấy việc làm gì để hành đạo? Ta lấy lời nào để nói đạo? Ta luôn nghĩ nhớ đến đạo Tứ đế, không một giây phút nào dừng nghỉ.") Như vậy rất có khả năng là văn kinh đã bị thay đổi qua nhiều lần sao chép, sửa chữa.
[[2]] Kinh văn là “phi thường”, chúng tôi dịch là “vô thường”. Hai từ đều là gốc Hán, từ vô thường được hiểu phổ biến hơn, nghĩa là không thường tồn, hay biến đổi. Còn phi thường đôi khi bị hiểu nhầm theo nghĩa là siêu việt, xuất chúng. Trời đất và thế giới là ví dụ những sự vật to lớn nhất, vẫn phải chịu qui luật biến đổi là “sanh, trụ, hoại, không”, nhận thức về trời, đất và thế giới cũng theo qui luật “Sanh, trụ, dị, diệt.”
[[3]] Linh giác: Cái thần thức hiểu biết của mỗi chúng sanh. Nhìn từ góc độ người học đạo thì đó chính là chân tâm, chân như, Phật tánh mà mỗi chúng sanh đều có sẵn nơi mình. Phật tánh ấy thường trụ, chẳng sanh chẳng diệt, nên quán xét đó chính là Bồ đề.
[[4]] Bồ đề (Tiếng Phạn là Bodhi, Hán dịch là Đạo, Giác, Vô thượng Trí huệ): Kinh Duy Ma chú: "Chỗ tột của Đạo, gọi là Bồ đề, đó là Chánh giác Vô tướng của chân trí."
[[5]] Tứ đại: theo quan niệm thời cổ, có bốn chất (lớn, đại diện) ở trong thế giới là những yếu tố hợp lại thành thân người. Đó là: 1)Địa đại (những gì thuộc về chất rắn); 2)Thủy đại (những gì thuộc về lỏng chảy); 3)Hỏa đại (những gì thuộc về ấm nóng); 4)Phong đại (những gì thuộc về diêu động).
[[6]] Huyễn hóa: không thật, thân người do bốn đại hiệp lại mà thành, nhưng rồi cũng phải tan rã, không lấy gì là bền chắc.
[[7]] Người ta vì ham danh vọng thế tục mà phải khổ công nhọc xác vô cùng. Nhưng chưa chắc đã được thỏa mãn về danh vọng. Ví dầu có được đi nữa, thì ngày chết gần kề cũng chẳng hưởng được gì. Rồi khi qua đời thì mang theo tội báo, đọa vào các đường ác. Trở lại làm người thì phải chịu quả báo đau đớn, vì đã tạo tội trong lúc tranh dành công danh. Chẳng bằng biết lo tu thân hành đạo thì được an lạc thân tâm đời nầy và đời sau.
[[8]] Tài sắc tỷ như chút mật dính nơi lưỡi dao. Kẻ phàm phu ví như đứa trẻ nhỏ tham ăn, liếm dao mà bị đứt lưỡi. Kẻ phàm phu ham mê tài sắc mà phải khổ tâm, lụy thân. Hàng trí giả thấy trước cái quả khổ, nên chẳng bám theo tài sắc, liền được thảnh thơi, tự tại.
[[9]] Chẳng thể có một ý nghĩ xa lìa (Kinh văn là "vô viễn ly chi niệm"): "niệm" ở đây được hiểu là một quãng thời gian rất ngắn (sát na), như thoáng chốc, chốc lát...
[[10]] Phàm phu: Người còn mê muội, không giác ngộ. Kinh Pháp Hoa nói: “Kẻ phàm phu ý thức cạn hẹp, vướng sâu vào năm dục”. (Năm dục là Sắc dục (Do mắt thấy mà khởi lên ham muốn); Thanh dục (Do tai nghe mà khởi lên ham muốn); Hương dục (Do mũi nhận biết mùi mà khởi lên ham muốn); Vị dục (Do lưỡi nhận biết vị mà khởi lên ham muốn); Xúc dục (Do xúc chạm thân mà khởi lên ham muốn)
[[11]] Tức là vượt qua được sự cám dỗ, lôi cuốn của ‘năm dục’.
[[12]] Xuất trần: ra khỏi trần cấu, trần cảnh. Trần có sáu thứ: Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp. Bậc La hán thoát khỏi phiền não gây ra bởi sáu căn nhiễm với sáu trần. Xuất trần cũng có thể hiểu đơn giản hơn là vượt ra khỏi trần tục, thế thường.
[[13]] Ái dục tỷ như lửa dữ, đốt kẻ say mê, nhất là tình dục đối với nữ sắc thì hạng thiêu thân ở đời kể ra chẳng thể nào hết.
[[14]] Thiên thần, ở đây là thiên ma thuộc Tha hóa tự tại thiên là cõi Trời thứ sáu trong Dục giới. (Phật học đại từ điển, tr. 477).
“Cõi trời này, sự thọ dụng về ngũ dục rất là vi tế thắng diệu. Vị Thiên chủ tên là Ba Tuần cũng là vị trụ trì năm thứ dục của dục giới. Tất cả chúng sinh ở dục giới muốn cầu được ngũ dục tối thượng đều phải cung phụng vị này. Nhưng Phật đạo lại xuất ly dục giới, nên bị chúng Thiên ma này ghét. Vì thế, chúng đem Ngọc nữ hiến cho Phật.” (Bản chú giải của TK. Thích Hoàn Quan).
[[15]] Kinh văn là "ngọc nữ", người con gái tướng mạo quý đẹp như ngọc.
[[16]] Thân xác thịt, người phàm (phàm phu) cho là đẹp đẽ, nhưng xét kỹ ra chẳng qua chỉ như một cái túi bằng da chứa đựng những món dơ dáy, tanh hôi mà thôi. Những món dơ ấy là: phân, nước tiểu, mủ, máu, đàm, ghèn, nước mũi, nước dãi v.v...
Phật Thuyết Kinh Bốn Mươi Hai Chương - Phần 2

Kinh bốn mươi hai chương
Chương 10: HOAN HỶ BỐ THÍ TẤT ĐƯỢC PHƯỚC
Đức Phật dạy: "Thấy người tu đạo bố thí[[1]] mà hoan hỷ trợ giúp thì sẽ được phước rất lớn."
Có thầy Sa môn hỏi rằng: "Bạch đức Thế Tôn, phước ấy hết chăng?"
Đức Phật đáp: "Ví như lửa của một cây đuốc, dù có vài trăm ngàn người ai nấy đều mang đuốc đến chia nhau mồi lấy lửa để về nấu ăn và xua tan bóng tối, thì ngọn đuốc kia vẫn y như cũ. Phước báo cũng như thế!"
Chương 11: SỰ GIA TĂNG CỦA CÔNG ĐỨC
Đức Phật dạy:
- "Đãi một trăm người ác ăn, không bằng đãi một người thiện ăn.
- Đãi một ngàn người thiện ăn, không bằng đãi một người trì Ngũ giới ăn.[[2]]
- Đãi một vạn[[3]] người trì Ngũ giới ăn, không bằng cúng dường cho một vị Tu đà hoàn ăn.
- Cúng dường một trăm vạn vị Tu đà hoàn, không bằng cúng dường cho một vị Tư đà hàm ăn.
- Cúng dường một ngàn vạn vị Tư đà hàm, không bằng cúng dường cho một vị A na hàm ăn.
- Cúng dường một ức[[4]] vị A na hàm, không bằng cúng dường cho một vị A la hán ăn.
- Cúng dường mười ức[[5]] vị A la hán, không bằng cúng dường cho một bậc Bích Chi Phật[[6]] ăn.
- Cúng dường một trăm ức bậc Bích Chi Phật, không bằng cúng dường cho một đức Tam Thế Chư Phật[[7]] ăn.
- Cúng dường một ngàn ức đức Tam Thế Chư Phật, không bằng cúng dường cho một đấng Vô Niệm, Vô Trụ, Vô Tu, Vô Chứng[[8]] ăn."
Chương 12: NÊU RA SỰ KHÓ ĐỂ KHUYẾN TU
Đức Phật dạy: "Người ta có hai mươi sự khó:[[9]]
1) Nghèo khổ mà làm được việc bố thí là khó;[[10]]
2) Giàu sang quyền quý mà học Đạo là khó;[[11]]
3) Dám bỏ mạng sống đi vào chỗ chết là khó;[[12]]
4) Được thấy kinh Phật là khó;[[13]]
5) Sanh gặp đời có Phật là khó;[[14]]
6) Tự chế “sự ham muốn sắc dục” là khó;[[15]]
7) Thấy tốt mà chẳng mong cầu là khó;[[16]]
8) Bị sỉ nhục mà chẳng tức giận là khó;[[17]]
9) Có thế lực mà không ỷ cậy là khó;[[18]]
10) Gặp việc mà lấy tâm vô tư ứng xử là khó;[[19]]
11) Học rộng mà vẫn tham khảo nhiều là khó;[[20]]
12) Dẹp trừ tánh ngã mạn là khó;[[21]]
13) Chẳng khinh người chưa học là khó;[[22]]
14) Thực hành tâm bình đẳng là khó;[[23]]
15) Chẳng nói những chuyện thị phi là khó;[[24]]
16) Gặp được Thiện tri thức là khó;[[25]]
17) Học Đạo, thấy được tánh là khó;[[26]]
18) Tùy duyên hóa độ người là khó;[[27]]
19) Thấy cảnh mà không động tâm là khó;[[28]]
20) Khéo biết phương tiện là khó."[[29]]
Chương 13: HỎI VỀ ĐẠO VÀ TÚC MẠNG
Một vị Sa môn hỏi Phật: "Do nhân duyên[[30]] gì mà được biết túc mạng và hiểu thấu lẽ Đạo?"
Đức Phật dạy: "Giữ tâm thanh tịnh,[[31]] ý chí vững bền, thì có thể hiểu thấu Đạo cao tột. Ví như lau gương, chùi hết cấu bẩn thì còn lại vẻ sáng; dứt lòng tham dục,[[32]] không còn mong cầu, tất sẽ đắc Túc mạng." [[33]]
Chương 14: HỎI VỀ TÁNH THIỆN VÀ ĐẠI
Một vị Sa môn hỏi Phật: "Điều gì là thiện? Điều gì là tối đại?"[[34]]
Đức Phật dạy: "Thực hành Đạo và giữ bề chân thật, là thiện.[[35]] Chí và Đạo hợp nhau, là đại."[[36]]
Chương 15: HỎI VỀ SỨC MẠNH VÀ SÁNG
Sa môn hỏi Phật: "Cái gì mạnh nhất? Cái gì sáng nhất?"
Đức Phật dạy: "Nhẫn nhục[[37]] mạnh nhất, vì chẳng mang lòng ác, lại được thêm an kiện. Kẻ nhẫn nhục không ác, tất được người đời tôn kính. Cấu nhiễm trong tâm diệt hết,[[38]]
sạch không còn uế trược, đó là sáng nhất.[[39]]
Từ khi chưa có trời đất cho đến ngày nay, bao nhiêu sự vật trong mười phương, không có gì là chẳng thấy, không có gì là chẳng biết, không có gì là chẳng nghe. Được Nhất thiết Trí[[40]] có thể gọi là sáng vậy."
Chương 16: BỎ ÁI DỤC TỨC ĐẮC ĐẠO
Đức Phật dạy: "Người ôm giữ lòng ái dục[[41]] chẳng thấy được Đạo, ví như nước đã lóng trong lại lấy tay khuấy lên, khiến những người đến xem đều không thấy được bóng của họ.
Người đời vì bị ái dục xáo trộn, làm cho cấu trược trong tâm nổi dậy, nên chẳng thấy được Đạo.
Sa môn các ông phải xả bỏ ái dục, cấu bẩn ái dục hết sạch thì có thể thấy được Đạo!"
Chương 17: ÁNH SÁNG ĐẾN, BÓNG TỐI TAN
Đức Phật dạy: "Người thấy được Đạo ví như kẻ cầm đuốc đi vào phòng tối, bóng tối lập tức tan biến, chỉ còn lại ánh sáng. Học Đạo mà thấy được chân lý[[42]] thì vô minh liền dứt, ánh sáng sẽ thường còn."
---
Phần chú giải
[[1]] Bố thí: Có ba cách thí:
- Tư sanh thí hay Tài thí: Thí của cải cho người khác;
- Pháp thí: Đem đạo lý mà giảng giải, truyền bá;
- Vô úy thí: Đem sự yên ổn, không lo sợ đến cho người khác, nhất là trong những khi họ gặp nguy nan, hoạn nạn.
[[2]] Năm giới cấm là: 1. Không sát sanh; 2. Không trộm cắp; 3. Không tà dâm; 4. Không nói dối; 5. Không uống rượu (ý mở rộng là dùng chất gây nghiện làm mê mờ trí tuệ). Năm giới này áp dụng cho hàng cư sĩ tại gia.
[[3]] Vạn ( 萬 ): Mười ngàn. (10x 1.000 = 10.000; từ điển Hán Nôm;)
[[4]] Ức ( 億 ): Mười vạn là một ức (10x10.000 =100.000; http://hvdic.thivien.net/hv/ức)
[[5]] mười ức = 10x100.000 = 1.000.000 (một triệu)
[[6]] Bích chi Phật (Prateyka Bouddha (S), Hán dịch âm là Bích chi ca Phật đà) 1)Nghĩa là Độc giác: Vị này sanh ra không gặp Phật tại thế, tự mình tu học mà giác ngộ, nhập Niết bàn, nên gọi là Độc giác Phật. 2)Nghĩa là Duyên giác: Vị sanh ra thời có Phật, nhờ quán “Mười hai nhân duyên” mà giác ngộ, nên còn gọi là Duyên giác Phật.
[[7]] Tam Thế Chư Phật (Phật ba đời):
− Nghĩa 1: Các Vị Phật quá khứ (…Kàsyapa -Phật Ca Diếp), hiện tại (Sàkyamuni -Phật Thích Ca Mâu Ni) và vị lai (Maitreya -Phật Di Lặc).
− Nghĩa 2: Vị Phật của cả ba đời là quá khứ, hiện tại và vị lai. Phật, nghĩa là vị đã chứng nhập Niết bàn hoàn toàn, không còn bị chi phối bởi không gian và thời gian.
[[8]] Bậc Vô Tu Vô Chứng: Vị tu hành này sau khi thành tựu trí tuệ, vào Đẳng Giác Bồ Tát, tức “Bồ Tát biết cái Phật biết, thấy cái Phật thấy, chứng điều Phật chứng...” Thế nên, đạo quả này còn gọi là Vô Tu Vô Chứng... Gọi Vô Tu Vô Chứng là vì Bồ Tát này không còn gì để tu, không còn gì để chứng, chứ chẳng phải Vô Tu Vô Chứng là không biết cái để tu, chẳng biết cái để chứng như đa số người tu hành thường hiểu...
[[9]] Đề tựa chương này là "Cử nan khuyến tu", nghĩa là nêu lên những sự khó khăn để khuyên người cố gắng tu tập... Trong dị bản chỉ thấy có 5 điều, không phải là 20. Ấy là 5 điều đầu tiên kể từ trên xuống. Chúng tôi giữ nguyên theo bản này là 20 điều, mặc dù thấy cũng có một số điều trùng lặp, hoặc theo tinh thần Đại thừa, không nhất quán với toàn văn kinh.
[[10]] Bố thí là việc được phước đức. Có tiền của để bố thí thì không khó lắm, nhiều người làm được. Nhưng kẻ nghèo túng, tự mình chưa đủ cơm ăn áo mặc mà phát tâm bố thí cho kẻ khác, điều đó mới khó làm. Ấy là chuyện "Lá rách đùm lá nát", khó làm lắm thay.
[[11]] Người phát tâm học đạo là khó. Nhưng sanh trong nhà quyền quý, giàu sang, hưởng mọi sự sung sướng, đầy đủ mà học được đạo mới là điều khó. Bởi học đạo thì phải từ bỏ những sự sung sướng vật chất giả tạm, mà nó lại đang cuốn hút quanh mình mỗi ngày. Việc ấy thật khó làm.
[[12]] Kinh văn là "tất tử", nghĩa là chắc chắn sẽ chết. Người dám liều mạng sống đã là việc khó, nhưng hầu như ít nhiều cũng còn có phần hy vọng sống sót, như người lính ra trận chẳng hạn. Kẻ biết chắc chắn sẽ chết mà vẫn dám liều thân, việc ấy mới thật rất khó làm.
[[13]] Thấy được kinh Phật là rất khó, bởi không đủ nhân duyên thì chẳng được thấy. Nhiều người được nhìn thấy, nhưng chẳng có lòng tin, chẳng thể đọc hiểu, thì cũng chẳng gọi là được thấy. Nếu thật được thấy kinh Phật, tức cũng như nghe lời Phật thuyết, học được đạo Phật, tu hành quyết định thành Phật, chẳng phải là khó lắm sao?
[[14]] Chư Phật ra đời rất khó gặp, mỗi vị đều phải hội đủ nhân duyên mới xuất thế. Chỉ riêng ở địa cầu này, từ Phật Thích ca đến nay đã hơn 2.500 năm chưa có vị Phật thứ hai xuất hiện. Lại nữa, dù sanh ra cùng thời với Phật mà không đủ duyên lành cũng không gọi là gặp Phật. Toàn cõi Ấn Độ chẳng phải ai ai cũng được Phật Thích Ca độ! mà ngoại đạo cũng rất đông. Nếu xét trên toàn cầu thì số ấy càng lớn nữa. Lòng từ bi của Phật dẫu bao trùm hết thảy chúng sanh, nhưng tự mình không có căn lành cũng chẳng làm sao gặp Phật. Nên nói được gặp Phật là rất khó vậy.
[[15]] Kinh văn là "nhẫn sắc nhẫn dục", nhẫn ở đây không phải nhẫn nhục, mà là kham nhẫn. Cõi Ta bà này gọi là Dục giới, bởi mạng sống của chúng sanh tồn tại và luân chuyển do nơi sắc dục, nên biết sắc dục lôi cuốn người ta rất mạnh. Tự chế được sự ham muốn sắc dục mà hành xử đúng đắn, hợp chánh đạo là điều rất khó.
[[16]] Kinh văn là "kiến hảo bất cầu", chữ "hảo" là tốt đẹp. Người đời tâm tham thì thấy vật gì tốt đẹp cũng khởi tâm mong cầu, cho dẫu mình không cần đến. Nhận biết được vật tốt mà không mong cầu cho mình là điều rất khó, còn nếu đã khởi tâm ham thích, ưa muốn tức đã đi hết một nửa đường đến chỗ mong cầu rồi.
[[17]] Đây chính là hạnh kham nhẫn của Bồ Tát. Người đời khi bị sỉ nhục tất sanh lòng oán hận, giận dữ. Bởi sự xúc phạm về thân thể như đánh đập, xô đẩy, đôi khi còn có thể nhẫn chịu được, còn sự xúc phạm về tinh thần nó ngấm ngầm mà tác động đến con người mạnh mẽ hơn gấp bội. Khi mình bị kẻ khác làm nhục mà giữ được tâm thản nhiên không hờn giận, chỉ có thể là kẻ biết tu hạnh kham nhẫn. Việc ấy rất khó làm.
[[18]] Người đời khi có thế lực thì trong tâm thường sanh cống cao, ngã mạn, ỷ cậy vào đó rồi coi thường, hiếp chế người khác. Kẻ hiểu đạo nhìn thấy tất cả danh vọng quyền thế như bèo nổi mây trôi mới có thể dẹp trừ tâm kiêu mạn ấy. Cho nên người có thế lực mà không ỷ cậy chính là người hiểu đạo, thật rất khó làm.
[[19]] Kinh văn là "xúc sự vô tâm", "vô tâm" ở đây hiểu là "không có tâm hư vọng", khi tiếp cận với sự việc chỉ thuận theo lẽ đạo mà làm, chẳng để cho nó cuốn hút mình vào vòng lo nghĩ, ưu tư, cũng không để cho những định kiến hoặc lòng yêu, ghét chi phối vào (sanh tâm hư vọng). Trước đây có bản dịch là "gặp việc không quan tâm", e rằng không đúng vì mắc phải bệnh nhậm (mặc kệ), không thành tựu được đạo quả trong Phật đạo.
[[20]] Người học rộng biết nhiều thường sanh ra tự phụ, ít khi chịu tham cứu kiến giải của người khác. Kẻ tự mình học rộng biết nhiều, nhưng vẫn chịu khó thận trọng mà tham khảo, cứu xét kỹ lưỡng nhiều nơi, quả là việc rất khó làm, vì dẹp bỏ được sự tự cao, tự mãn của mình.
[[21]] Ngã mạn là gốc của muôn tật xấu. Vì chấp lấy cái ta, lúc nào cũng xem ta là hay giỏi hơn kẻ khác nên làm chướng ngại cho sự học đạo. Mạn (có ngã mạn) là một trong mười kiết sử (Tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, giới cấm thủ kiến, biên kiến, kiến thủ kiến và tà kiến) làm người tu hành khó thành tựu đạo quả vô lậu trong Phật đạo.
[[22]] Người có chút kiến giải, tri thức hơn người khác, do tâm ngã mạn mà khinh thường những kẻ thấp kém hơn mình. Kẻ hiểu đạo nhận biết rằng người thấp kém ấy chẳng qua là vì chưa được học, nên chẳng dám sanh tâm khinh thường. Lại nói, trong đạo Phật theo Đại thừa, hết thảy chúng sanh đều là Phật sẽ thành, nên càng chẳng dám khinh thường. Kinh Pháp Hoa dẫn chuyện Bồ Tát Thường Bất Khinh, dù gặp bất cứ ai cũng đều cung kính lễ bái, biết rằng vị ấy về sau sẽ thành Phật. Như vậy, nếu chẳng khinh thường người chưa học, đó chính là người hiểu đạo, thật khó làm thay!
[[23]] Tâm bình đẳng là không thiên vị, không phân biệt kẻ thân người sơ, kẻ nam người nữ, kẻ sang người hèn, kẻ giàu người nghèo, kẻ già người trẻ. Đem lòng thương tất cả chúng sanh như nhau.
[[24]] Thị là phải, đúng. Phi là sai, trái. Chuyện thị phi ở đây là chuyện phải quấy của người khác. Tự mình hãy lo tu học, sửa mình, chẳng nên lo bàn chuyện thiên hạ. Tâm người đời rất dễ bị lôi cuốn vào những chuyện thị phi quanh mình. Kẻ dũng mãnh dẹp bỏ, không bị lôi cuốn bởi thị phi ấy mới có thể chuyên tâm tu học. Việc ấy thật khó làm.
[[25]] Thiện tri thức: có 3 nghĩa... 1)Tiếng xưng hô người đủ chánh tri chánh kiến.
2)Người bạn đạo (S: kalyā ṇamitra; P: kalyānamitta; Hán dịch là Thiện hữu (善友), Ðạo hữu (道友)): Thời Phật, danh từ này được dùng để chỉ một vị tăng đầy đủ những đạo hạnh như nắm vững lí thuyết Phật pháp và tinh thông thiền định... Ðức Phật dạy: “Cả một cuộc đời tầm đạo đều lấy tình bạn làm căn bản… Một Tỷ kheo, một Thiện tri thức, một người bạn đồng hành – Từ một vị này người ta có thể mong đợi rằng, ông ta sẽ tinh cần tu học Bát chánh đạo để đạt giải thoát cho chính mình và những người bạn đồng hành.”
3)Thiện tri thức có ba loại: (1)Giáo thọ thiện tri thức (教授善知識), là những người có khả năng hướng dẫn, dạy dỗ trên con đường tu hành, là bậc thầy; (2)Ðồng hạnh thiện tri thức (同行善知識), là những người đồng chí, đồng hạnh, tức là người bạn tốt, trung thành; (3)Ngoại hộ thiện tri thức (外護善知識), là những người giúp cho những tiện nghi, tạo điều kiện tốt cho người tu hành.
Nói chung, nếu gặp được người bạn lành, cùng làm việc lành, sách tấn nhau tu tập, đều hiểu chung là những bậc thiện tri thức. Người như vậy thật rất khó gặp.
[[26]] Tất cả chúng sanh đều sẵn có tánh Phật. Nhưng nhận ra tánh ấy thật chẳng phải dễ dàng, chính là sự nghiệp một đời của người tu học Phật. Kẻ thấy tánh học đạo thì quả Phật chắc chắn đạt đến, như vậy chẳng phải là khó được lắm sao?
Kinh Pháp Bảo Đàn nói: "Chẳng biết bản tâm, học pháp vô ích. Nếu tự biết bản tâm, tự thấy bản tánh, tức là bậc trượng phu, là thầy của hàng trời người, là Phật."
[[27]] Dù người tà ác nhưng mình không bỏ, cố theo để giáo hóa họ làm thiện. Việc ấy thật khó làm.
[[28]] Người đời hễ gặp cảnh vui thì xúc động mà bám theo, gặp cảnh buồn thì xúc động mà chán ngán. Đối với cảnh, giữ tâm được chẳng động, uy vũ chẳng khuất phục, bần tiện chẳng đổi chí. Việc ấy thật khó làm. Kinh Duy ma cật nói: "Năng thiện phân biệt chư pháp tướng, ư đệ nhất nghĩa nhi bất động." (Có thể khéo phân biệt các pháp tướng, nơi nghĩa chân thật lòng không lay động.)
[[29]] Phương tiện là sự quyền biến thi hành để đạt được kết quả mong muốn. Hành xử theo khuôn thước có sẵn thì ai cũng làm được. Tự mình nghĩ ra phương tiện linh hoạt, khéo léo để đạt đến kết quả mới là điều khó. Như việc biết sao nói vậy là dễ, nhưng tùy theo trình độ của người nghe mà dẫn dắt từ dễ đến khó cho họ hiểu được (thiện xảo phương tiện), việc ấy rất khó làm.
[[30]] Nhân là nguyên nhân sanh ra sự vật, sự việc. Duyên là những điều kiện phụ trợ giúp cho sự vật, sự việc sanh ra. Tỷ như cây mọc lên, nhân là hạt giống, duyên là mưa nắng, đất, phân bón, công chăm của người trồng...
[[31]] Giữ cho lòng được trong sạch, yên tịnh, chẳng để phiền não, ba độc tham, sân, si làm xáo động.
[[32]] Tham dục: “Người tham dục làm bạn / Sẽ luân chuyển dài dài / Khi hiện hữu chỗ này / Khi hiện hữu chỗ khác/ Người ấy không dừng được/ Sự luân chuyển tái sinh / Rõ biết nguy hại này / Chính tham dục sinh khổ / Tỳ kheo dứt tham dục / Không nắm, không thất niệm / Vị ấy thật xuất gia.”(Tăng Chi I, tr. 358)
[[33]] Túc mạng: Kiếp trước, những đời sống đã qua. Biết được túc mạng tức là nhớ biết những kiếp quá khứ của mình, hoặc thấy biết được những kiếp quá khứ của người khác… “Sau khi chứng tứ thiền, với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, nhu nhuyến, dễ sử dụng, không dao động, ta dẫn tâm, hướng tâm đến “túc mạng minh”. Ta nhớ đến các đời sống quá khứ 1 đời, 2 đời, 3 đời, 4 đời, 5 đời, 10 đời, 20 đời, 30 đời, 40 đời, 50 đời, 100 đời, 1000 đời, 100.000 đời,… nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp… Ta nhớ rõ ràng: tại chỗ kia, ta có tên thế này, dòng họ thế này, giai cấp thế này, thọ khổ lạc thế này, tuổi thọ thế này. Sau khi chết, ta sinh ở chỗ khác. Tại chỗ ấy, thân cũng nhớ rõ như trên… Như vậy, ta nhớ đến nhiều đời, nhiều kiếp sống quá khứ với nét đại cương và các chi tiết.” (Tăng Chi III, tr. 33). Cần lưu ý rằng túc mạng minh trong Phật giáo là kết quả của đoạn trừ tham dục. Chứng tứ thiền, tâm an trú định tĩnh. Đó là giải thoát. Khác với quan điểm túc mạng của các cô đồng bà cốt…
[[34]] Tối đại: Vĩ đại; Rất lớn; Lớn lao.
[[35]] − Với Nhị thừa: Thiện là “Không bệnh hoạn (Arogya), tốt đẹp (Sundara), khôn khéo (Cheka), không lỗi lầm (Anavajja) và có quả an vui (Sukhavipaka)” (Bộ Pháp Tụ, tr. 24).
− Với Bồ Tát thừa: Thiện là “Thuận đệ nhất nghĩa viết thiện. Bội đệ nhất nghĩa viết bất thiện.” Nghĩa là những hiểu biết, tạo tác nào không dẫn đến chân lý tuyệt đối là bất thiện hay còn gọi là ác. (Bồ Tát Anh Lạc Kinh)
[[36]] Khi tâm chí đã tiếp hiệp các chân lý, tâm hành giả sẽ xu hướng đến thiện pháp, ly bất thiện pháp, xu hướng đến Niết bàn, giải thoát: một sự vĩ đại của các vĩ đại.
[[37]] Nhẫn nhục: chịu được với cảnh nghịch mà chẳng khởi ra sự giận hờn. Dù bị người hủy nhục, bức hại, hoặc gặp những khổ đau do hoàn cảnh bên ngoài đem đến, thì thân tâm vẫn an tịnh và chịu đựng được hết. Kinh Tăng nhất A hàm nói: "Tỳ kheo lấy nhẫn nhục làm sức mạnh."
[[38]] Cấu nhiễm: Phiền não trong tâm sanh ra uế trược. Các phiền não nói chung gom vào ba thứ: tham lam, sân hận và si mê. Dứt sạch ba thứ ấy thì tâm tự trong sáng, yên tịnh.
[[39]] Phiền não còn, tức là uế trược, tối tăm. Phiền não dứt, tức là trong sạch, sáng suốt.
[[40]] Nhất thiết trí (切智; S: sarva jña; P: sabba ñöa; Hán dịch âm là Tát Bà Nhã (薩婆若), Tát Bà Nhã Đa (薩婆若多)): Là trí tuệ thông đạt hết thảy trong ngoài, biết hết thảy các pháp.
[[41]] Ái dục: Sự luyến ái và ham muốn đối với vợ con, nhà cửa, sự sản... Ái dục nơi con người ta là rất lớn, rất mạnh, nên Kinh Hoa Nghiêm nói: "Phá vỡ núi phiền não, tát cạn biển ái dục."
[[42]] Kinh văn là "kiến đế", đây muốn nói đến Tứ diệu đế: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế. Thấu suốt và thể nhập được Bốn đế ấy... là bậc Thánh, chẳng biết, chẳng thấy và chẳng thể nhập tức là phàm phu.
Trung Nguyên Cửu Tuyệt… Diện Kiến Lý Tứ

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ
Như mây bay trên trời
Không đẹp cũng không xấu
Người có trí hãy tìm
Cái đẹp, trong cái đẹp.
Vì lợi ích muôn loài
Vì an vui tứ chúng
Vì sanh tử chẳng thật
Nên mây cũng không thật.
Không thật nhưng có vui
Thường cho nhiều lợi ích
Nơi không thật thành thật
Cái người trí cần tìm...
- Lý Tứ -
Nhắc lại, sau khi Lão Tiểu Quỷ làm sập cái bàn của tửu quán, cả bọn giật mình như tỉnh cơn mê. Sáu người dụi dụi mười con mắt nhìn chằm chằm vào Lý Tứ. Hết nhìn Lý Tứ cả bọn nhìn con dao sét rẹt để trên bàn... Hết nhìn người đến nhìn con dao rồi cả bọn lại nhìn nhau... Kẻ há hốc mồm đến nỗi không ngậm lại được. Người trố hai con mắt như muốn đứng tròng... Riêng thiếu nữ áo hồng thì như kẻ mất hồn không còn biết cha mẹ ở đâu, tên tuổi là gì?
Sáu người, mỗi người một tư thế trông rất không giống ai. Cứ như thế!... Như thế!... Những mạng người bất động như thể trời trồng. Một hồi lâu độ chừng tan cục kẹo trong miệng, cả bọn đồng ồ lên một tiếng, như để hoàn hồn sau cơn “đi thiếp”. Cái thất đởm của “thần tử thấy long nhan” đến nỗi tàn nửa điếu thuốc mà vẫn chưa hết trên khuôn mặt...
Lão Đại bây giờ mới khép được cái miệng của mình. Lão nhoẻn miệng cười xã giao nhằm che giấu “cục mắc cỡ” của một hảo hán. Rồi lão cất giọng văn chương để trấn tỉnh cơn sợ hãi của mình cùng đồng bọn:
- Đúng là anh em ta chia nhau mỗi người một ngã, đã mòn mấy chục gót giày, đạp bằng bao nhiêu ngọn núi, mà chẳng thấy!... Không ngờ cái nơi “đìu hiu hút gió”, “quán vắng bên đường” này lại gặp được quới nhơn. Thiệt là hữu duyên!... Thiệt là hữu duyên!... Người xưa nói không sai: “Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng”, quả không sai...
Hình như cái thất đởm khi nhìn thấy con dao sét trên bàn làm cho văn chương của lão khập khiễng. Quả không hổ danh: “Nhất thiết bất tri”. Nói xong lão phát hiện ra hai câu tỷ dụ lão đưa ra không phù hợp trong hoàn cảnh này. Lão bèn xoa xoa hai bàn tay bẽn lẽn như con gái về làm dâu, lão lại cất giọng:
- Thiệt là đứng trước Thái Sơn mới thấy mình nhỏ bé!... Các hảo huynh đệ thông cảm cho cái bối rối vừa rồi của ta. Vì hồ đồ trong nhất thời mà thất lễ với quới nhơn. Xin lượng thứ!... Xin lượng thứ!... “Khôn ba năm dại có một giờ” cũng là chuyện thường tình thế thôi.
Lý Tứ nhìn tình cảnh sáu người đối trước mình đâm ra chột dạ, thầm nghĩ:
- Thiệt bọn này thần tượng quá đáng. Đâu có gì ghê gớm mà bọn chúng làm thấy ghê. Mình đâu phải thần thánh gì!... Cũng chỉ là con người bằng xương bằng thịt. May mà bọn chúng chưa tặng hoa, chưa đòi chụp hình chung hoặc xin chữ ký... Thôi thây kệ, thần tượng thì thần tượng, fan hâm mộ thì hâm mộ. Làm quen bọn này biết đâu có chuyện hay về sau.
Ngẫm nghĩ như vậy, Lý Tứ quay lại phía sáu người, cung tay thủ lễ. Bèn khách sáo đánh tiếng trước:
- Tiểu Đệ là Lý Tứ. Các bằng hữu thương tình tặng cho cái tên Lý Tam Đao xin chào các lão ca ca và tỷ tỷ!...
Tiểu Đệ khi nãy mạo muội nghe lén đại danh của các anh hùng là Trung Nguyên Cửu Tuyệt. Tiểu đệ thiệt là hổ thẹn khi nghe lén chuyện người khác. Nhưng vì hâm mộ đại danh chín vị đã lâu, đêm mong ngày nhớ. Nhớ như con tán nhớ bù lon, như cây nhớ gió... ngưỡng mong có ngày diện kiến. Không ngờ hôm nay nhờ ngọn gió lành xui khiến nên tiểu đệ được diện kiến các vị. Thiệt là phước đức mười đời của tiểu đệ...
Đúng là: “Can lộ phùng Đại vũ”, chỉ còn chờ “Tha phương ngộ cố tri”. Nếu các anh hùng không chê hư danh nhỏ mọn của tiểu đệ, xin các vị nhận của tiểu đệ cái xá này gọi là tượng trưng cho buổi sơ giao. Xin được làm quen các Đại anh hùng. Ngưỡng mong sau này có thể là tri kỷ. Nói xong, Lý Tứ chấp hai tay trước ngực xá một xá. May mà chưa niệm danh hiệu A Di Đà Phật...
Thấy Lý Tứ trịnh trọng xá mình, chẳng ai nói với ai, cả bọn đồng loạt nhảy lên nóc nhà để tránh cái xá của Lý Tứ. Nhìn bọn chúng nhảy mà thấy thương, giống như tép nhảy khỏi rổ...
Lão Đại chân chưa chấm đất đã chắp tay trước ngực. Cả bọn chắp theo đồng hướng về phía Lý Tứ, Lão Đại cất giọng:
- Tổn đức quá!... Tổn đức quá!... Quả “lời đồn không sai”, tác phong của quới nhơn có khác. Anh em tại hạ không dám nhận cái lễ này. Đáng ra cái lễ này là của anh em tại hạ mỗi người phải xá Lý Lão Sư mười xá để “thỏa lòng tương ngộ”, “cung kính bề trên”... Ai đời!... Ai đời!... Có chuyện tréo ngoe này.
Các đệ, còn chần chờ gì nữa, mau mau thủ lễ ra mắt Lý Lão Sư.
Lão Đại vừa dứt tiếng, cả bọn sáu người chắp tay trước ngực thi nhau cuốc, mỗi người đúng mười cái.
Vừa xá đủ một người mười cái, vị chi sáu chục cái xá... Sáu người chạy như bay đến bên Lý Tứ. Người sờ con dao, người dán mắt nhìn kỹ từ đầu đến chân, người cầm tay áo của Lý Tứ rồi dặt dặt, người bóp vai... Cảnh tượng giống như người thân xa cách lâu ngày nay mới gặp lại, trông thấy không ai chẳng bùi ngùi... Cả bọn hân hoan ra mặt...
Riêng thiếu nữ áo hồng Thất Muội, thì vẫn đứng như trời trồng sau cú nhảy. Cái mất hồn chưa tan trên khuôn mặt... Hai hàng nước mắt “lăn dài trên má”... Ả muốn làm một điều gì đó để tỏ lòng tôn kính và thân thiện với môi trường, nhưng hai chân ả nặng như chì, muốn bước tới mà không thể nhấc chân lên, muốn làm quen mà miệng mồm tê cứng, muốn nói bốn ngàn rưởi lời ngưỡng mộ mà chỉ lắp bắp ú ớ như ngậm cục xôi gà... Trước tình cảnh như vậy, vừa thương hại vừa buồn cười. Lý Tứ sực nhớ lời bài hát: “Con gái nói có là không, con gái nói không là có... Con gái nói đứng là đi, con gái nói đi là đứng”… Thiệt là không một ai trên đời hiểu con gái hơn mấy anh chàng nhạc sĩ…
Trung Nguyên Cửu Tuyệt, chín con người đã làm nên tên tuổi của mình trên giang hồ, hai đạo hắc bạch khi nghe đến cái tên này chẳng một ai không cung kính và ngưỡng mộ.
Họ là đại diện những gì tốt đẹp nhất của khái niệm “chính nhân quân tử”.
Tên tuổi gắn liền với tác phong và đạo nghĩa. Mọi giao tiếp được đặt trong nền tảng của những hình thức “bất di bất dịch”. Nghĩa là: Nói phải “uốn lưỡi bảy lần”. Đi đứng, co duỗi... đều không thể tách rời tác phong định sẵn, được cho là chỉ có ở những con người mệnh danh “chính nhân”. Mọi cử chỉ của họ phải là biểu tượng cho cái gọi là “quân tử” khiến người khác phải tôn trọng... Lễ nghi và nghĩa khí là “hai sợi dây cột giày” dính chặt trên đôi chân giang hồ...
Họ là những anh hùng hảo hán thứ thiệt. Họ tâm niệm: “Ninh thọ tử, bất ninh thọ nhục”, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Thà chết để “hậu thế ngưỡng mộ”. Chết làm sao để được khắc vào bia đá dựng nơi công cộng nhiều người qua lại. Chết làm sao vang danh mà cụ ông lẫn cụ bà, trẻ già lớn bé, đui điếc câm ngọng... đều biết. Chết như thế nào để là đề tài ít nhất khi hai người ngồi lại với nhau trở thành câu chuyện đầu môi biểu lộ sự thông tuệ.
Chết như thế nào để tiệc tùng, ma chay, cưới gả, thôi nôi đầy tháng được luận bàn trên những cái đầu đỏ au vì rượu với hai mắt lim dim gật gù tâm đắc... Chết cho bằng hữu giang hồ đốt nén nhang kính trọng, với bài điếu văn dài thòng đầy những văn từ ai oán nhưng liệt oanh... Thà chết để rồi sống mãi trong lòng mọi người... Nhất định không sống như “mèo chó chỉ biết kiếm ăn”... Và họ đã thực hiện điều này suốt những tháng ngày giong ruổi!...
Lý Tứ lấy làm lạ, bởi những con người như vậy, sống bằng những tư duy như vậy, được nuôi lớn bởi những nhận thức như vậy, đã học tập và hành động như vậy... thì cái gì làm cho những con người được coi là “cỗ máy đạo đức”, những con người mà khẩu hiệu “thân bất do kỷ” được đặt lên hàng đầu, thậm chí nó là thứ chân lý để giữ mạng sống này tồn tại trên đầu lưỡi kiếm.
Vì cái gì khiến họ đã quăng bỏ những thứ này như quăng bỏ cái bọc ny lon rách để đến với mình trong buổi sơ giao, bằng tất cả chân tình như những “đứa con xa gặp mẹ”.
Cái gọi là “tác phong quân tử” để ở đâu? Cái được gọi là “hành vi hảo hớn” để ở đâu? Lý Tứ đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác về những con người bằng xương bằng thịt trước mặt... mà họ đã một thời ngang dọc...
Có lẽ, cuộc đời và những danh vọng từng gặt hái được đã ngầm cho họ biết rằng, cái đích thực của một con người đang thiếu vắng trong họ nghiêm trọng. Khát khao đi tìm “lẽ sống đích thực” đã âm ỉ trong lòng cả bọn. Sự tồn tại của họ bấy lâu nay được che đậy bởi những giá trị hình thức vô ích nay mới có dịp vỡ tan, như con sóng xô đẩy những thứ không tốt đẹp giữa biển khơi trôi dạt vào bờ...
Có lẽ, cái được coi là những giá trị tiêu biểu một thời mà họ trót cưu mang không làm họ thỏa mãn. Những tiêu chuẩn đo lường giá trị nhân văn nay đã lỗi thời vừa được phát hiện... Có lẽ, họ đã nhận ra rằng cây đao lưỡi kiếm nạm ngọc khắc rồng, những cái cung tay đầy nghi thức, những lời chào hỏi đổi trao mang nặng xã giao khách sáo đã theo họ suốt thời dọc ngang bây giờ trở thành chán ngắt. Họ vô vọng và cô đơn giữa những con người. Quá khứ vàng son không phải là thứ bây giờ cần gìn giữ... Trước tình cảnh như vậy, Lý Tứ thầm nghĩ, không lẽ con đao sét của mình hay con người với hình hài ốm đói mang đầy bụi đời của Lý Tứ đã đánh thức họ...
Trong phút chốc, với Trung Nguyên Cửu Tuyệt những gì được coi là “tâm tình của một con người đích thực” hiện diện. “Những tâm hồn” thật sự đã đơm hoa kết trái, khoảng cách ứng xử giữa người với người lâu nay được chắt chiu bằng thứ “trí tuệ vay mượn” đến giờ hấp hối. Phút chốc ngắn ngủi làm người hồi sinh.
Họ đến với nhau thông qua cử chỉ thương yêu bằng tất cả tấm lòng hơn là môi mép.
Sự thân thiện hồn nhiên sống dậy trong những con người đã một đời từng trải dưới bao nhiêu danh nghĩa rỗng tuếch. Thậm chí đánh đổi mạng sống của mình bằng những nghi kỵ, che giấu, trang sức bằng những hào nhoáng của triết lý hư ảo... Cuộc đời của những con người được “tô hồng đánh phấn” bằng hư danh nay hình như không còn nữa. Những con người thật sự là con người có lẽ bắt đầu từ đây... Bắt đầu từ cuộc tao ngộ của những ước ao tìm lại chính mình... Có lẽ, rồi đây với những người này binh khí của họ là “đao kiếm và miệng lưỡi” trở thành cổ vật... Chỉ để trưng bày như một chứng tích ngu si...
Sáu con người sau những bất ngờ của bất ngờ, Trung Nguyên Cửu Tuyệt không còn là Trung Nguyên Cửu Tuyệt. Cái ngỡ ngàng đầu tiên thoáng qua, sáu con người trở thành nhất thể vội vàng ôm chầm lấy Lý Tứ, thiếu nữ áo hồng cũng không ngoại lệ. Khẩu hiệu “thọ thọ bất thân” đã bị đánh đổ... Họ ôm Lý Tứ như chưa từng được ôm, giữ chặt Lý Tứ như sợ con người này rồi sẽ vĩnh viễn vụt khỏi tầm tay của họ...
Lý Tứ cực kỳ xúc động!...
- Lý Tứ ơi là Lý Tứ!... “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật Tánh” có phải đã thành hiện thực trên những hình hài này!...
(Hết )
Chuyện Kể Về… Trung Nguyên Cửu Tuyệt

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ
Chuyện hai mươi lăm năm sau, sau cái ngày nước Thiên Hoa bị teo ở bụng…
Lý Tứ đi từ sáng đến chiều mới kiếm được một tửu quán ven đường.
Một tháng lang thang khắp hai vùng Đại giang Nam Bắc. Từ Nam đến Bắc đâu cũng phồn vinh. Tửu quán không thiếu, chỉ có nơi đây vắng vẻ. Nghe đồn nơi đây ban ngày có khách giang hồ qua lại nên tạm bình yên. Đêm về cường đạo hoành hành, dân thường không dám sinh sống. Chỉ có vài cặp giang hồ giong ruổi một đời đến già mỏi mệt, dừng chân ở đây mở tửu quán kiếm sống qua ngày... chờ xuống lỗ.
Tửu quán không lớn, không gắn bảng hiệu, không có thực đơn, bên trên chỉ lợp đơn sơ, bốn bề không vách, gió thổi lồng lộng.Trong quán kê hai dãy bàn mỗi bên bốn cái, bàn này có thể nghe bàn kia nói chuyện. Nhìn cách bài trí khác thường không giống cách sắp xếp bàn ghế mà các tửu quán nơi hay có bọn giang hồ qua lại. Theo quy luật chung thì bàn ghế cho khách uống ăn không thể bày như thế này. Bàn này nghe bàn kia nói chuyện là Đại kỵ trong giới giang hồ vì bí mật của các bang phái xưa nay.
Lý Tứ chọn chiếc bàn còn trống gần đầu tửu quán, cách xa chiếc bàn kê bên trong đã có bốn người đang ngồi uống rượu. Chọn như vậy là có ý thể hiện tác phong của người biết chuyện... không dòm ngó nghe lén chuyện thiên hạ... Lý Tứ kêu một chiếc bánh bao và một bình rượu nóng...
Gác cây đao sét rẹt trên bàn, Lý Tứ định bụng ăn cái bánh bao uống bình rượu nóng xong lại tiếp tục ngược lên hướng Tây... tìm nhà người quen trước canh ba đêm nay. Ban đêm may ra hắn còn ở nhà chứ đợi sáng mai thì hắn lại mất tăm...
Bốn người đàn ông bên kia coi bộ ăn uống đã no say. Một gã trong bốn gã nói lớn:
- Lão Nhị!... Chuyện người kể về Trương Tam là chắc chứ? Thông tin này ngươi nghe từ đâu? Có chính xác không?
Người được gọi là Lão Nhị cất tiếng:
- Chính xác!... Chính xác!... Đệ có người bằng hữu là tục gia đệ tử của Thiếu Lâm, y ta có chút tiếng tăm. Tuy tiếng tăm y không lớn lắm nhưng cũng được phương trượng Thiếu Lâm nể vì. Chính người này nói cho lão đệ hay là hôm đó đích thân Phương Trượng Thiếu Lâm là Phương Chứng Đại Sư cùng mấy vị trưởng lão đi đám.
- Thế có biết nguyên nhân vì sao Trương Tam qua đời không?
Nghe nói bệnh tật, chứ chẳng phải đao thương!...
- Một người công lực như Trương Tam, kiếm thuật bằng thánh thì phong hàn sao có thể nhập được, chuyện này chắc có khuất tất gì đây!...
Chính tiểu đệ lúc mới nghe nói cũng hồ nghi như Đại Ca, nhưng đây là sự thật về cái chết của Trương Tam. Nghe đâu hôm đó có cả triều đình cử người đến viếng, mà có triều đình nhúng tay vào thì làm gì khuất tất được.
- Thế trong anh em có nghe ai nói trong đời Trương Tam có truyền nhân không?
Lão ngồi đối diện với Lão Nhị, mắt sáng đầu hói, lưỡng quyền nhô lên mới thoạt nhìn đã biết cao thủ, lão ta cất giọng ôn tồn:
- Đích xác thì không!... Nhưng phong thanh giang hồ có đồn Đại hình như có truyền nhân, có truyền nhân... Hình như truyền nhân có tên là Lý Tứ. Nghe đâu Lý Tứ trẻ hơn Trương Tam con giáp. Y ta xử Đại đao chứ không phải kiếm. Cái đặc biệt là cả hai cùng xử đao kiếm bằng tay trái... Cái khác là Trương Tam nước da đen thui còn Lý Tứ nước da trắng nhách. Trên hai mươi năm rồi họ thường bôn tẩu với nhau... nhưng chẳng ai biết đó là Trương Tam và Lý Tứ.
Cái lão có vẻ là Đại ca nghe đến đây trầm ngâm, cả bọn cùng im lặng.
Lý Tứ ngồi bàn bên kia có không muốn nghe những lời này cũng không được vì bọn chúng nói lớn như chỗ không người. Lý Tứ bèn quay lưng lại chỗ bọn họ giả bộ nhìn ra ngoài nhưng thật ra làm như vậy để bọn chúng không chú ý. Bây giờ Lý Tứ quyết tâm lóng tai nghe cho rõ coi bọn này bàn chuyện gì, hình như có liên quan đến mình và Lão Đại...
Sau một hồi trầm ngâm chừng tuần trà, người được gọi Lão Đại cất giọng có mùi phiền não:
- Thiệt là hồ đồ!... Thiệt là hồ đồ!... Nghe các đệ càng nói ta càng hồ đồ. Lão Đại ta đây tuy không tiếng tăm, kiến thức không dám nói là nhiều. Nhưng hai mươi mấy năm nay bằng hữu giang hồ thương tình nên thường đến hỏi chuyện, chưa có chuyện nào ta chẳng thông!... Chỉ có chuyện này chuyện này... chuyện này!...
Cái lão đầu hói tiếp theo:
- Võ lâm nhân sĩ thường gọi Đại Ca là bằng cái tên “Nhất thiết bất tri” chẳng phải là hư danh. Đại Ca mà hồ đồ thì các đệ đây chẳng dám luận bàn việc này vậy!...
Người được gọi bằng Lão Đại lại cất giọng:
- Thì đó!... Thì đó!... Đúng là ở đời khó thể biết hết, chỉ trừ “dị nhân dị tuệ”. Bọn ta tuy giang hồ tăm tiếng, nhưng cũng không thể biết hết chuyện mười phương, ví như cái vụ này. Thú thật với các đệ, từ xưa đến nay, truyền thuyết cho đến thư tịch. Từ binh khí phổ cho đến bí lục độc môn cũng như các loại quyền cước tâm pháp, các dị nhân trên giang hồ xưa nay không hiếm nhưng ta chưa từng nghe ai nói “kiếm thánh” lại truyền “đao tiên”. Vì sao? Xét cho cùng hai loại võ khí này hoàn toàn khác nhau về bản chất cũng như chiêu thức. Một chuyên về công một chuyên về thủ. Kiếm lấy công làm thủ ngược lại đao lấy thủ làm công...
Người học được kiếm thì khó thành tựu đao. Người quen dùng đao thì kiếm dở như hạch. Tố chất của người luyện kiếm mảnh mai nhanh lẹ, còn người luyện đao thì phải vai u thịt bắp, bụng có sáu múi như múi bưởi Biên Hòa. Đằng này nghe nói Trương Tam thành tựu kiếm pháp còn tin, vì con người này ta từng thấy qua. Trong khi Lý Tứ nghe đồn mặt tựa Phan An làm sao một người thể chất thể hình như vậy có thể luyện thành đao pháp... Người luyện kiếm nếu có cố luyện đao thì cũng như “ăn cơm có ớt”, chỉ để làm vui hoặc tăng kiến thức lấy đó bổ sung cho chỗ sở trường. Ngược lại người luyện đao khi luyện thêm kiếm cũng không ngoại lệ. Trong giang hồ ai mới nhập môn cũng biết đạo lý này. Đã vậy, ta hỏi các đệ Trương Tam là kiếm thánh làm sao dạy người thành tựu cái sở đoản của mình là đao? Cái ta hồ đồ là ở chỗ này, là ở chỗ này...
Nói đến đây cặp mắt lão mơ màng nhìn về xa xăm... Lão nhấp một ngụm rượu khà tiếng sảng khoái, tằng hắng lấy giọng, rồi lão tiếp:
- Huynh đệ ta có chín người, tuy không cùng cha mẹ sinh ra nhưng đã thề đồng sanh đồng tử. Mười mấy năm nay đạo nghĩa giang hồ anh em ta giữ trọn. Huynh đệ bốn phương chưa ai không mến, chẳng một lời chỉ trích. Bằng hữu giang hồ, hai đạo hắc bạch khi nhắc đến cái tên “Trung Nguyên Cửu Tuyệt”, dù chỗ không người, chẳng có ai nghe thấy cũng phải cung tay trước khi kêu cái tên cúng cơm của bọn ta.
Trong chín anh em ta, cộng lại đã đủ Đại diện cho hết thảy tuyệt học giang hồ. Trong chín người có kẻ xử kiếm, người đao, quyền, cước, giảng, kích, độc, tiêu... Nói chung không thiếu, ai cũng luyện đến chỗ “xuất thần nhập hóa”, “chiêu ý nhứt như”...
Tuy võ công là như vậy, võ học của chín anh em ta dưới gầm trời này chẳng kém một ai. Các đệ đa phần xuất thân từ giang hồ nòi, thuộc loại “gia đình truyền thống”. Duy chỉ có Lục Đệ và Thất Muội là hai người bước vào con đường đạo nghĩa từ dòng dõi khoa bảng, lại là con nhà “trâm anh thế phiệt”. Ta nhớ cái ngày mới gặp Lục Đệ, khi đó hắn ta mới mười tám đôi mươi mà đã đỗ Tiến Sĩ khoa thi năm ấy. Hắn được triều đình phong cho chức “Hàn Lâm Đại Học Sĩ”.
Mới tuổi như thế mà công danh như thế, các đệ gẫm coi, người đời nằm mơ cũng không được. Thế mà!... Thế mà!... Thế mà!... Lục Đệ vì cái đạo nghĩa “thế thiên” bỏ công danh sau lưng, quên chuyện nằm giường cao trải chiếu bông, theo ta ăn sương nằm gió. Chu choa!... Chu choa!... Cái đạo nghĩa giang hồ nói ra thiệt cao tột tận mây xanh...
Nói đến đây, lão ta cất giọng cười sảng khoái, tiếng cười như chuông ngân, cười như “chưa từng được cười”...
Nhấp một ngụm rượu rồi đánh khà như để tăng hào khí, với chất giọng hào sảng lão tiếp:
- Còn Thất Muội, cái con nha đầu ai thấy cũng thương, công dung ngôn hạnh đủ đầy. Tuy xuất thân là một tiểu thơ, mình hạc xương mai, liễu yếu đào tơ, nhưng trong bụng toàn “binh khí phổ” chứ chẳng phải thi ca. Không biết con nha đầu này học mấy thứ đó hồi nào mà cái đêm ta cùng nó gặp nhau lần đầu vào đêm trăng sáng ở Mai Hoa Thôn. Ta múa kiếm cho ả coi, ta múa đến đâu ả đọc chiêu thức đến đó. Thú thật với các đệ, tuy ta múa để người thưởng thức nhưng tốc độ không vừa. Trong giang hồ hàng cao thủ bậc trung một đời luyện kiếm cũng chẳng mấy ai nhận ra chiêu thức. Thế mà con nha đầu nhìn qua không bỏ một chiêu không sót một thức. Nghe ả đọc khẩu quyết máu anh hùng của ta cao vút. Lúc đó không ngần ngại ta thi triển kiếm pháp “Đơn ảnh vô chiêu” kiếm khí rợp trời, kiếm quang như điện. Dưới ánh trăng một trời hoa mai vàng rực. Sở dĩ lúc này đầy trời hoa mai cũng bởi do hoa mai trong thôn bị hút vào kiếm lực của ta cuốn bay lên trời. Múa đến đây tưởng chừng con nha đầu bí thù lù. Ai dè ta múa càng nhanh ả đọc càng lẹ. Ả đọc đến độ chiêu quyết từ miệng ả trở thành chuỗi âm thanh trầm bổng như tiếng tiêu từ cõi xa xăm vọng lại. Từ đó hai câu thơ ta hay ngâm, các đệ thường nghe có xuất xứ từ chỗ này:
“Trời xanh, trăng bạc, hoa rơi.
Tiếng tiêu ai đó xa xôi vọng về.”
Nói đến đây, lão ta im lặng, hai mắt nhắm riết, lão định thần hồi lâu mới mở ra. Rồi lão cất giọng gọn lỏn:
- Đã đến!... Đã đến!... Ha ha!... Ha ha!... Hay quá!... Hay quá!... Đã đến...
Cả bọn ba người còn lại ngơ ngác nhìn nhau rồi nhìn lão, không biết Lão Đại đang nói cái gì???
Tiếng nói “Đã đến!... Đã đến!...” của Lão Đại chưa dứt thì ở hướng Nam văng vẳng tiếng tiêu. Tiếng tiêu chợt trầm chợt bổng, lúc khoan thai như tiên nữ hái hoa lúc dồn dập như vạn binh xông trận... Tiếng tiêu mỗi lúc rõ hơn.
Cả bọn đồng ồ lên:
- Thính lực Đại Ca thiệt gầm trời này có một không hai!... Tiểu đệ ba đứa chẳng một ai thính lực bỏ sót tiếng lá rơi ngoài mười dặm, thế mà chẳng phát hiện được gì, còn thua xa Đại Ca mấy bậc...
Lý Tứ bây giờ nghĩ thầm trong bụng, thì ra tiếng tiêu ta nghe lúc nãy là tiếng tiêu mà bọn chúng đang nói. Kể ra thính lực người gọi là Lão Đại tuy có thua mình mấy phần nhưng thuộc loại hàng hiếm cần ghi vào sách đỏ để bảo tồn...
Lão Đại lại tiếp:
- Ta biết con nha đầu sớm muộn gì nội nhật hôm nay cũng về tới. Ả về nhất định có nhiều chuyện lạ. Ta biết tính ả, chuyện gì đã giao là làm đến nơi đến chốn. Khả năng thu thập tin tức của con a đầu này khó người sánh bằng, các đệ hãy đợi vài giây nữa có tin hay đấy...
Tiếng lão chưa dứt, một dải lụa hồng bay mau vào trong quán. Cả bọn đồng reo lên: “Thất Muội bình an!... Thất Muội bình an!... Đi chợ có mua được miếng bánh nào ngon không? Mấy Lão Ca Ca đang chờ Thất Muội. Đói lắm rồi!... Đói lắm rồi...!”
Lý Tứ lại thầm nghĩ, thì ra đây là ám hiệu của bọn người này. Cái câu “Thất Muội bình an... mua được miếng bánh nào ngon không... đói lắm rồi...” chỉ có đám người này hiểu ý. Dải lụa hồng bay vào trong quán chính là thiếu nữ bọn họ gọi Thất Muội đây.
Thiếu nữ áo hồng cung tay chào đồng bọn, giọng ả như chim hót bình minh, ả nói nhanh:
- Tiểu muội kính chào Đại Ca, chào Nhị, Tam, Tứ Ca!... Bốn vị vẫn khỏe? Tiểu muội có mua được bánh ngon, lại thêm rượu tốt làm quà cho các Đại Ca đây. Rồi ả õng ẹo... Mấy Đại Ca ơi!... Mới có ba tháng không gặp vì công vụ mà tiểu muội tưởng chừng ba ngàn năm. Tiểu muội nhớ mọi người lắm lắm, mong mua được bánh ngon về sớm. Nhưng lúc này khách hàng nhiều quá, tiệm bánh làm ra không kịp để bán. Vả lại có mấy thứ bánh lạ, tiểu muội phải chờ tới lượt mình mua, làm Đại Ca và mấy Ca Ca phải đợi ở đây đến giờ này!... Xin các Ca Ca đừng trách phạt tiểu muội...
Lão Đại cất giọng:
- Cái con nha đầu này lại khéo lẻo mép. Các đệ nhìn xem câu nào con nha đầu này nói ra cũng đẹp lòng người khác. Mấy Lão Đại Ca đây chỉ mong tiểu muội đi sớm về sớm, bình an vô sự. Bánh ngon rượu tốt tuy quý nhưng đâu quý bằng cái bình an của tiểu muội. “Giang hồ hiểm ác”!... Bọn ta chín người chia nhau “đi chợ”, hẹn sau ba tháng tụ hội ở đây. Tuy không nói ra nhưng ta biết trong lòng mỗi người đều nghĩ nhớ lo lắng đến nhau. Giả sử có chuyện chẳng lành như chuyện năm ngoái Ngũ Đệ gặp phải, thiệt anh em ta cùng đau như tay cắt tay, thịt cắt thịt...
Lý Tứ thầm nghĩ, thì ra bọn này nhất định đi điều tra về chuyện Lão Đại của ta qua đời là thực hay hư. Nếu chuyện này là thực thì bọn họ muốn biết truyền nhân đích thực của Lão Đại là ai. Xem ra bọn này là hạng “chánh nhân quân tử”. Nhưng không biết bọn họ tìm hiểu những chuyện này có dụng ý gì? Suy nghĩ như thế, Lý Tứ quyết tìm hiểu chân tướng sự việc...
Thiếu nữ áo hồng ngồi xuống. Ả để chiếc ngọc tiêu lên bàn. Từ chiếc ngọc tiêu một luồng hơi lạnh tỏa ra khắp quán. Hồng quang từ tiêu ánh ra mang hơi ấm hòa trong cái se lạnh như thời tiết vào xuân. Chỉ nghe hơi lạnh đan xen cái ấm, cũng biết chiếc tiêu của ả không phải tiêu thường.
Giang hồ xưa nay vẫn thường đồn Đại “Hồng ngọc ôn hàn tiêu”, chắc là chiếc tiêu này. Nghe đồn muốn xử được tiêu phải là thiếu nữ còn nguyên dấu “thủ cung sa”, sanh vào năm Quý, đến tuổi dậy thì trong lòng không dục, tâm tính thanh lương như hoa sen buổi sáng. Nhược bằng nếu người sử tiêu này tâm khởi dục tình, chiếc tiêu mất tiếng, trở thành cây tiêu thường. Thì ra ả là người sở hữu hồng ngọc ôn hàng tiêu, như thế xuất thân bọn này chẳng thể tầm thường...
Thiếu nữ áo hồng, miệng cười chúm chím. Ả đưa tay vuốt mái tóc cho gọn, để lộ khuôn mặt như chị Hằng đêm trung thu, giọng như oanh hót, Ả nói:
- Tiểu muội vâng lệnh Đại Ca, sau khi chia tay một tuần tiểu muội đến được thôn Hoa Thị. Để tránh dòm ngó, tiểu muội phải hóa trang thành một mệnh phụ phu nhân, thuê một cỗ tứ mã suốt ngày giong ruổi đường phố cùng tên Xà Ích giống như người thừa tiền lắm của đi du ngoạn tránh cái rét phương Bắc.
Nói đến đây ả cười ngặt nghẽo. Tiếng cười lúc trong như suối reo… lúc lảnh lót như tiếng hạc vào xuân, ai nghe qua lòng cũng hết muộn phiền...
Ả tiếp:
- Thôn Hoa Thị không hổ danh nơi “ngọa hổ tàng long”, “địa linh nhân kiệt”. Với thân phận mới tiểu muội phải xem tiền như lá mít, xài bạc trắng như nước ngoài sông. Chính vì điểm này mà tiểu muội dò ra được nhà của Trương Tam không khó.
Thú thật với các Đại Ca, bên ngoài giả bộ xem tiền như giấy lộn nhưng trong lòng tiểu muội rất đỗi xót xa. Chẳng phải vì sợ tốn tiền hao của, nhưng tiểu muội nghĩ đến những người nghèo khó, trẻ thơ bất hạnh, người già cô đơn sáng chiều cơm không đủ no, áo không đủ mặc... Nói đến đây, cặp mắt ả long lanh ngấn lệ, giọng ả dường như ngẹn ngào... Ả vân vê tà áo hai má ửng hồng, mới thoạt nhìn qua cứ tưởng như thiện tiên giáng trần...
Lão Đại nghe mấy câu này lấy làm hả dạ. Lão gật gù cái đầu, đưa tay vỗ đùi đánh đét một tiếng rồi lão cất giọng:
- Đúng là nhân hậu!... Đúng là nhân hậu!... Thiệt không uổng một đời anh em ta kết nghĩa đệ huynh. Ta tuy không biết quá khứ vị lai như bọn học sĩ hô hào “thông tri tam giới”, nhưng nhìn qua con người và tánh nết của con nha đầu này, ta cũng đoán biết kiếp trước của hắn là Thiện Tiên tái thế, chẳng phải phàm tục, “Thiện nhân thiện quả, ác giả ác báo”... Cái tốt hôm nay là do nhân đời trước vậy... Hay!... Hay!... Hay!...
Thiếu nữ áo hồng nói tiếp:
- Tiểu muội dò xét, tìm hiểu rất kỹ về thân thế của Trương Tam. Tiểu muội cũng có thông tin đầy đủ về đám tang, thiệt là hoành tráng!... Thiệt là hoành tráng!... Hoành tráng mà tôn nghiêm đệ nhất. Tất cả tư liệu có được từ văn bản cho đến hình ảnh tiểu nữ cho vào cái này... Nói đến đây, ả thận trọng dòm trước ngó sau, đảo mắt đến bốn năm lượt. Ả mở cái bọc đeo bên mình, lấy từ trong đó ra một vật giống như viên gạch Tàu, sơn màu xám xám, dẹp như quyển vở học trò. Ả trịnh trọng nâng nhẹ lên rồi mở đôi cái hộp ấy ra...
Cả bọn chụm đầu vào chiếc hộp, mặt trên chiếc hộp bỗng dưng sáng lòa, rồi hình trái táo bị cạp một miếng hiện ra... Ả dùng cái giọng thông tuệ, giới thiệu về xuất xứ cũng như công dụng của chiếc hộp...
- Các Đại Ca biết không!... Sở dĩ tiểu nữ có được cái máy huyền vi này chẳng phải vô duyên vô cớ, thiệt là nhân duyên hy hữu. Nhờ đóng vai mệnh phụ nên tiểu nữ làm quen được mấy quý bà là phu nhân của hàng khai quốc. Tiểu nữ có tiêu ngọc mấy bà xem qua thèm chảy nước miếng. Nhưng cũng để khoe báu vật, một bà là phu nhân của ngài chủ “Học Viện Tân Minh” [1] cho tiểu nữ coi cái máy huyền vi này. Thiệt là xảo diệu!...
Trong đời tiểu nữ đã xem qua không biết bao nhiêu báu vật thế gian, nhưng chưa thấy cái nào nhiều tiện ích bằng cái này. Nghe đâu đến những ba vạn tiện ích. Nguyên ngày hôm đó tiểu nữ với phu nhân ở miết trong phòng, người hầu đem cơm nước đến tận nơi. Cả hai cùng khám phá “sức mạnh tiềm ẩn” nằm trong cái máy huyền vi, thiệt là một phen mở rộng tầm mắt. Phu nhân vận chỉ, chỉ lực đến đâu tiện ích xuất hiện đến đó. Nó giống như người, biết khóc biết cười, biết hát biết múa... Thôi thôi để xong việc tiểu nữ sẽ hướng dẫn Đại Ca và mấy Ca Ca sử dụng... Nói đến đây ả lại đảo mắt vài bận nhìn quanh bốn phía như sợ có người giật cái máy huyền vi của ả... Rồi ả cao giọng:
- Cái máy huyền vi này có tên là “Ái Bạc Nhị Nấm Bổ”[2] . Nghe đâu sản xuất bên trời Tây thuộc Bắc Cu Lô Châu. Nước này có tên là “Mỹ Lợi Kiên Hợp Chúng Quốc” [3] , người ta đọc tắt thành Mỹ Lợi Kiên, cũng có người gọi là A Mỹ Lợi Gia [4] . Nước này văn minh ghê gớm thuộc loại đa sắc tộc nên có tên là Hợp Chúng, cũng có khi gọi là Hợp Chủng. Người ở nước này thân cao hai trượng, mũi lõ mắt thau giống người Man Di, thần công kinh người, trên lên tới trời, dưới xuống đáy biển, thần thông quảng đại bay liệng như chim, Tề Thiên còn phải khiếp... Vị phu nhân nhờ đức ông chồng có lần đến đó vì việc quan nên mới mua được, đem về làm quà cho vợ... Phu nhân một mực hãnh diện khi có vật này... Nói đến đây, ả cắn miếng bánh bao, uống ngụm trà đá lấy hơi rồi ả tiếp:
- Cái Bỉnh Quả trên mặt hộp khi mới mở ra các Đại Ca thấy nó xuất hiện đầu tiên chính là nhãn hiệu cầu chứng của nhà sản xuất. Ở Bắc Cu Lô Châu, trái Bỉnh Quả [1] gọi là “Ấp Bố” [2] . Ở bên đó cái gì cũng có cầu chứng. Đứa nào ăn cắp chiêu thức sẽ bị đưa ra “ba tòa áo đỏ”. Cái này họ gọi là “thương hiệu”. Bọn này coi thương hiệu là “yếu tố sống còn”, không như bên ta hàng giả, hàng dỏm, hàng nhái đầy ngoài chợ...
Nghe đâu cha đẻ chiếc máy huyền vi này con cháu mười tám đời của họ Cừu trên núi Thiết Chưởng. Lão Bà Tổ của họ chuyên ăn táo nên di truyền đến mười mấy thế hệ sau mà chưa bị lai, dòng ép một [3] vẫn còn. Vì thế hậu sinh dòng họ Cừu lấy quả táo bị sứt một miếng làm “ký hiệu”. Một là tưởng nhớ tổ tiên, chim có tổ người có tông, hai là làm bằng để cầu chứng... Cái đáng thương tâm là người luyện nên thần thông này đã quá cố mấy bữa trước, lão ta có tên “Xỉ Tề Vạn Chộp”[4] . Thiên hạ lại đồn đoán vì ăn nhằm táo độc, thiệt “sanh ư nghệ tử ư nghệ”. Lão ta chưa đến lục tuần, công danh sự nghiệp bỏ lại đành đoạn ra đi... Nói đến đoạn này ả trầm giọng có phần thương tiếc...
Thiếu nữ áo hồng chưa dứt tiếng đã nghe ngoài quán có tiếng con nít rao bán hàng:
- A lô!... A lô!... Dừa khô lên giá, ai có má đem đổi dừa khô!... A lô!... A lô!...
Cả bọn năm người, mười con mắt sáng như sao nhất tề dòm cửa quán. Lão Đại Ca ra ám hiệu, cả bọn năm người binh khí lăm lăm đồng loạt đứng lên...
---••• ⁕ ⁕ ⁕ ⁕ •••---
Cả bọn họ mặt mày biến sắc, tay lăm lăm binh khí, tiếng rao ngày một gần hơn.
Thấp thoáng nơi đầu tiểu lộ dẫn vào quán, một đứa bé trạc tuổi chín... mười, đầu để chỏm trái đào, tay trái cầm một buồng dừa nhưng chẳng giống dừa, cau cũng chẳng giống cau, quả thì hình dáng như dừa nhưng chỉ lớn bằng trái cau kiểng. Tay phải đứa bé cầm xâu kẹo hồ lô, vừa đi vừa ăn kẹo vừa rao. Đứa bé lang thang như con nít tan trường.
Lão Đại căng thẳng đến tột độ, hình như không dằn nổi trước thái độ vô tư của đứa bé. Lão quát một tiếng lớn như sư tử gầm, trong tích tắc lão chộp cổ đứa bé như diều hâu xớt con gà con từ ngoài tiểu lộ đưa vào trong quán. Lão đặt đứa bé ngồi trên bàn, cả bọn vây thành vòng tròn chung quanh coi bộ giữ gìn rất nghiêm ngặt.
Đứa bé lại đưa xâu hồ lô lên miệng ăn một viên, đối với hắn dường như không có việc gì xảy ra.
Đến lúc này, Lão Đại không dằn nổi. Lão lại quát lên một tiếng như sấm nổ rồi nói lớn:
- Tiểu Quỷ!... Người không sao chớ, ngươi lại bày cái trò ma quỷ gì nữa đây? Chuyện bọn thảo khấu ở Lưỡng Hà bắt cóc ngươi đòi tiền chuộc là sao? Chuyện này thực hư thế nào? Cả tháng nay cái bọn thảo khấu chuột nhắt ngày nào cũng đòi ba mươi vạn lượng. Nếu không thỏa mãn yêu cầu, bọn chúng nói sẽ đem ngươi nấu canh chua. Ta và các Đại Ca của ngươi đang tính kế “giải cứu con tin”... Nay ngươi vác xác về đây, làm ngày ta càng không hiểu mô tê gì hết...
Đứa bé có tên Tiểu Quỷ vẫn chăm chú vào xâu kẹo hồ lô. Hình như đối với nó chỉ có xâu kẹo hồ lô là số một, nó tiếp tục ăn như thèm ăn bảy kiếp... Trên đời chẳng có việc gì quan trọng hơn kẹo hồ lô...
Thiếu nữ áo hồng đưa tay vuốt chỏm ba giá của đứa bé, như chị dỗ em rồi cất giọng ngọt ngào:
- Cửu Đệ!... Cửu Đệ nói đi, Đại Ca nóng ruột lắm rồi. Từ hôm chia tay đến nay Cửu Đệ làm gì? Mọi người đang chờ Cửu Đệ nói. Nói đi rồi Thất Tỷ sẽ cho tiểu đệ một trăm lẻ một xâu kẹo hồ lô... Lại dẫn đi công viên chơi cầu tuột...
Lý Tứ lại nghĩ, thì ra thằng bé có tên Tiểu Quỷ là đồng bọn của năm người này. Hắn là tên thứ chín của nhóm chín người, nên thiếu nữ áo hồng mới gọi nó là Cửu Đệ. Nhưng giang hồ xưa nay ai lại phân công con nít còn để chỏm tham gia Đại sự bao giờ. Mới nhìn thì bọn này sai nhiều thứ, lại vi phạm luật “bảo vệ và chăm sóc trẻ em”. Chắc trong này có nhiều thú vị...
Một loáng, thằng bé đã làm thịt xâu kẹo hồ lô chừng mười viên sạch bách. Hai bên mép dính phẩm đỏ tùm lum như râu ông kẹ. Hắn thè lưỡi liếm quanh mép đưa tay quẹt miệng cho sạch. Thằng bé từ từ đứng dậy giữa bàn, đảo mắt nhìn đồng bọn rồi cung tay thủ lễ. Hắn nói:
Cửu Đệ trân trọng kính chào Đại Ca cùng các Sư Huynh Sư Tỷ!... Tiếng nói của đứa bé bây giờ lại là tiếng của một trung niên, thanh âm chững chạc. Không giống những gì con người nó thể hiện cũng như tiếng rao trước đó.
Lý Tứ lại nghĩ:
À!... Thì ra đứa bé này là một trung niên độ khoảng bốn mươi. Nhưng vì sao thân hình vóc dáng cho đến khuôn mặt như đứa trẻ lên mười? Nếu tính theo tôn ti giang hồ thông thường thì thiếu nữ áo hồng phải gọi đứa bé này là Đại Ca hay Thúc Thúc mới phải!... Lý Tứ rất ngạc nhiên mối quan hệ lẫn nhau cũng như cách giao tiếp của bọn người này...
Đứa bé lại tiếp:
- Đại Ca!... Sư huynh Sư tỷ!... Chuyến này thu hoạch lớn, thu hoạch lớn!... Số dừa mang đi hôm đó, tiểu đệ bán sạch trơn, chỉ chừa lại một quầy gọi là để giống...
Sau cái hôm anh em ta bàn nhau ở “Lý Sự Đường”, tiểu đệ tức tốc lên đường ngay canh ba. Sáng ngày thứ sáu tiểu đệ đến Lưỡng Hà. Chu choa mẹt ơi!... Lưỡng Hà thiệt là phồn vinh hết chỗ nói. Trên bộ dưới thuyền khách thương tấp nập. Giang hồ ẩn sĩ dịp này tụ hội về đây nhiều như lá mùa thu. Hắc bạch hai đạo đủ cả. Khách điếm không còn một chỗ trống. Đêm đến tiểu đệ phải ngủ ở cái sạp bán hàng đầu chợ, gió táp mưa sa. Nhưng cũng may mắn, nhờ đó mà bọn giang hồ không để ý. Ngày ngày đệ lấy tro than trét lên mặt coi bộ đen ngòm, quảy quầy dừa đi bán khắp nơi. Nhờ vậy, đệ len lỏi vào hang cùng ngõ hẻm dò la tin tức mà không một ai phát hiện ra đệ...
Nói đến đây Lão quỷ thọt tay vào bị, mở bọc ny lon lấy xâu kẹo hồ lô “ăn lấy ăn để”, rồi nói tiếp:
- Đại ca cùng chư vị ơi!... Chuyến này bọn thảo khấu Lưỡng Hà bị đệ cho mắc hỡm một phen, tức đến lộn ruột. Chắc bây giờ chúng đang tụ tập với nhau lôi ba mươi sáu đời tổ tông nhà đệ ra chửi cho đã cái tức... Mặc kệ tụi chuột nhắt, chửi thì chửi, miễn công việc Đại Ca và anh em giao tiểu đệ hoàn thành là vui lắm rồi. Xong việc này tha hồ tiểu đệ ăn kẹo hồ lô mệt xỉu... Lão nói một hơi rồi lại móc xâu kẹo hồ lô, làm như trên đời không ăn kẹo hồ lô là lão chầu ông bà ông vải vậy.
Lão lại le lưỡi liếm mép, đưa tay quẹt miệng, uống một ngụm trà rồi lão thọc tay vào túi hình như tiếp tục lấy kẹo hồ lô. Không biết nghĩ gì, lão không lấy kẹo mà buông thõng hai tay nói tiếp:
- Nửa tháng ở Lưỡng Hà, tiểu đệ mượn cớ bán dừa tiếp cận không biết bao nhiêu cao nhân ẩn sĩ. Thì ra hai đạo hắc bạch bọn họ tụ tập về đây cũng vì cái vụ này... Bạch đạo như Võ Đang, Thiếu Lâm, Nga Mi, Không Động, Thanh Thành... Nói chung, các môn phái có tiếng tăm không sót một mống. Họ cử đến toàn “cao thủ ngoại hạng” cải trang làm đủ hạng người. Nhưng bọn chúng thua tiểu đệ đến mấy bậc về tài mọn hóa trang. Vì thế, bọn này giấu đầu lòi đuôi rốt cùng công cốc, đi không về không...
Còn hắc đạo thì có đám Độc Thủ Miêu Cương, Ma giáo ở Quang Minh sơn, ba mươi sáu động bảy mươi hai đảo không sót một tên. Bọn này ngày cờ bạc rượu chè, đêm đột nhập vào các khách điếm để dò la động tĩnh...
Bang hội thì có Kình Ngư bang, Kim Sa, Khất Cái... Bọn này đa số hóa trang thành khách thương mua rau bán hành vì vốn liếng không nhiều so với tiền của bọn khách thương chính thống ở Lưỡng Hà...
Trang, Gia thì có Đường gia ở Tứ Xuyên, Mạc gia ở Thiểm Tây, Ngô gia ở Liêu Ninh... Lại có Mai trang, Mạn Đà, Lệ Viên trang... Nói chung nhiều vô số kể. Bọn này giàu có nên hằng ngày mua dừa của đệ uống chơi cho khỏi nóng trong mình. Nhân đây đệ chém tụi nó thấu xương, một bán thành ba thành bốn...
Cái lạ là trong vụ này triều đình cũng tham gia. Bọn họ cải trang trà trộn thành đủ hạng người. Ban đầu tiểu đệ lấy làm lạ, xưa nay chuyện giang hồ thị phi quan phủ không để ý tới.
Không hiểu sao việc này triều đình lại nhúng tay? Chắc chẳng phải chuyện đơn giản. Cho đến cuối tháng đầu, tiểu đệ làm quen được một vị quan nhỏ do vị này mê dừa của tiểu đệ... Mấy ngày liền tiểu đệ không lấy tiền dừa nên đệ và vị quan đó thân nhau. Nhân lúc cao hứng “mất cảnh giác” vị quan này tiết lộ quân cơ cho đệ. Bây giờ tiểu đệ mới té ngửa ra cái chuyện quan phủ tham gia. Nói ra dông dài, họ đến thiệt ra chẳng phải vì vụ này... mà triều đình đoán biết ở Lưỡng Hà những ngày này đông đúc, đây là dịp bọn “hai ngón” ra tay. Bọn “đá xế” cũng nhân đây mà thi triển “đoản công”... Đây là thời gian tốt nhất có một không hai quan phủ ra tay dẹp yên bọn chúng, để Lưỡng Hà không còn là nơi bị khách du lịch phiền hà về nạn trộm cướp, ăn xin, bán nhang, bán hình đeo bám... Khẩu hiệu của chiến dịch là “Vì một Lưỡng Hà xanh sạch đẹp về mọi mặt”...
Còn slogan quảng cáo là “Lưỡng Hà!... Nơi đến thú vị nhất hành tinh”... Thế đấy!... Thế đấy!... Sự việc là như thế đấy!...
Lý Tứ ngấm ngầm quan sát thái độ của đám người này. Khi phát biểu bọn này ngữ ngôn có phần hài hước, nhưng văn tự chính xác và trong sáng. Hầu hết bọn chúng ăn nói lưu loát, không ấp a ấp úng kiểu “dùi đục chấm mắm nêm”. Một điều rất lạ không như thường thấy ở bọn giang hồ khác là, bọn này, một người nói mọi người chăm chú lắng nghe, nghe đến không sót một chữ. Có người phát biểu là cả bọn im lặng. Người nói thảnh thơi nói, người nghe trân trọng lắng nghe. Không “ba xạo” chen vào cắt ngang câu chuyện, cũng không “ăn cơm hớt” hay “làm tài khôn” như mấy đám kia, lúc đầu một người nói mấy người nghe, về sau mấy người nói không ai nghe và cuối cùng mạnh ai nấy nói. Giống như bọn hàng tôm hàng cá giữa chợ... chẳng tôn ti trật tự, chẳng có văn hóa văn minh gì ráo trọi... Quan sát xong, Lý Tứ có chút cảm tình với bọn này.
Lão Tiểu Quỷ lại tiếp:
- Đêm ấy khoảng cuối canh ba bước sang canh tư, tiểu đệ đang ngủ ở cái sạp bỏ trống đầu chợ bó gối ngáy khò khò. Khi không chân tiểu đệ nhột nhột. Tiểu đệ tưởng đâu mấy con chuột cống đói quá gặm chân tiểu đệ sống qua ngày. Tiểu đệ định bụng đưa tay xuống phẩy phẩy, định đuổi con chuột rồi ngủ tiếp. Bất ngờ tay tiểu đệ chạm phải cái gì lạnh ngắt, giật mình mở mắt thì ra đó là con dao xắt thịt đang cứa vào chân tiểu đệ... Một nhóm gần mười thằng mặt mày bặm trợn đang bàn nhau cắt chân tiểu đệ về nấu cháo ăn khuya!... Tiểu đệ chưa kịp hoàn hồn thì...
Lão Tiểu Quỷ hình thù như đứa con nít nói liên tiếp hai ba chữ “Thì!... Thì!... Thì...” đột nhiên lão đứng lên, bỗng chốc cao to như một người bình thường. Cái bàn kêu rắc một tiếng lớn, kẹo hồ lô vung vãi khắp nơi, mọi người giật mình...
- Thì ra tất cả chỉ là... một giấc mơ!...
- Tâm Pháp, Trương Tam, Lý Tứ... đều là chuyện trong mộng...
(còn tiếp)
Cơ Duyên

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ
CƠ DUYÊN
Như đã có lần nói, Tâm Pháp này xuất xứ từ Tiếu Lâm Sơn nơi không có dấu vết của ba cõi, phàm phu vô phương đến được.
Kẻ có Tam Minh thật đủ duyên lành mới mong lãnh hội vài phần.
Còn bọn chứng Lục Thông cũng đến núi này nhưng đứng dưới chân đảnh dòm lên, chữ được chữ mất, trông gà hóa cuốc, mười phần lãnh hội chưa được phân nửa của một.
Vì thế cơ duyên có được Tâm Pháp cũng cực kỳ tiếu lâm, hư hư thực thực, thực thực hư hư, nhoẻn miệng cười cái hà, tất cả đồng như mộng.
Kẻ ngu dốt, cứ y văn tự này mà tìm Tâm Pháp như kẻ mù bẩm sinh đi tìm màu sắc.
Người lìa văn tự trong đây mong tìm Tâm Pháp giống như ban ngày ngước mặt đếm sao!...
Có kẻ biết cười, tiếng cười như tiếng khánh, trong tựa suối reo, cao vút ngàn mây, hạc nghe chao liệng, kẻ này mới mong lãnh hội.
Chính thế, chuyện kể về cơ duyên thuộc loại “bất khả lậu”, thì chỉ nên đem tâm “bất khả lậu” mà kể nhau nghe.
Người chưa được tâm này nếu có duyên biết đến coi như “kể chuyện trên trời” nghe cho vui tai rồi bỏ...
**************
Cơ duyên (1) “GIẶT Y”
Duyên như thế này:
Những năm cuối đời, sau khi nhìn trước ngó sau, dòm tới dòm lui không còn người đủ duyên hoằng pháp.
Một hôm Huệ Năng sực nhớ, mở bọc ra xem, dùng Thiên Tỷ ngửi qua thì cái y nghe đã bốc mùi “hạ giới”. Nhân cái mùi “bất tịnh hạ thế” thoang thoảng, biết rằng cái y không còn tinh sạch như hồi mới nhận.
Hôm ấy buổi chiều, trời quang mây tạnh, Huệ Năng thấy không có người để ý, một mình quảy cái bọc âm thầm ra con suối sau chùa, tính giặt cái y đã mấy chục năm chưa một lần giặt giũ.
Huệ Năng kính cẩn đặt cái y lên phiến đá bằng phẳng. Phiến đá từ đen hóa trắng rồi trong suốt như pha lê. Trên phiến đá nơi nào không có y phủ lên tỏa ra ánh sáng xanh màu ngọc.
Huệ Năng bây giờ thân thể đã già. Con mắt viễn nặng một bên bảy độ một bên gần mười độ, nhưng khi nhìn vào ánh sáng phát ra từ viên đá, con mắt trở lại bình thường, sáng tợ sao trời. Từ đó đến lúc viên tịch, con mắt Huệ Năng đêm như ngày nhìn không ngăn ngại. Nếu đêm nào trời mưa, giữa hai chân mày phát ra tia hồng ngoại hỗ trợ “nghe nhìn”...
Huệ Năng chỉnh mục, mắt ngó không quá một tầm. Tâm vững như Tu Di, một đường thẳng đến con suối trước mặt định nhiếp tâm biến con suối thành ao thất bảo lấy nước bát công đức giặt y.
Cắm cây thiền trượng xuống giữa suối, dòng Tịnh Thủy từ đầu trượng phun lên bao trùm tám mươi bốn trượng, cao tám cây Ta La. Huệ Năng đảo hai con mắt như Minh Châu nhìn khắp mười phương, nhìn đến đâu nước hóa thành hư không đến đó. Phần nước còn lại không thể hóa hư không biến thành vô số Hoa Mây tỏa mùi thượng diệu. Mùi hương bay xa đến Đao Lợi thiên, rồi qua Đâu Suất...
Chỉ có dòng nước trên cái y không thể tan biến. Vầng nước này cứ quanh quẩn trên y độ một tầm, đến chiều hôm sau mà không rớt xuống.
Chúng tăng trong chùa vì thiếu công đức, nên một ngày qua, từ lúc Huệ Năng ra sau chùa định giặt y đến lúc đó ham mê tĩnh tọa, quên mất ngày đêm. Thậm chí không ngó ngàng đến chủ chùa còn sống hay chết... cũng chẳng biết sau chùa có điềm lạ...
Cứ như vậy, Huệ Năng thể nhập “Na Già Đại Định”. Trong Định có Y, trong Y có Định, chờ cho y sạch như hồi mới nhận rồi mới xuất định.
Sau 351. 592. 053 hơi thở ra vào, trên không trung có ánh vàng chiếu xuống sáng chói một phương. Huệ Năng xuất định, dùng Huệ Nhãn quan sát xem việc gì xảy ra... Giữa đám mây màu vàng phát ra sáng vàng, có một lão Tăng thân vàng trượng sáu, trên vai quảy chiếc giày vàng bằng cây trúc vàng, thư thả bước xuống. Chuyện này trong Pháp Bảo Đàn có kể sơ lược, không kể chi tiết vì “bất khả lậu” vậy...
Huệ Năng thoáng qua biết đó là Sơ Lão Tổ Tông. Huệ Năng lấy Phật lễ, đảnh lễ ba lần.
Sơ Lão Tổ Tông quắc mắt nhìn thẳng vào Lục Tổ, hơi không vừa ý, chỉ ậm ừ chiếu lệ.
Sau khi đảnh lễ ba lần, Lục Tổ lên tiếng trước, theo lệ Tăng chủ chào Tăng khách!...
Mô Phật!... Mô Phật!... Mô Phật!...
Chúng đệ tử, nghe y bốc mùi, tính ra suối giặt sau đó cất kỹ, sợ bọn thô tục ăn cắp ạ!...
Sơ Lão Tổ Tông nghe xong, cất giọng cười lớn ba tiếng. Đàn hạc bay ngang qua trên trời cố sức vùng vẫy vỗ mạnh đôi cánh nhưng cũng không thoát khỏi âm hưởng tiếng cười của Sơ Lão Tổ Tông.
Chúng tăng trong chùa, thì nghe đó là ba tiếng sấm nổ vang rền bảy núi, bọn chúng ù tai, không thể nhập định... Cười xong ba tiếng, Sơ Lão Tổ Tông bèn mắng yêu Lục Tổ rằng:
Thiệt ngươi đãng trí quá, ngươi không biết cái y truyền cho ngươi là giống gì sao?
Nó đâu phải y áo phàm Tăng, mà nó là tấm Đại Y ngày Thế Tôn mới thành Đẳng Chánh Giác, chư thiên Đao Lợi cúng dường...
Loại y này là Vô Tướng Y, còn cái Bát là Vô Tâm Bát do công đức làm thành. Vì thế hai món này còn có tên Vô Vi Tín Bảo.
Nó đâu phải thứ y làm bằng vải Sa Tanh của bọn A Phú Hãn, làm gì bốc mùi được!... Cái mùi ngươi nghe hồi nãy là của bọn phàm phu trong chùa hai ngày qua tĩnh tu chưa tắm giặt nên có mùi lạ lạ... Thiệt ngươi đã lẩm cẩm rồi... Tội nghiệp cho ngươi!... Tội nghiệp!... Tội nghiệp!...
Huệ Năng nghe mấy lời này, như Cam Lồ chảy vào tâm, mới nhớ lại chuyện chiếc y đã nghe kể rồi mà nay tự nhiên quên khuấy...
Lục Tổ lại đảnh lễ ba lần xin thưa chuyện chiếc y.
Sơ Lão Tổ Tông bảo:
Ta biết, ta biết!... Lo xa như ngươi là phải, là phải!...
Hễ vật quý trên đời, sớm muộn cũng có ngày bọn nó dòm ngó, chôm chỉa, đem về làm của riêng, khoe với hàng xóm cho oai... chớ ăn uống gì được!...
Nay ngươi còn khỏe mạnh, ngủ thức giữ gìn nên y không mất.
Một mai, ngươi đổ đau nằm đó, ai kẻ giữ y? Thứ này nếu bọn trọc phú nghe được, giá nào cũng kiếm cách sở hữu...
Đến hồi đó, đám đệ tử của ngươi có đứa nào đáng tin cậy?
Huệ Năng nghe lời này như cởi tấc lòng bèn lần nữa ba lần đảnh lễ rồi tuyên Phật hiệu:
Mô Phật!... Mô Phật!... Mô Phật!... Sơ Lão Tổ Tông nói phải, nói phải!...
Để tránh cái họa mất y, không lỗi với các Lão Tổ Tông xin Sơ Lão Tổ Tông mách nước.
Sơ Lão Tổ Tông cười khà một tiếng rồi nhìn quanh bốn phía, xem coi có kẻ nào nghe lén hay không? Khi quan sát kỹ lưỡng biết không có ai, Sơ Lão Tổ Tông bèn hạ giọng nói với Huệ Năng, mật ý Đại khái như sau:
Ta sống ở Trung Thổ nhiều năm, tiếp xúc với nhiều hạng người, thượng vàng hạ cám nên mánh lớn mánh nhỏ của bọn này ta rành sáu câu.
Ngươi chỉ được Phật Pháp tinh thông nhưng thế pháp dở bẹt.
Để ta nói cho ngươi nghe, “binh bất yếm trá”. Ngày xưa Triệu Đà của xứ này đã từng dùng chước này qua mặt bọn Giao Chỉ cái một.
Sao nay ta không dùng chước ấy để giữ y, khiến bọn chúng “mắc hỡm” một phen coi như “gậy ông đập lưng ông”.
Nghỉ lấy hơi rồi Sơ Lão Tổ Tông nói tiếp:
Nhân đây để bọn Trung Thổ trả cái nghiệp “làm hàng giả”, một công hai chuyện, không mất y lại đặng phước lớn.
Chu choa!... Chu choa!... Tội nghiệp!... Tội nghiệp!... “Khổ hải vô biên, hồi đầu thị ngạn!...” Mô Phật!... Mô Phật!...
Huệ Năng nghe đến đây, mới biết Lão Tổ Tông cơ trí hơn người, hèn chi đôi giày chỉ mất một chiếc. Quá phục!... Quá phục!...
Sơ Lão Tổ Tông lại kề tai nói nhỏ với Lục Tổ rằng:
Ta đã có dự tính từ lâu, nay ta đem y về Đao Lợi, sau này kẻ có duyên sẽ được. Tiện đây ngươi cất “phiên bản” rồi cứ thế!... Cứ thế!...
Nghe chưa dứt câu “Cứ thế!... Cứ thế!...” Huệ Năng ngẩng đầu lên chỉ thấy “một vầng mây trắng bay”... và cái y mới cáu cạnh không phải đồ “second hand”[1] đang đặt trước mặt...
Theo Pháp Bảo Đàn thì cái y này trước khi viên tịch Lục Tổ ngậm ngùi xé làm ba, một cho Phương Biện, một để ở chùa, một liệm theo người... Còn cái Vô Tướng Y và Vô Tâm Bát thì còn nguyên ở trời Đao Lợi do Sơ Lão Tổ Tông mang lên đó... Đời sau mới có kệ rằng:
“Đao Lợi Vô Tướng Y
Hoa Nghiêm Long Cung hữu
Dị nhân đồng dị tuệ
Tiếp y tức y chỉ.”
Người sau vô trí nghe bốn câu này nhưng chẳng biết mô tê gì hết là vậy.
---∙∙∙⁕⁕ ⁕ ⁕ ⁕⁕∙∙∙---
Cơ duyên (2) “BẤT ĐỘNG HÝ TIẾU”
Lại cơ duyên như vầy:
Cơ duyên này cũng không kém phần “tiếu lâm” và thuộc loại “bất khả lậu” nên khi nghe đến cũng chỉ nên dùng tâm bất khả lậu và máu hài hước mà đọc.
Càng gởi gắm cái “hài hước” chừng nào, mau thành tựu tâm pháp chừng đó.
Cảnh giới này gọi là “Bất động hý tiếu”. Nếu hý tiếu mà động thì hý tiếu này thuộc phàm phu, không có phần ở đây.
Vì thế mới có thơ rằng:
“Tây phương Di Lặc kha kha tiếu
Đông Thổ ha ha khải tâm hoa.”
Đó là nghĩa gì?
Nghĩa là nơi Phật quốc ngài Di Lặc há miệng cười vài tiếng.
Ở hạ giới ai đón nhận trọn vẹn tiếng cười này mà không động lay nhất định hoa lòng sẽ nở, hãy đợi đấy (chữ khải là nghĩa này)!...
Viết đến đây lại có khách đến viếng, nên tạm gác phần tâm pháp lại, bèn mở tâm ngôn cho thỏa lòng chủ khách.
- Như thế nào là Tam Bảo tự tâm?
Giác là Phật, trí là Pháp, thanh tịnh là Tăng.
Giác là Phật, thanh tịnh trí là Pháp, ai có đủ hai điều này gọi là Tăng.
- Sao gọi là biết, sao gọi là hiểu biết?
Hiểu là tri, biết là giác.
Hữu tình có hiểu có biết gọi là có tri có giác.
Tri (hiểu) thuộc về thức (ngã), giác thuộc về biết, cái biết chưa từng bị biết nên biết này vô ngã.
Cho nên kinh nói: “Tri kiến lập tri tức vô minh bổn” có nghĩa lấy cái hiểu làm cái biết tức thì trở thành vô minh.
Cái biết (giác) tự nó thanh tịnh.
Cái hiểu sanh ngã (có chủ thể đối đãi) nên sanh tâm.
Cho nên Phật được gọi là bậc Đại Giác, không ai gọi là bậc Đại Tri Giác. Có nghĩa…
Phật biết, biết rõ chứ không phải hiểu.
Biết, biết rõ tạm gọi là thấy thiệt tướng.
- Như vậy hiểu (tri) do đâu thành lập?
Hiểu do nghiệp, do huân tập mà thành...
- Như vậy biết (giác) do đâu thành lập?
Giác không do đâu, không do đâu nên gọi tự giác.
- Công dụng của giác?
Cái biết (giác) là thường nên không rơi vào đoạn diệt.
- Xin nói rõ về giác?
Cố nói điều này giống như con mắt cố nhìn con mắt, tuy vậy cũng tạm ví dụ như vầy:
Thấy cái đèn, biết đó là cái đèn, biết này thuộc về giác.
Thấy cái đèn, hiểu rõ cái đèn có tướng trạng thế này thế kia... và các giá trị không thật đi kèm gọi là hiểu (tri).
Tướng trạng cái đèn và các giá trị quanh nó thế này hoặc thế kia do huân tập mà có, do tướng đối đãi mà hiện.
Hiện này gọi là sanh pháp.
- Cái giác cũng do huân tập mới biết tên là “đèn”?
Cũng huân tập, cũng không huân tập.
Nói huân tập vì thuận theo “thế đế lưu bố”. Nếu không có thế đế, giác kia tịch diệt.
Giống như cái trống có đánh có kêu, không đánh không kêu, chỗ này phải khéo hiểu... Người trí, nhân ví dụ mà hiểu... Trống không huân tập tiếng kêu nhưng đánh lại kêu...
Vì thế kinh Lăng Già Phật dạy: “Phàm nói trâu, thánh cũng nói trâu. Thánh nói trâu do thế đế lưu bố, phàm nói trâu do thế đế lưu bố có tưởng chấp trước”, chính “tưởng chấp trước” là đầu mối phát sinh vọng tình, từ vọng tình khởi ra vọng tưởng, nhân vọng tưởng có vọng tâm, có vọng tâm có phiền não sanh diệt...
Dòng tâm thức niệm niệm sanh diệt không ngừng, kinh gọi là “chư hành vô thường...”.
- Làm sao dừng tâm thức?
Phải giác được “bổn lai vô sanh.”
Phải ngộ được “tự tâm tự tịnh.”
- Thế nào là “giác bổn lai vô sanh”?
Thấy cho được giác này chưa từng sanh.
- Thế nào “ngộ tự tâm tự tịnh”?
Đối trước muôn cảnh biết rõ cảnh kia mà tâm không động lay, không động gọi là tịch, không lay gọi là tĩnh.
Thường tịch thường tĩnh, không thấy tịnh cùng bất tịnh gọi là thanh tịnh.
Mời uống trà!...
---∙∙∙⁕⁕ ⁕ ⁕ ⁕⁕∙∙∙---
Khi chiều lại có người hỏi:
- Vì sao Sơ Lão Tổ Tông đem y cất ở Đao Lợi, mà không để ở Đâu Suất?
1) Vì y chỉ là tín vật của phàm nhân cõi dục, cụ thể là con người.
2) Đao Lợi là nơi người trong cõi dục có thể đến được.
3) Nếu để ở Đâu Suất “người hữu duyên” sẽ không thể đến đó được, làm sao thấy mà lấy.
4) Còn để ở cõi dưới như Tứ Thiên Vương thì nhiễm dục nặng nề, giác quán do dục, không lấy được y.
5) Để ở cõi sắc không có giác quán thì lấy y mà làm gì!...
6) Lại nữa, ở Đâu Suất thiên hạ thừa y...
- Vì sao người cõi dục cần y làm tín vật còn cõi khác thì không? Vì ba trợn vậy!...
--∙∙∙⁕⁕ ⁕ ⁕ ⁕⁕∙∙∙---
Cơ duyên (3) ĐẤT “HOA THỊ” VÀ NƯỚC “THIÊN HOA”
Lại tiếp chuyện cơ duyên:
Khoảng bảy trăm kiếp tính bằng lịch Đao Lợi, từ khi Sơ Lão Tổ Tông đem Y về đó. Y để ở Tu Di sơn, bát để ở Hỷ Kiến thành nhờ Đế Thích trông coi.
Gởi gắm xong rồi, Sơ Lão Tổ Tông trở về Đâu Suất nội viện thăm hỏi hàn huyên với các Lão Tổ Tông, ăn bánh uống trà... Chờ điều công tác khác...
Nam Diêm Phù Đề có nước vừa vừa tên Thiên Hoa, nước này Đông giáp biển Tây giáp núi, ở giữa đồng bằng. Trên rừng dưới biển khoáng vật vô số. Núi rừng thì có trầm, kỳ, ngà, quế... Biển sâu đầy rẫy san hô, hổ phách, ngọc trai châu báu... Trung du trên lúa dưới vàng... Chính phước lớn này mà Thiên Hoa thường bị bọn tham lam ở ngoài dòm ngó. Vì thế xưa nay hay có loạn lạc.
Miền nam Thiên Hoa, khoáng vật không nhiều nhưng nhờ phước trời, hai mùa mưa thuận gió hòa.
Nhằm năm Nhâm Ngọ tiết Xuân Phân, không biết ở đâu có chín con rồng bay lại. Trong chín con có bảy con cái cùng hai con đực. Chúng vần vũ trên cao một hồi rồi chụm đầu vào nhau theo hình rẻ quạt, lăn mình xuống đất khói bụi mịt mù, đất trời hôn ám, tiếng vang dậy trời suốt chín ngày chín đêm...
Nửa đêm thứ chín, tự dưng bốn bề vắng lặng. Sáng ra, người gan lớn mới dám bước ra ngoài.
Trên cao nhìn xuống, nơi chín con rồng quẫy đập chỗ sâu nhất độ ba mươi trượng. Chỗ cạn mười trượng, bề rộng ước non năm mươi trượng. Chín con dài ngắn không đồng. Con dài nhất từ biển chạy đến gần cuối Tây Diêm Phù. Con ngắn nhất cũng non cả trăm do tuần.
Bảy con rồng cái đẻ được bảy quả trứng ở hướng Tây. Hai con đực nhả hai hòn ngọc, một ở cuối Đông và một ở Tây Nam... Từ đó, vùng đất này có tên Hoa Thị...
Một trăm ngày sau, một trong bảy quả trứng phát ra tiếng nổ lớn, trên vang đến Hữu Đảnh dưới thấu đến A Tỳ. Từ miệng quả trứng, một cục đen thùi lùi bay ra, rơi xuống nơi giao đầu của chín con rồng. Sau một trăm ngày chỗ chín con rồng giao nhau đất tự nhiên bằng phẳng, cây cỏ tốt tươi, dân cư đến ở nhà cửa mọc lên. Người ta gọi đó Long Giao. Làng Long Giao rộng ước cả ngàn sân bóng đá.
Cũng trưa hôm ấy, cái bữa cục đen thùi lùi bay đến Long Giao. Cô thiếu nữ đẹp nhất trong thôn bị cục đen thùi lùi rơi trúng. Đau quá, giật mình tỉnh giấc, thì ra “mơ giữa ban ngày” và thiếu nữ có thai...
Từ đó về sau, Long Giao trở nên đông đúc, đời sống phồn vinh, xét qua Nam Diêm Phù không có nơi nào sánh bằng!...
Tối ngày sáng đêm, trẻ con tóc chỏm ba giá, chúng tụ tập với nhau hát đồng dao, bài hát thế này:
“Chín rồng mà trồng bảy núi
Bảy núi là muội là huynh,
Cục đen sinh ra Lão Tổ.
Lão Tổ từ chỗ cục đen.
Trong bùn lại mọc bông sen.
Có ai ngờ được... “cục đen thùi lùi”.
Bên nào trắng, bên nào đen...”.
Còn người lớn thì, lúc nào trong lòng cũng thơ thới, gặp nhau hát hò ngâm vịnh, họ truyền tụng bài thơ dở bẹt như sau:
“Ta sẽ đưa nhau về nơi “chín dòng sông hò hẹn”!...
Nhìn dòng sông xưa lững lờ, bền bỉ, trăng theo nước trôi xa.
Và âm thầm, rất đỗi phù sa.
Lặng lẽ tháng ngày dắt dìu nhau, dắt dìu nhau vào miền đất mới.
Đưa nhau đến cái thuở đất trời chưa có đông, chưa có hạ,
Chưa có tang thương, cũng chưa có tiếng cười.
Cái thuở hồn nhiên như con sáo lưng trời
Như con bìm bịp kêu, kêu theo nước ròng nước lớn.
Có ai biết vòng đời con phù du cũng đủ đầy danh lợi!...
Cũng giành giật nhau kiếm chỗ một bóng đèn.
Rồi vô tình rớt xuống trong đêm.
Rốt lại một đời, chỉ là con phù du, con phù du bay mau trong gió.
Ta sẽ đưa nhau về chín con sông hồn nhiên ngày cũ.
Nghe tiếng ầu ơ!... Như trăng sáng đầu thôn.
Con vạc thảnh thốt ngâm, cùng hạc nội mây ngàn,
Cái thanh thản một đời, một đời rồi trở thành bất tử...
Như mặt trời, như hư không vĩnh cửu,
Chẳng có sanh ra cũng chẳng có mất đi.
Ai bảo rằng em, rằng tôi, rằng chúng ta đồng những kẻ thị phi?
Chỉ tại họ không biết cái nơi, cái nơi, cái nơi... đã rời xa mộng mị.
Đưa nhau đến những dòng sông lững lờ, nhưng rất đỗi thương yêu bình dị.
Vẫn lặng lẽ chở phù sa, như bóng nắng xế chiều...
Rọi xuống hàng dừa, rọi đến cõi tịch liêu.
Đong đưa từng kẽ lá... nhìn chiếc bóng gầy.
Cùng nhau thưa cụ ạ!…”
Đố là con gì? Đó chính là... là... là con cá!...
---∙∙∙⁕⁕ ⁕ ⁕ ⁕⁕∙∙∙---
Chiều nay lại có khách, bèn tạm đóng tâm pháp, khai ngôn pháp.
Ngôn pháp như sau:
- Tánh Giác và Tự Tánh khác nhau chỗ nào?
Tự Tánh là thể, Tánh Giác là dụng.
- Tri và Giác sai khác, như vậy ba thừa và Nhất thừa chỗ dụng có khác chăng?
Phàm phu lấy tri làm giác, ba thừa tịch tri nhưng chưa kiến giác, Nhất thừa đạo kiến giác, Bồ Tát Nhất thừa (Phật thừa) liễu giác.
- Như vậy có phải hễ ai thấy (kiến) Giác được gọi Nhất thừa?
Hiểu như vậy cũng đúng cũng không đúng, Như thấy ruộng nói có lúa.
- Thế nào đúng thế nào không đúng?
Thấy Tánh giác (kiến Tánh) là thấy Nhất thừa đạo (con đường đến Nhất thừa).
Liễu giác (thấy Phật Tánh) mới đến được Nhất thừa (gọi là người Nhất thừa).
Vì thế có thể tạm nói: “Tánh giác là nhân, Phật Tánh là quả” (Phật đạo là nhân, Phật quả là quả).
- Xin nói rõ!...
Ví như lên xe đi Sài Gòn là Sài Gòn đạo lộ (con đường đến Sài Gòn). Đến được Sài Gòn mới gọi người ở Sài Gòn (con người Sài Gòn).
- Như vậy theo Phật đạo là theo con đường nào?
Theo Phật đạo là đi theo con đường Phật đã đi (tu hành) để đến Phật quả.
Không phải đi theo con đường của Phật đi sau khi Phật đã thành (49 năm hoằng hoá).
- Vì sao? Vì con đường của một Đẳng Chánh Giác đi, trong ba cõi không một ai có thể biết được.
- Có kinh nào tuyên nói việc này (Tánh Giác và Phật Tánh)?
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa khai cho ba thừa (Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát Quyền Thừa) đã chứng thánh thấy Tánh Giác (Phật trí).
Kinh gọi là “khai thị”. Giống như chỉ cho kẻ say biết trong chéo áo của mình có hạt minh châu.
Ba thừa chưa chứng Thánh chưa thể chỉ, vì thế 500 gã tăng thượng mạn phải đi chỗ khác chơi.
Kinh Đại Niết Bàn chỉ chỗ ngộ nhập Phật tri kiến (Phật Tánh) cho Bồ Tát Nhất thừa. Giống như bày cách cho kẻ đã hết say sử dụng hạt minh châu.
- Vì sao không bày liền trong Diệu Pháp Liên Hoa mà phải đợi đến kinh Đại Niết Bàn mới tuyên nói giá trị và cách sử dụng?
Vì người kia chưa tỉnh hẳn, chưa đủ trí lực nhận biết rõ ràng, chưa đủ năng lực giữ gìn sẽ mất... Vô số, vô số điều chưa thể nói...
- Ba thừa đã chứng Thánh sao lại dụ như kẻ say, dụ như gã cùng tử?
Phàm phu say mê, Ba thừa chứng Thánh hết mê nhưng còn say nên dụ người say.
Ba thừa chứng thánh đói nghèo trí tuệ, nên phải làm mướn (dùng phương tiện) để xin hạt gạo Niết Bàn, nên dụ cho cùng tử.
- Nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa chỉ mới khai thị sao lại có phẩm Thường Bất Khinh?
Chỉ mới khai thị nên Thường Bất Khinh mới nói: “Các ông sẽ làm Phật”. Nếu đã ngộ nhập thì Thường Bất Khinh nhất định sẽ nói là: “Các ông đang là Phật”...
- Như vậy các Bồ Tát thấy Phật Tánh (Phật tri kiến) đồng Thích Ca Mâu Ni vì câu “Các ông đang là Phật”?
Không đồng, quyết không thể đồng.
- Vì sao?
Thích Ca Mâu Ni có đến mười danh hiệu, gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Nói Phật chỉ là một danh hiệu trong mười danh hiệu, còn thiếu đến chín, vì thế quyết không thể đồng.
- Biết được tri là chướng giác, thì lấy gì hộ trì để tri không hiện?
Như đã nói, phải Giác Ngộ.
- Ngoài ra còn cách nào khác nữa không?
Còn cách, đó là tự dọn con đường giác ngộ bằng cách tu hành viên mãn “Tứ như ý túc”, sau đó dùng “Bất cộng phàm phu pháp” mà vào.
- Xin nói rõ!...
Tức phải viên mãn Nhất tâm như ý túc và Niệm như ý túc. Tất nhiên là Dục như ý và Tinh tấn như ý cũng phải viên mãn.
Nhất tâm như ý để dừng hiện nghiệp, Niệm như ý để tịnh tri.
Sau khi tịnh tri, vị này dùng Bất cộng phàm phu pháp để kiến Giác.
- Bất cộng phàm phu pháp là những pháp nào?
Tư duy đến khi nào biết rõ pháp nào là pháp “Phàm phu”, thì sẽ biết pháp “Bất cộng phàm phu”.
- Xin nói rõ!...
Nói nghe hiểu được ngay bây giờ đều là phàm phu pháp.
Cái này chỉ “tự thầm hội”, nói ra “mất linh”...
- Tứ như ý túc và Tứ thần túc là giống hay khác?
Tứ như ý túc để chứng Thánh.
Tứ thần túc để viên mãn pháp lành.
- Sao Phật không nói liền Nhất thừa mà phải nói ba thừa trước?
Như làm cỏ trước khi gieo giống. Vì thế Phật thường hay nói: “Ba thừa không thật” là vậy, có nghĩa làm cỏ không phải gieo giống.
- Ba thừa đồng viên mãn Tứ như ý túc sao không nhân đó kiến Tánh?
Tùy duyên, tùy căn, tùy cơ... Không nhất thiết Ba thừa không kiến Tánh, cũng có như Đại Ca Diếp hoặc A Nan chẳng hạn...
- Bồ Tát, Đại Bồ Tát, Bồ Tát Quyền thừa và Bồ Tát Nhất thừa khác nhau chỗ nào?
Bồ Tát hay Bồ Tát Quyền thừa là những người phát tâm Bồ Tát nhưng còn phải kinh qua phương tiện tu hành như Nhị thừa, trí tuệ chưa đủ.
Đại Bồ Tát hay Bồ Tát Nhất thừa (còn gọi Phật thừa) là những Bồ Tát viên mãn trí tuệ, nhưng công hạnh chưa viên.
- Bồ Tát thập trụ khác Bồ Tát Thập địa chỗ nào?
Thập trụ thấy Tánh Giác, thập địa thấy Phật Tánh.
Vì thế trong kinh Đại Niết Bàn Phật nói Bồ Tát thập trụ thấy Phật Tánh lờ mờ, có nghĩa Thập trụ thấy Tánh Giác tưởng lầm Phật Tánh.
Thập trụ lấy Tánh giác làm nhân địa tu hành. Thập địa lấy Phật Tánh làm nhân địa giáo hoá...
- Người tu hành y vào đâu để biết là đã thấy tánh?
Thấy Tánh tự biết, tự hết ngu si. Bậc Đạo sư nhất định biết, vì thế không thể dối điều này!...
Cơ duyên (4)
Bây giờ lại tiếp tục nói chuyện cơ duyên:
- Vì sao cơ duyên phải nói nhiều đến thế?
Dư hơi à!...
Không phải dư hơi!... Vì bởi, cơ duyên chính là đầu mối phát sinh mọi việc.
Nói cơ duyên sao phải đề cập đến nước Thiên Hoa?
Vì bởi cơ duyên có được tâm pháp và tâm pháp đang tồn tại trên đất này.
Nước Thiên Hoa hồi đó có hình chữ nhật theo đúng định nghĩa toán học cổ xưa là: Hai cạnh dài bằng nhau, hai cạnh ngắn cũng bằng nhau và có bốn góc vuông.
Giữa Thiên Hoa có một đạo lộ chạy suốt chiều dài từ Bắc đến Nam ước chừng 2400 do tuần, lưu thông Nam Bắc dễ dàng.
Như đã kể lúc trước, Thiên Hoa Đông giáp biển Tây giáp núi. Đứng ở núi phía Tây có thể thấy biển phía Đông.
Năm Giáp Ngọ tiết Trung Thu, cách ngày cái cục đen thùi lùi xuất hiện ở phương Nam đúng một con giáp tức mười hai năm theo lịch Diêm Phù.
Khoảng gà gáy canh tư bước sang canh năm năm ấy. Từ biển Đông khoảng giữa nước Thiên Hoa, một ông khổng lồ dưới biển bước lên. Ông khổng lồ thân hình cao lớn, đầu đụng mây xanh. Trên vai có chiếc đòn gánh dài rất dài, người mắt sáng cũng chỉ thấy một khúc chớ không thể thấy cả cây. Hai đầu đòn gánh treo hai cái thúng chừng bằng hai quả núi lớn...
Người khổng lồ một chân trụ ở mé biển, còn chân kia cất cao bước lên ngọn núi phía Tây. Không biết vô tình hay cố ý, người khổng lồ khi bước lên mất đà nên chân trụ không vững làm chiếc đòn gánh nhịp mạnh. Hai cái thúng ở hai đầu rung lắc dữ dội. Người khổng lồ cố đạp mạnh chân trụ để khỏi ngã chúi về phía trước. Càng đạp cho vững thì đất dưới chân càng lún xuống. Cứ thế đất ngày lún một rộng một sâu, nước dưới biển tràn vào chỗ trũng kêu ầm ầm. Địa Đại chao đảo dữ tợn. Khi lún chừng đến bụng, thì cái hình chữ nhật nguyên thủy của nước Thiên Hoa biến dạng. Đầu phía Bắc do đất ở giữa trào ra nên phình lớn. Đầu phía nam cong queo như cái lưỡi hái. Ở chính giữa nước Thiên Hoa nơi người khổng lồ đang đứng teo riết lại giống cái eo người thiếu nữ.
Hình như đoán được nếu cố sức thoát cho khỏi lún mà còn đôi thúng trên vai thì chuyện không thể được. Nên người khổng lồ lấy hai tay dùng hết sức bình sinh, tung mạnh đôi gánh lên trời. Một tiếng rắc nghe như tiếng gãy quả núi. Chiếc đòn gánh gãy đôi, hai cái thúng bị hất bay lên cao rồi rơi xuống. Nơi nào rơi nhiều thành núi, rơi ít thành đồi... Từ đó nước Thiên Hoa có hình dạng như người thiếu nữ đang nằm, đầu hướng về Bắc, mặt quay về Đông. Phía Tây có dãy núi xanh chạy dài đến tận hai phần thân nom như làn tóc xõa. Còn ở giữa eo thắt lưng ong... Phía Nam giống đôi bàn chân thon thon...
Người khổng lồ đề khí nhún chân bay cái vút lên tận trời xanh rồi mất hút giống như người ta phóng con tàu vũ trụ. Chỗ gãy của chiếc đòn gánh có một thiếu niên mặt đẹp như Phan An, quần áo toàn xanh, đôi giày cũng xanh, đội mũ màu xanh, nước da trắng như tuyết từ chỗ gãy bước ra. “Nhoẻn miệng cười một cái coi”, không chào không hỏi ai hết trơn, cứ nhằm phương Nam trực chỉ...
(còn nữa)