Tác Phẩm Lý Tứ

CBL.46 - Muốn Học Phật Phải Bắt Đầu Từ Đâu

MB 857 Lý Diệu Sinh 23.08.2025

Sau khi biết về Phật đạo và các mục tiêu của đạo pháp đề ra. Người học phải nhất tâm tinh tấn cầu học, và sống đúng với tinh thần giáo pháp như những gì đã học.

Các bạn!

Mấy ngày qua, mình nhận được thắc mắc của bạn đọc Lại Văn Duyệt ở Bình Dương. Đây là thắc mắc đầu tiên của năm 2025 từ bạn đọc gửi về chuyên mục.

Thắc mắc của bạn ấy gửi vào ngày 06/01/2025 lúc 14:22:42 đến nay đã 14 ngày. Rất tiếc, những tuần vừa rồi bận quá, nên chưa thể hồi đáp. Lời đầu tiên, thành thật xin lỗi Lại Văn Duyệt vì chậm trễ này, và cảm ơn bạn đã tin tưởng, gửi các thắc mắc về chuyên mục sớm nhất năm 2025.

Nội dung thắc mắc như sau:

“Muốn học Phật phải bắt đầu từ đâu? Làm sao để phân biệt đâu là chánh pháp khi mà có quá nhiều tông phái, pháp môn? Người ở tại gia sau khi biết về đạo Phật thì tu và áp dụng vào cuộc sống như nào cho phù hợp? Con xin cảm ơn ạ” 

06/01/2025 14:22:42 
Lại Văn Duyệt - Bình Dương

*****

Lại Văn Duyệt và bạn đọc thân mến.

Về những thắc mắc của bạn, mình xin tạm chia thành ba ý rồi lần lượt trả lời như sau:

- Hỏi:

1- “Muốn học Phật phải bắt đầu từ đâu?”

- Trả lời:

Thông thường mọi người muốn học tập giáo pháp của đức Phật. Người này cần đến các nơi giảng dạy Phật pháp để học tập. Ở đó, tuỳ vào giáo trình giảng dạy, người ta sẽ cho học viên biết việc học tập cần bắt đầu từ đâu.

Còn những người tìm kinh sách để tự học thì, có thể tìm kiếm các cuốn sách mang tính cơ bản về Phật đạo để nhận ra ta phải bắt đầu từ đâu.

- Hỏi:

2- “Làm sao để phân biệt đâu là chánh pháp khi mà có quá nhiều tông phái, pháp môn?”

- Trả lời:

Một pháp, một con đường, một hành động v.v... tự nó không có tính chất chánh hay tà. Chỉ khi nào ta xác định mục tiêu của ta muốn đạt được so với pháp ấy, con đường ấy, hành động ấy v.v... là gì? thì, bây giờ pháp ấy, con đường ấy, hành động ấy. Mới có ý vị chánh hay tà.
 

Vì thế, muốn biết rõ việc dạy và học Phật pháp từ một nơi nào đó có đúng chánh pháp hay không. Người học cần thực hiện hai bước quan trọng sau.

Nếu nơi nào giúp ta thoả mãn hai bước này thì, có thể coi việc dạy và học ở nơi ấy đúng chánh pháp.

* Bước thứ nhất: Bản thân cần tìm hiểu xem, các mục tiêu của Phật đạo là gì? Mỗi một mục tiêu giúp ta giải quyết điều gì trong cuộc sống, và đạt được thành quả nào trong đạo pháp.

Nếu xét thấy các mục tiêu và thành quả đó phù hợp với tâm nguyện của mình thì tiến hành bước tiếp theo.

* Bước thứ hai: Sau khi biết rõ các mục tiêu của giáo pháp và nhận ra rằng, các mục tiêu này phù hợp với tâm nguyện của mình. Người học hãy tìm đến những nơi nào giúp ta hoàn thành các mục tiêu ấy mà học tập.

Nơi nào giúp ta thành tựu các mục tiêu giáo pháp đề ra, nơi ấy có thể coi là chánh (danh xưng không quan trọng). Còn nơi nào không giúp ta đạt được những yêu cầu nêu trên thì, cần coi lại.

- Hỏi:

3- “Người ở tại gia sau khi biết về đạo Phật thì tu và áp dụng vào cuộc sống như nào cho phù hợp?”

- Trả lời: 

Sau khi biết về Phật đạo và các mục tiêu của đạo pháp đề ra. Người học phải nhất tâm tinh tấn cầu học, và sống đúng với tinh thần giáo pháp như những gì đã học.

Hy vọng, trả lời vừa rồi có thể giúp Lại Văn Duyệt và bạn đọc nhận ra các mục tiêu của giáo pháp là gì, đồng thời tìm được nơi có thể giúp mình hoàn thành các mục tiêu ấy.

Chúc Lại Văn Duyệt và bạn đọc an vui, hạnh phúc, thành đạt sở nguyện.

20/01/2025

LÝ TỨ

Tác Phẩm Lý Tứ

CBL.45 - Làm Thế Nào Để Tìm Ra Tinh Yếu Của Phật Đạo Từ Kinh Điển?

MB 857 Lý Diệu Sinh 23.08.2025

Kinh điển nhà Phật nhiều vô số, mỗi một nhóm kinh trong vô số ấy sẽ dành cho một trình độ cụ thể. Vì thế trong nền giáo dục Phật đạo, tuỳ trình độ, tuỳ cấp lớp v.v... người học sẽ được vị Thầy hướng dẫn đọc một số kinh phù hợp, nhờ đọc kinh phù hợp với cấp lớp, người học mới có cơ hội thành tựu những mục tiêu đã đề ra.

Các bạn!

Trong tuần, Ban quản trị đã nhận được một số câu hỏi của bạn đọc Minh An ở Bình Dương. Nội dung các câu hỏi như sau:

“Dạ con kính ơn Thầy đã cho con được rõ phần nào về một vị Phật rất chân thật mà không huyền bí, mơ hồ trong con bấy lâu nay. Lần này, xin Thầy cho con được hỏi:

1- Được đọc sách, nghe giảng, xem lược sử đức Phật v.v... con đều thấy có điểm tương đồng là Phật vừa sanh ra đi 7 bước, nở 7 đóa sen? Thân tướng có phần thịt nhô lên trên đầu gọi là “nhục kế”. Cái này có vẻ khác người bình thường, vậy có phải đây chỉ là cách viết gì đó cho siêu việt, giúp có sự tôn kính, động lực để người tu học cố gắng, hay là vì điều gì bí ẩn mà có cách nói như vậy? Những điều khác biệt một người bình thường như vậy có thật không? Nếu không thật thì vì sao lại nói như vậy để làm gì? Sao không nói đúng y như thật về tướng mạo thái tử Siddhartha ở Ấn Độ lúc bấy giờ?

2- Cách nói khác thường này có ảnh hưởng đến ý nghĩa, lời dạy, mục tiêu v.v... của giáo pháp đang truyền thừa cho đến bây giờ?

3- Làm thế nào để tìm kiếm, nhận ra tính xác thực, chắt lọc tinh yếu thông qua những lời kinh khác thường như 
vậy, để bản thân yên tâm nương vào đó mà học tập, hầu tìm ra con đường thực hành đi đến giác ngộ viên mãn như thái tử Siddhartha?

Dạ con kính ơn Thầy và cô chú anh chị trong Ban Quản Trị ạ!” 

03/12/2024 10:04:04 
Minh An - Bình Dương

*****

Minh An và bạn đọc thân mến!

Về các câu hỏi của Minh An, mình xin được trả lời như sau:

- Hỏi:

1- “Được đọc sách, nghe giảng, xem lược sử đức Phật v.v... con đều thấy có điểm tương đồng là Phật vừa sanh ra đi 7 bước, nở 7 đoá sen? Thân tướng có phần thịt nhô lên trên đầu gọi là “nhục kế”. Cái này có vẻ khác người bình thường, vậy có phải đây chỉ là cách viết gì đó cho siêu việt, giúp có sự tôn kính, động lực để người tu học cố gắng, hay là vì điều gì bí ẩn mà có cách nói như vậy? Những điều khác biệt một người bình thường như vậy có thật không? Nếu không thật thì vì sao lại nói như vậy để làm gì? Sao không nói đúng y như thật về tướng mạo thái tử Siddhartha ở Ấn Độ lúc bấy giờ?”

- Trả lời:

Kinh điển ghi lại, Phật có ba thân gồm:

a) Báo thân (nhục thân): Thân từ cha mẹ sinh, giống như mọi người Ấn Độ thời bấy giờ. Thân này vô thường, bị chi phối bởi quy luật sanh già bệnh chết. Những người sinh ra cùng thời với thái tử Siddhartha, nếu đủ phước duyên sẽ nhìn thấy hay trực tiếp gặp vị thái tử này.

b) Hoá thân: Thân này do công đức sanh, có đầy đủ 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp tuỳ hình. Thân này vừa hữu vi vừa vô vi, cũng thường cũng vô thường. Đây là thân tướng mà ta thấy mô tả trong kinh đại thừa (giống những gì bạn đã hỏi) như nhục kế (trên đỉnh đầu), quảng trường thiệt tướng (lưỡi rộng dài), thiên bức luân (bánh xe ngàn căm dưới chân) v.v...

Muốn thấy được thân này, người tu hành phải hội đủ công đức, không đủ công đức thì không thể thấy. Không đủ công đức, người ta chỉ có thể hình dung hóa thân Phật thông qua lời kể từ kinh điển hoặc hình ảnh do người sau căn cứ vào những gì kinh điển ghi lại rồi đắp thành tượng hoặc vẽ ra hình.

Mỗi một tướng tốt trên hoá thân “hàm ý” cho công đức cao tột của từng món như, tướng nhục kế ám chỉ công đức phát ra từ trí tuệ Bát Nhã cao hơn mọi thứ trí thế gian, tướng lưỡi rộng dài ám chỉ công đức phát ra từ ngôn thuyết che trùm ba cõi, tướng thiên bức luân dưới hai bàn chân ám chỉ công đức chuyển pháp luân (thuyết pháp) là vô cùng v.v... Việc bạn hỏi câu chuyện vừa sinh ra đi bảy bước cũng là câu chuyện của hoá thân, không phải nhục thân.

c) Pháp thân: Thân này do trí tuệ sanh. Thân này hoàn toàn vô vi, như hư không nên thường trụ. Muốn thấy được pháp thân Phật, người tu hành phải thành tựu Bát Nhã trí.

Tóm lại, những gì ghi lại từ kinh điển về ba thân Phật được nêu ở trên, khi đọc lên Minh An và một số người xem là khác thường so với bình thường là điều dễ hiểu. Bởi, muốn thấy một thân nào đó trong ba thân Phật, người tu hành phải đạt được một số điều kiện nhất định, khi chưa đạt, nghe những điều kì dị hay bất thường như vậy đương nhiên hoài nghi sẽ khởi lên. Điều này cũng giống như một số giai thoại thời xưa kể rằng, khi có người xứ Ta sang Tây (nước Pháp) thấy đèn treo ngược vẫn cháy sáng, xe không có ngựa kéo vẫn chạy bon bon v.v... Khi người ấy về, bèn đem những gì đã thấy kể lại cho mọi người, khối người không tin, thậm chí còn cho đó là hoang đường, mê hoặc.

- Hỏi:

2- “Cách nói khác thường này có ảnh hưởng đến ý nghĩa, lời dạy, mục tiêu v.v... của giáo pháp đang truyền thừa cho đến bây giờ?”

- Trả lời:

Phật dạy: “Như Lai thuyết pháp, thượng trung hạ đều thiện”. Câu này có nghĩa, lời Phật tuyên thuyết đầu giữa cuối đều đưa người học đạt thành các mục tiêu của Phật đạo đề ra. Xưa nay, mọi truyền thừa trong Phật đạo đều căn cứ vào kinh điển.

Kinh điển nhà Phật nhiều vô số, mỗi một nhóm kinh trong vô số ấy sẽ dành cho một trình độ cụ thể. Vì thế trong nền giáo dục Phật đạo, tuỳ trình độ, tuỳ cấp lớp v.v... người học sẽ được vị Thầy hướng dẫn đọc một số kinh phù hợp, nhờ đọc kinh phù hợp với cấp lớp, người học mới có cơ hội thành tựu những mục tiêu đã đề ra.

Giống như trong giáo dục, tuỳ cấp lớp, thầy cô sẽ cho học trò đọc một số sách giáo khoa phù hợp. Giống như chữa bệnh, tuỳ quy trình chữa trị, thầy thuốc sẽ chỉ định bệnh nhân uống một số thuốc cần thiết trong từng giai đoạn. Việc ngồi nhầm lớp, đọc nhầm sách giáo khoa, uống thuốc mà không theo chỉ định, hoặc đọc kinh không theo trình độ. Nguy cơ đưa đến nghi ngờ, học không thành tài, cho ra các tác dụng phụ là điều hiển nhiên. Vì thế, những gì ta coi là khác thường trong kinh điển, nó lại là kim chỉ nam cho từng giai đoạn học tập mang giá trị truyền thừa từ xưa đến nay. Sở dĩ ta thấy có sự khác thường, chỉ vì cái ta căn cứ để so sánh không phải thứ nằm trong tiêu chuẩn của đạo pháp.

- Hỏi:

3- “Làm thế nào để tìm kiếm, nhận ra tính xác thực, chắt lọc tinh yếu thông qua những lời kinh khác thường như vậy, để bản thân yên tâm nương vào đó mà học tập, hầu tìm ra con đường thực hành đi đến giác ngộ viên mãn như thái tử Siddhartha?”

- Trả lời:
Muốn biết bơi, phải tìm người bơi giỏi để học. Muốn thấu hiểu giáo pháp, cần tìm người thông đạt cầu đạo. Muốn hết bệnh, nên tìm y sư lành nghề chữa trị. Theo mình, đây là cách tốt nhất “để bản thân yên tâm nương vào đó mà học tập, hầu tìm ra con đường thực hành đi đến giác ngộ viên mãn như thái tử Siddhartha?” mà Minh An đã nêu trong bài viết.

Hy vọng, những giải thích sơ lược vừa rồi, có thể giúp Minh An và bạn đọc nhận ra những điều được coi là “khác thường” trong kinh điển là gì.

Chúc an vui, tinh tấn.

Rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người.

04/12/2024

LÝ TỨ

Tác Phẩm Lý Tứ

CBL.44 - Mối Liên Hệ Giữa Tam Vô Lậu Và Tam Tướng

MB 857 Lý Diệu Sinh 23.08.2025

Tóm lại, tam vô lậu không phải là một pháp có đủ tam tướng (như bạn đã nêu). Mà, tam vô lậu là thứ “học pháp” mà, khi người học thành tựu học pháp ấy sẽ chứng thực bản chất của tam tướng là: Vô thường tướng (anicca–lakkhaa); Khổ tướng (dukkha–lakkhaa); Vô ngã tướng (an–atta–lakkhaa).

Các bạn!

Trong tuần, Ban quản trị đã nhận được một số câu hỏi của bạn đọc Lê Ngọc Tới.

Hồi chuyên mục “Bạn đọc hỏi – Lý Tứ trả lời” vừa ra mắt bạn đọc cách đây chừng 4 năm. Mình nhớ không lầm thì, giai đoạn ấy cũng có một bạn đọc đặt rất nhiều câu hỏi qua nhiều kì, cũng với tên Lê Ngọc Tới ở Hưng Yên.

Hôm nay nghe lại tên ấy, mình thắc mắc, không biết bạn đọc Lê Ngọc Tới gửi câu hỏi hôm nay có phải Lê Ngọc Tới của những ngày chuyên mục mới khai trương hay không? Nếu phải, thay mặt Ban quản trị, chân thành cảm ơn bạn đọc Lê Ngọc Tới đã có khoảng thời gian rất dài đồng hành cùng chuyên mục. 

Chân thành cảm ơn!

Các câu hỏi của bạn đọc Lê Ngọc Tới có nội dung như sau:

“Ngày nay trên mạng xã hội có rất nhiều các nhóm tu học Phật, nhóm nào cũng cho là đúng chính pháp của Đức Phật! 

Riêng tôi thấy, Nhóm Lý Gia rất hợp với pháp môn của mình. Vì tôi không phải là người ở trong nhóm, nên xin phép hỏi một số thắc mắc của người không có chuyên môn sâu, mong Quí ngài thông cảm!

Ở trong Phật Đạo có tam vô lậu học (GIỚI - ĐỊNH - TUỆ). Đây là một pháp có đủ tam tướng. Nếu trong pháp đó có đủ giới định tuệ và tam tướng thì sự thể hiện từ thấp đến cao như thế nào?

Sự liên hệ giữa Giới Định Tuệ và Vô thường, khổ, vô ngã như thế nào, các cấp độ, diễn biến? 

Rất mong nhận được câu trả lời. 

Cảm ơn ngài Lý Tứ” .

 24/11/2024 20:15:36 
Lê Ngọc Tới

*****

Lê Ngọc tới và bạn đọc thân mến!

Để giải đáp tất cả các nội dung trong bài viết, mình xin mạn phép chia bài viết thành nhiều phần. Và, xin được trả lời như sau:

- Hỏi:

1- “Vì tôi không phải là người ở trong nhóm, nên xin phép hỏi một số thắc mắc của người không có chuyên môn sâu, mong Quí ngài thông cảm!”

- Trả lời:

Lê Ngọc Tới và bạn đọc thân mến.

Mình và tất cả HĐ Lý Gia không một ai xứng đáng với danh xưng cao quý “Quý ngài” như bạn đã viết. Bản thân mình (Lý Tứ) chẳng phải là “ngài” hay “vị” gì hết. Mà, mình cũng chỉ là một người bình thường như bao người cất công tìm hiểu Phật đạo.

Bọn mình (Lý Gia) tạm coi là những kẻ may mắn trong quá trình tìm đến đạo pháp. Thay vì tiếp cận Phật đạo dưới hình thức tôn giáo, tín ngưỡng, tâm linh, tu luyện v.v... như cách mọi người hiện nay đang tiếp cận thì, bọn mình lại chọn phương cách tiếp cận Phật đạo dưới hình thức “một nền giáo dục” thông qua triết lí: “Lý Gia sử dụng Phật pháp như một phương tiện tối ưu giúp người học khai thác triệt để sức mạnh trí tuệ trong mỗi cá nhân để chính bản thân người ấy tự khai phóng tâm thức!”

Nhờ cách tiếp cận mới mẻ này, bọn mình tìm được một chút an vui trong cuộc sống rồi chia sẻ với nhau trên tinh thần đạo pháp (lợi hoà đồng quân). Tất cả chỉ có thế thôi. Không có gì xứng đáng là “ngài” hay “vị”.

- Hỏi:

2- “Ở trong Phật Đạo có tam vô lậu học (GIỚI - ĐỊNH - TUỆ). Đây là một pháp có đủ tam tướng”.

- Trả lời:
 

Tam vô lậu học hay ba học pháp vô lậu gồm: Giới vô lậu, định vô lậu và tuệ vô lậu. Đây là chiếc chìa khoá giúp những người học tập giáo pháp mở cánh cửa lậu hoặc, sau đó tịch diệt các lậu hoặc ấy để làm tiền đề xâm nhập cảnh giới xuất thế.

Khi thành tựu ba học pháp vô lậu, có được đạo quả vô lậu. Người học tập nhận ra:

a) Tâm (hư vọng) này là vô thường. Vì vô thường nên có thể diệt được.

Vị ấy chứng thực “tướng thứ nhất”, đó là “vô thường tướng” (anicca–lakkhaa).

b) Khổ này không thật. “Khổ” chỉ là hiệu ứng giả tạm của tâm mê ba cõi. Hết mê ba cõi, khổ tự tịch diệt. Vị ấy chứng thực “tướng thứ hai”, đó là “Khổ tướng” (dukkha-lakkhaa).

c) Ngũ ấm không bền chắc. Vì không bền chắc nên ngũ ấm vô ngã. Vị ấy chứng thực “tướng thứ ba” đó là “vô ngã tướng” (an–atta–lakkhaa).

Tóm lại, tam vô lậu không phải là một pháp có đủ tam tướng (như bạn đã nêu). Mà, tam vô lậu là thứ “học pháp” mà, khi người học thành tựu học pháp ấy sẽ chứng thực bản chất của tam tướng là: Vô thường tướng (anicca–lakkhaa); Khổ tướng (dukkha–lakkhaa); Vô ngã tướng (an–atta–lakkhaa).

- Hỏi:

3- “Nếu trong pháp đó có đủ giới định tuệ và tam tướng thì sự thể hiện từ thấp đến cao như thế nào?

- Trả lời:

Tam vô lậu học là “ba học pháp” chứ không phải “ba học giới”. Có nghĩa rằng vô lậu pháp là loại học pháp được hình thành từ tính chất vô lậu của giáo pháp (tức kinh tạng) nên còn gọi “xuất giới kinh”.

Vì bởi tính chất vô lậu của nó nên, người học thành tựu một học pháp, lập tức thành tựu cả ba học pháp.

Học pháp vô lậu hoàn toàn không giống “học giới” của cấm giới. Học giới (của cấm giới) hình thành từ luật tạng, học giới này hình thành do có người sai phạm, sau đó chế (giới) để cấm ngăn.

Vì có phạm, có ngăn nên tính chất và nhân của các cấm giới là “hữu lậu, hữu vi”. Do đó, “học giới” này không có tính chất ba trong một (như vô lậu giới, hay thánh giới) bởi bản thân các học giới được hình thành từ việc có danh, có tướng, có số, có trì, có phạm, có thọ, có ban, có luật, có trị v.v...

Sau khi thành tựu ba học pháp vô lậu, người này thành tựu đạo quả vô lậu. Sau khi thành tựu đạo quả vô lậu, người này chứng thực bản chất của tam tướng. Sau khi chứng thực bản chất của tam tướng, người này tinh tấn thành tựu đạo quả xuất thế. Sau khi thành tựu đạo quả xuất thế, tam tướng trở thành “tam pháp ấn” dùng để “tự ấn tâm”...

Tóm lại, ta có thể hiểu tiến trình từ thấp lên cao của ba học pháp vô lậu cho ra kết quả như sau: 

a) Từ học pháp vô lậu tiến đến thành tựu đạo quả vô lậu...

b) Từ đạo quả vô lậu tiến đến chứng thực tam tướng.

c) Từ chứng thực tam tướng tiến đến thành tựu đạo quả xuất thế.

d) Từ đạo quả xuất thế tam tướng trở thành tam pháp ấn.

- Hỏi:

4- “Sự liên hệ giữa Giới Định Tuệ và Vô thường, khổ, vô ngã như thế nào, các cấp độ, diễn biến?”

- Trả lời:

a) Do thành tựu giới vô lậu, vị này không chạy theo cảnh duyên. Từ đó, vị này hết khổ. Giới > Khổ!

b) Do thành tựu định vô lậu, tâm vị ấy không còn động loạn. Từ đấy, vị ấy biết như thật tâm nào thường, 
tâm nào vô thường. Định > Vô thường.

c) Do thành tựu tuệ vô lậu, nên vị ấy thấu suốt con đường nào đưa đến hữu lậu, con đường nào đưa đến vô lậu. Do biết như vậy, vị ấy không bị ngũ ấm chi phối, cho nên vị ấy biết như thật “ngũ ấm vô ngã”. Tuệ > Vô ngã.

5- Một đoạn trích lời Phật dạy về “Vô thượng căn tu tập trong giới luật của bậc thánh” (hay vô lậu giới).

“Này Ānanda, thế nào là vô thượng căn tu tập trong giới luật bậc Thánh? Ở đây, này Ānanda, vị Tỳ kheo, mắt thấy sắc, khởi lên khả ý, khởi lên bất khả ý, khởi lên khả ý và bất khả ý. Vị ấy tuệ tri như sau: “Khả ý này khởi lên nơi ta, bất khả ý này khởi lên nơi ta, khả ý và bất khả ý này khởi lên nơi ta. Cái này khởi lên, vì là hữu vi nên thô. Nhưng cái này là an tịnh, cái này là thù diệu, tức là xả”. Cho nên, dầu cho cái gì khởi lên là khả ý, bất khả ý hay khả ý và bất khả ý, tất cả đều đoạn diệt (trong vị ấy), và xả tồn tại. Này Ānanda, như một người có mắt, sau khi mở mắt, lại nhắm mắt lại, hay sau khi nhắm mắt, lại mở mắt ra; cũng vậy, như vậy là tốc độ, như vậy là sự mau chóng, như vậy là sự dễ dàng đối với cái gì đã khởi lên, khả ý, bất khả ý hay khả ý và bất khả ý, (tất cả) đều đoạn diệt (trong vị ấy), và xả tồn tại. Trong giới luật bậc Thánh, này Ānanda, như vậy gọi là vô thượng căn tu tập đối với các sắc do mắt nhận thức.

..........

Lại nữa, này Ānanda, Tỳ kheo, ý nhận thức các pháp khởi lên khả ý, khởi lên bất khả ý, khởi lên khả ý và bất khả ý. Vị ấy tuệ tri như sau: “Khả ý này khởi lên nơi ta, bất khả ý này khởi lên nơi ta, khả ý và bất khả ý này khởi lên nơi ta. Cái này khởi lên, vì là hữu vi nên thô. Nhưng cái này là an tịnh, cái này là thù diệu, tức là xả”. Cho nên dầu cho cái gì khởi lên là khả ý, bất khả ý hay khả ý và bất khả ý, tất cả đều đoạn diệt (trong vị ấy), và xả tồn tại. Này Ānanda, như một người cho nhỏ hai ba giọt nước trong một cái chậu bằng sắt đun nóng mỗi ngày, này Ānanda, các giọt nước rơi rất chậm nhưng chúng bị tiêu diệt, biến đi rất mau, cũng vậy, như vậy là tốc độ, như vậy là sự mau chóng, như vậy là sự dễ dàng đối với cái gì đã khởi lên khả ý, bất khả ý hay khả ý và bất khả ý, (tất cả) đều đoạn diệt (trong vị ấy) và xả tồn tại. Trong giới luật bậc Thánh, này Ānanda, như vậy gọi là vô thượng căn tu tập đối với các pháp do ý nhận thức.

Như vậy, này Ānanda, đây là vô thượng căn tu tập trong giới luật bậc Thánh.” (Trích Trung Bộ Kinh - Kinh Căn Tu Tập)

Hy vọng, những gì đã giải thích ở trên, có thể giúp Lê Ngọc Tới và bạn đọc nhận ra lợi ích của các học pháp vô lậu. Đồng thời, nhận ra đâu là học pháp vô lậu và đâu là học giới hữu lậu.

Chúc các bạn an vui, tinh tấn!

Rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người.

25/11/2024

LÝ TỨ

Tác Phẩm Lý Tứ

CBL.43 - Thờ Cúng Tổ Tiên Và Sự Phù Hộ

MB 857 Lý Diệu Sinh 23.08.2025

Như vậy, thờ cúng tổ tiên là đạo lý, là văn hoá, là phong tục của người Việt. Đạo lý này nhằm: “Thể hiện tấm lòng thành kính, đạo lý uống nước nhớ nguồn, biết ơn tổ tiên, ông bà, cha mẹ đã sinh thành và gây dựng nên cuộc sống cho con cháu”. Không hàm ý “phù hộ”.

Các bạn!

Trong tuần, Ban quản trị đã nhận được một số thắc mắc của bạn Trần Thị Phương ở Nam Định!

Nội dung bài viết:

“Kính thưa Thầy, học tập Phật Pháp ở Lý Gia con hiểu được rằng: Chủ trương của Phật Đạo là tự lực, tự thân, tự 
thắp đuốc lên mà đi, là nương tựa vào chính mình (chứ không mong cầu ở một tha lực nào cả). Người Việt Nam có truyền thống thờ cúng tổ tiên, và cũng rất nhiều người có suy nghĩ rằng tổ tiên sẽ phù hộ cho con cháu. Vậy điều này nên hiểu và nên làm như thế nào cho đúng ạ, con cảm ơn Thầy!” 

21/11/2024 - 8:25:43 
Trần Thị Phương - Nam Định

*****

Trần Thị Phương và bạn đọc thân mến!

Về những thắc mắc của bạn, mình xin được chia thành bốn phần và lần lượt giải thích như sau:

- Hỏi:

1- “Kính thưa Thầy, học tập Phật Pháp ở Lý Gia con hiểu được rằng: Chủ trương của Phật Đạo là tự lực, tự thân, tự thắp đuốc lên mà đi, là nương tựa vào chính mình (chứ không mong cầu ở một tha lực nào cả).”

- Trả lời:

Chủ trương mà bạn vừa nêu, là lời dạy của Phật, chứ không phải chủ trương riêng của Lý Gia. Vì rằng, Phật đạo giống như phương thuốc chữa trị tâm bệnh. Giáo pháp giống như thuốc chữa bệnh. Muốn hết bệnh, người bệnh phải tự uống thuốc, không có việc người khác uống thay mà ta hết bệnh.

Kinh Trường Bộ, Phật dạy về tự lực như sau:

“Này các Thầy Tỳ kheo, thế nào là tự mình thắp đuốc mà đi, hãy thắp lên ngọn đuốc chánh pháp, đừng thắp lên từ một pháp nào khác, và hãy nương tựa với chính mình, hãy nương tựa với chánh pháp, đừng nương tựa một pháp nào khác. Ấy là Tỳ kheo quán thân trên thân, siêng năng không biếng nhác, nhớ mãi không quên để trừ tâm tham ưu, sân hận và si mê. Cho đến quán ngoại thân và quán nội thân và quán nội ngoại thân. Siêng năng không biếng nhác, nhớ mãi không quên để trừ tâm tham ưu ở thế gian.”

- Hỏi:

2- “Người Việt Nam có truyền thống thờ cúng tổ tiên”

- Trả lời:

“Thờ cúng tổ tiên là một nét đẹp văn hóa của người Việt xưa và nay. Bàn thờ tổ tiên là một phần không thể thiếu trong mỗi gia đình, không kể giàu nghèo hay địa vị xã hội.

Thờ cúng tổ tiên chính là toàn bộ các hình thức lễ nghi, cúng bái nhằm thể hiện tấm lòng thành kính, đạo lý uống nước nhớ nguồn, biết ơn tổ tiên, ông bà, cha mẹ đã sinh thành và gây dựng nên cuộc sống cho con cháu – những người thuộc thế hệ đầu tiên của một dòng họ, với ông bà, cha mẹ đã qua đời.

Tục thờ cúng tổ tiên của người Việt có nguồn gốc từ nền kinh tế nông nghiệp trong xã hội phụ quyền xưa. Khi Nho giáo du nhập vào Việt Nam, chữ hiếu được đề cao, đã làm cho tục thờ cúng tổ tiên có một nền tảng triết lý sâu sắc. Gia đình, gia tộc, và vấn đề “dương danh hiển gia” được đề cao.

Không nhất thiết phải là mâm cao cỗ đầy, chỉ cần một nén hương (nhang) lên bàn thờ tổ tiên trong ngày lễ, Tết, hay ngày giỗ, con cháu trong gia đình cũng thể hiện được tấm lòng thành kính, hướng về cội nguồn, tưởng nhớ những người thân đã khuất.

Từ lâu, thờ cúng tổ tiên ông bà đã trở thành một phong tục, là chuẩn mực đạo đức và nguyên tắc làm người; đồng thời là một phần quan trọng trong đời sống tâm linh của người Việt Nam. 

Dân Việt trọng lễ nghĩa, hiếu thảo với cha mẹ và có hiếu với ông bà tổ tiên, với nguồn gốc của mình...” (Trích bài viết: Thờ cúng tổ tiên – Nét đẹp văn hóa của người Việt Nam - Được đăng trên Cổng Thông Tin Điện Tử Huyện Mê Linh Hà Nội)!

Như vậy, thờ cúng tổ tiên là đạo lý, là văn hoá, là phong tục của người Việt. Đạo lý này nhằm: “Thể hiện tấm lòng thành kính, đạo lý uống nước nhớ nguồn, biết ơn tổ tiên, ông bà, cha mẹ đã sinh thành và gây dựng nên cuộc sống cho con cháu”. Không hàm ý “phù hộ”.

- Hỏi:

3- “Cũng rất nhiều người có suy nghĩ rằng tổ tiên sẽ phù hộ cho con cháu”

- Trả lời:

Đây chỉ là suy nghĩ của nhiều người (chứ không phải tất cả người Việt). Suy nghĩ này hoàn toàn không thấy đề cập trong văn hoá thờ cúng tổ tiên theo tinh thần bài viết đã trích đăng ở phần 2.

- Hỏi:

4- “Vậy điều này nên hiểu và nên làm như thế nào cho đúng ạ, con cảm ơn Thầy!”

- Trả lời:

a) Theo mình, một người muốn thành công bất kì lãnh vực nào trong đời đều cần đến nỗ lực bản thân.

Trong đó tự lực học tập giáo pháp để thành tựu các mục tiêu của giáo pháp đề ra như lời Phật dạy trong đoạn kinh Trường Bộ đã trích ở phần 1 cũng không ngoại lệ.

b) Thờ cúng tổ tiên là nét đẹp văn hoá, là truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của người Việt. Những ai suy nghĩ rằng: “Nhờ sự thờ cúng này, ta sẽ được tổ tiên phù hộ”. Với suy nghĩ ấy, người này không chịu nỗ lực học tập, lao động v.v... cứ ngồi đó chờ “tổ tiên phù hộ” thì... thì... thì... nhất định sẽ rất khó thành công trong đời.

Hy vọng, những trả lời vừa rồi có thể giúp Trần Thị Phương và bạn đọc có thể làm thế nào để vừa thờ cúng tổ tiên một cách thành kính, vừa nỗ lực học tập, lao động để có thể “thành ở đời, đạt ở đạo”.

Rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người. 

Chúc Trần Thị Phương và bạn đọc an vui, tinh tấn!

22/11/2024

LÝ TỨ

Tác Phẩm Lý Tứ

CBL.42 - Linh Hồn Có Hay Không?

MB 857 Lý Diệu Sinh 23.08.2025

Theo tìm hiểu của mình thông qua kinh điển Phật giáo, mình không thấy một bài kinh nào đề cập về “linh hồn” và các vấn đề “liên quan đến linh hồn” như những gì bạn hỏi. Theo mình thì, Phật đạo không thảo luận đến những gì thuộc phạm trù siêu hình, như việc linh hồn là có hay không hoặc sau khi chết linh hồn ấy sẽ đi về đâu v.v...

Các bạn!

Trong tuần, Ban quản trị nhận được một số thắc mắc của bạn đọc Huỳnh Tâm ở Lâm Đồng. Nội dung các câu hỏi như sau:

“Dạ con chào Thầy Lý Tứ và Ban quản trị ạ!

Con xin phép gửi đến Thầy Lý Tứ và Ban quản trị một số nội dung thắc mắc của các bạn như sau ạ:

1. Linh hồn có hay không? Linh hồn là gì? Nó ở đâu? Linh hồn có trước hay con người có trước? Khi chết thì linh hồn đi về đâu? Loài người chúng ta gốc rễ là linh hồn không thấy được phải không? Loài người chúng ta được tạo ra bởi 2 phần đó là linh hồn và xác thịt phải không? Nếu hồn rời khỏi xác thì còn lại xác chết. Cuộc sống xác thịt mình thấy an vui tự tại là đủ rồi phải không? Nếu mình không biết nuôi dưỡng linh hồn thì mình vẫn không có an vui tự tại phải không?

2. Có tái sinh, luân hồi hay không? Luân hồi là gì? Có phải luân hồi là sau khi chết đi sẽ được tiếp tục làm người lại không hay như thế nào? Người ta chết đi thì mới có luân hồi phải không? Chết là hết phải không? Vậy tu để làm gì? Lục đạo luân hồi là địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, a tu la và trời thì hiểu như thế nào là đúng?

3. Hiện có quá nhiều đạo như đạo Phật, đạo Chúa, đạo Tin Lành. Đạo Phật thì tin Phật, đạo Chúa thì tin Chúa, Đạo nào cũng tốt, cũng dạy dỗ điều tốt đẹp. Mỗi một tôn giáo thì có cách dạy dỗ khác nhau. Tại sao lại có nhiều tôn giáo như vậy? Nhiều con đường quá thì con đường nào tốt cho linh hồn của mình? Đâu là con đường đi đúng cho toàn nhân loại? Đâu là con đường cho sự cứu rỗi về phần linh hồn?

4. Có thần thông, có các cõi không? Có địa ngục hay không? Có 1 cõi hay có nhiều cõi? Nếu có các cõi thì cõi đó ở đâu? Có 1 vị Phật thì phải có nhiều vị Phật khác nữa phải không? 

Con kính mong nhận được sự hỗ trợ giải đáp theo chánh pháp để con được học tập thêm và có thể chia sẻ lại cho các bạn hoặc con có thể trả lời khi được hỏi những câu tương tự ạ.

Con cảm ơn Thầy và Ban quản trị thật nhiều ạ.” 

16/11/2024 9:12:29 
 Huỳnh Tâm - Lâm Đồng

*****

Huỳnh Tâm và bạn đọc thân mến!

Về các câu hỏi của bạn, mình xin được lần lượt trả lời theo thứ tự!

- Hỏi:
 

1. “Linh hồn có hay không? Linh hồn là gì? Nó ở đâu? Linh hồn có trước hay con người có trước? Khi chết thì linh hồn đi về đâu? Loài người chúng ta gốc rễ là linh hồn không thấy được phải không? Loài người chúng ta được tạo ra bởi 2 phần đó là linh hồn và xác thịt phải không? Nếu hồn rời khỏi xác thì còn lại xác chết. Cuộc sống xác thịt mình thấy an vui tự tại là đủ rồi phải không? Nếu mình không biết nuôi dưỡng linh hồn thì mình vẫn không có an vui tự tại phải không?”

- Trả lời:
 

Theo tìm hiểu của mình thông qua kinh điển Phật giáo, mình không thấy một bài kinh nào đề cập về “linh hồn” và các vấn đề “liên quan đến linh hồn” như những gì bạn hỏi.

Theo mình thì, Phật đạo không thảo luận đến những gì thuộc phạm trù siêu hình, như việc linh hồn là có hay không hoặc sau khi chết linh hồn ấy sẽ đi về đâu v.v...

Thậm chí, trong thời kì Phật còn tại thế, khi có người hỏi những vấn đề như vậy, Phật im lặng, không trả lời...

Để có thể giúp Huỳnh Tâm và bạn đọc hiểu hơn về thái độ của đức Phật đối với những vấn đề siêu hình. Xin trích một đoạn trong bài viết “Vấn Đề Siêu Hình Trong Kinh Tạng A Hàm” được đăng trên tạp chí Nghiên Cứu Phật Học Online:

“2.1. Thái độ của đức Phật khi đệ tử đề cập vấn đề siêu hình

Các vị Tỳ kheo tụ tập bàn về các vấn đề: “Hoặc nói thế gian là thường, hoặc nói thế gian là vô thường, thế gian vừa hữu thường vừa vô thường, thế gian chẳng phải hữu thường chẳng phải vô thường; thế gian là hữu biên, thế gian là vô biên; thế gian là vừa hữu biên vừa vô biên; thế gian chẳng phải hữu biên chẳng phải vô biên. Mạng là thân, hay mạng khác thân khác. Như Lai sau khi chết là có, Như Lai sau khi chết là không, Như Lai sau khi chết vừa có vừa không, Như Lai sau khi chết chẳng phải có chẳng phải không”. Đức Phật tuyên bố Ngài ra đời với một mục đích chỉ cho chúng sinh thấy được nguyên nhân của khổ và con đường diệt khổ. Theo Đức Thế Tôn các vấn đề siêu hình không đem lại lợi ích cho đời sống phạm hạnh, không làm phát sinh trí tuệ, không đưa đến giác ngộ. Ngài khuyên đệ tử chú tâm tư duy về “Đây là Khổ Thánh đế, đây là Khổ tập Thánh đế, đây là Khổ diệt Thánh đế, đây là Khổ diệt đạo tích Thánh đế”. Thời kỳ “Phật giáo Nguyên thủy”, đức Phật chú trọng vào giáo lý tu tập nên những vấn đề siêu hình Ngài không trả lời cho hàng đệ tử. Trường hợp vị Tỳ kheo tên Mang đồng tử đặt vấn đề với Thế Tôn nếu như không được trả lời các vấn đề trên thì vị ấy hoàn tục không theo Ngài tu tập nữa. Thái độ của đức Phật được diễn tả trong kinh Trường A Hàm, bài kinh Tiễn Dụ là quở trách, Ngài đưa ra hình ảnh ví dụ về một người trúng tên độc không chịu sự giúp đỡ của người thân nếu như không biết được nguồn gốc người bắn cung và hình dáng xuất xứ chất liệu cung tên. Đối tượng đề cập các vấn đề vô ký là hàng đệ tử thì Phật vừa trách vừa khuyên bằng những hình ảnh ẩn dụ giúp họ quay về tu tập tự thân. Ngài chỉ họ thấy tác hại khi suy tư về những việc ngoài khả năng hiểu biết của họ chỉ thêm mất thời gian, sinh rối rắm và đưa đến tranh cãi vô ích cho đời sống tu học. Đồng thời Ngài khẳng định lý do không trả lời: “Vì điều đó không hợp nghĩa, không hợp pháp, không phải căn bản phạm hạnh, không đưa đến trí tuệ, giác ngộ, giải thoát, Niết bàn.” Còn đối với ngoại đạo thái độ ứng xử của Ngài khi được hỏi về mười bốn vấn đề siêu hình là sự im lặng”. (Hết trích)

- Hỏi:

2. “Có tái sinh, luân hồi hay không? Luân hồi là gì? Có phải luân hồi là sau khi chết đi sẽ được tiếp tục làm người lại không hay như thế nào? Người ta chết đi thì mới có luân hồi phải không? Chết là hết phải không? Vậy tu để làm gì? Lục đạo luân hồi là địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, a tu la và trời thì hiểu như thế nào là đúng?”

- Trả lời:

a) Luân hồi theo Phật đạo, là khái niệm nhằm chỉ cho hình ảnh sanh diệt bất tận từ “vòng lặp tâm thức” của một chúng sanh. Nếu, chúng sanh đó giác ngộ, vòng lặp ấy lập tức biến mất (tịch diệt).

b) Lục đạo đối với Phật đạo, là khái niệm nhằm chỉ cho sáu trạng thái tâm thức mê muội của một chúng sanh theo tinh thần “tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”.

Có nghĩa, khi chúng sanh ấy đau khổ cùng cực, Phật đạo gọi tâm thức ấy là địa ngục; Khi chúng sanh ấy hung ác cùng cực, Phật đạo gọi tâm thức ấy là ngạ quỷ; Khi chúng sanh mê mờ không biết phải trái thiện ác, Phật đạo gọi tâm thức ấy là súc sanh; Khi chúng sanh ấy lúc thiện lúc ác, lúc thương lúc ghét, Phật đạo gọi tâm thức ấy là người; Khi chúng sanh ấy đấu tranh hơn thua, ghét ganh, sân hận, Phật đạo gọi tâm thức ấy là A tu la; Khi chúng sanh ấy trong lòng hoan hỉ, Phật đạo gọi tâm thức ấy là Thiên v.v...

Tóm lại, lục đạo luân hồi (theo tinh thần Phật đạo) là, hình ảnh ẩn dụ nhằm chỉ cho tâm thức một hữu tình chưa giác ngộ, tâm thức ấy xoay vần, sanh diệt trong các trạng thái mê muội như hết khổ đến vui, hết thiện đến ác, hết thân đến thù, hết thương đến ghét v.v...

c) Không giác ngộ thì, lúc còn sống tâm thức chúng sanh ấy cũng sinh diệt luân hồi bất tận... chẳng cần... đợi... tới... chết...

d) Tu trong Phật đạo, chính là việc học tập giáo pháp để tâm thức không còn sinh diệt, xoay vần (luân hồi) như những gì đã kể ở trên.

e) Phật đạo không luận bàn đến chuyện chết là hết (đoạn kiến), hay chết là còn (thường kiến). Mà, Phật đạo chỉ dạy người cho dù chết hay sống cũng an vui, thanh tịnh.

Để minh hoạ vấn đề này, xin trích đoạn kinh sau để Huỳnh Tâm và bạn đọc tham khảo: 

“Nếu nói Như Lai đời sau có sinh tử, thì đó là sắc. Nếu nói Như Lai đời sau không có sinh tử thì đó là sắc. Nếu nói Như Lai đời sau vừa có sinh tử, đời sau vừa không có sinh tử, thì đó là sắc. Nếu nói Như Lai đời sau chẳng phải có, đời sau chẳng phải không sinh tử, thì đó là sắc. Vì Như Lai, sắc đã dứt hết, tâm khéo giải thoát, nên bảo có sinh tử đời sau, thì đây là điều không đúng; hoặc đời sau không sinh tử; hoặc đời sau vừa có, đời sau vừa không; hay đời sau chẳng phải có, đời sau chẳng phải không sinh tử, thì điều này cũng không đúng. Vì Như Lai, đã dứt hết sắc, tâm khéo giải thoát sâu xa, rộng lớn vô lượng, vô số, Niết bàn vắng lặng.” (Trích: Đại Tập 6 - Bộ A-Hàm VI - Kinh Tạp A-Hàm Số 2, Tạp A- Hàm Quyển 32, Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc, Taiwan, tr. 583. Sa Môn Thích Tịnh Hạnh dịch, (2000)

- Hỏi:

3. “Hiện có quá nhiều đạo như đạo Phật, đạo Chúa, đạo Tin Lành. Đạo Phật thì tin Phật, đạo Chúa thì tin Chúa. Đạo nào cũng tốt, cũng dạy dỗ điều tốt đẹp. Mỗi một tôn giáo thì có cách dạy dỗ khác nhau. Tại sao lại có nhiều tôn giáo như vậy? Nhiều con đường quá thì con đường nào tốt cho linh hồn của mình? Đâu là con đường đi đúng cho toàn nhân loại? Đâu là con đường cho sự cứu rỗi về phần linh hồn?”

- Trả lời:
 

Nhiều đạo, sẽ rộng đường cho con người lựa chọn. Con đường hay đạo nào phù hợp với bản thân, phù hợp với nguyện vọng, phù hợp với hoàn cảnh v.v... Theo mình, đấy là con đường (hay đạo) được coi là “tốt nhất đối với chính ta”.

- Hỏi:

4. “Có thần thông, có các cõi không? Có địa ngục hay không? Có 1 cõi hay có nhiều cõi? Nếu có các cõi thì cõi đó ở đâu? Có 1 vị Phật thì phải có nhiều vị Phật khác nữa phải không?”

- Trả lời:
 

a) Thần: Hơn người (như thần đồng); Thông: Không bị tắc (bít).

Thần thông của Phật đạo là, sau khi giác ngộ, thấy, nghe, nghĩ suy v.v... thanh tịnh, thông suốt hơn người. Tức thấy, nghe, ngửi, nếm v.v... không bị bịt tắc (kẹt mắc) bởi đẹp xấu, khen chê, hay dở, giàu nghèo v.v... như người đời (không giác ngộ). Kinh gọi là: “Bất cấu, bất tịnh...”

b) Các cõi: Xem giải thích ở phần trả lời câu số 2, mục b.

c) Phật đạo chính là con đường dạy người thành Phật. Bao nhiêu người thấu suốt Phật pháp thì, bấy nhiêu người thấu suốt ấy là Phật.

Hi vọng, những trả lời vừa rồi, có thể giúp Huỳnh Tâm và bạn đọc giải toả những thắc mắc đã nêu.

Chúc Huỳnh Tâm và bạn đọc an vui, tinh tấn!

Rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người.

17/11/2024

LÝ TỨ

Tác Phẩm Lý Tứ

CBL.41 - Bát Nhã Trí

MB 857 Lý Diệu Sinh 23.08.2025

Bát nhã hay Trí Tuệ là từ ngữ được phiên âm từ tiếng Phạn Prajñā (tiếng Nam Phạn: paññā, chữ Hán: 般若). Đây là thuật ngữ đặc trưng của Phật đạo, nhằm chỉ chung cho thấy biết (tri kiến) của một vị đã giác ngộ thành tựu Đạo Xuất Thế đang trên hành trình học Bát Nhã và trí tuệ của bậc Xuất Thế Gian Thượng Thượng!

Các bạn!

Lần thứ 2 mình nhận được thắc mắc của bạn đọc có Nickname Phạm Thượng! Bạn ấy viết như sau:

“Thưa Thầy Lý Tứ!

Lại là em, là Phạm Thượng, là người có nhân duyên vô tình tham dự sự kiện sinh nhật Thầy tại Đà Nẵng và đã một lần hỏi Thầy. 

Sau lần đặt câu hỏi và may mắn được Thầy trả lời, em đâm ra nghiền cách trả lời vừa hóm hỉnh, vừa thực tế, vừa sâu sắc, vừa dễ hiểu của Thầy. Hầu như ngày nào em cũng vào fanpage của Thầy và đọc trả lời, nhờ vậy em hiểu thêm khá nhiều điều về Phật pháp. Lần này mong Thầy giải đáp cho em một số thắc mắc.

Em thường nghe người ta nói về Bát Nhã và cũng tìm đọc nhiều tài liệu, nhưng hầu như các giải thích mà em đã đọc không giúp em hiểu rõ Bát Nhã là gì? Em xin hỏi: Trí Bát Nhã và hiểu biết ở đời giống hay khác? Người tu hành vận dụng Trí Bát Nhã như thế nào để giải quyết mọi vấn đề? Làm sao có được trí Bát Nhã? Mong Thầy giải đáp dùm em ạ! Em cảm ơn rất nhiều!

27/08/2023 19:25:16
Phạm Thượng

*****

Phạm Thượng và bạn đọc thân mến!

Lời đầu tiên, mình xin cảm ơn những nhận xét tốt đẹp của Phạm Thượng đối với chuyên mục! Về các thắc mắc của bạn, mình xin lần lượt trả lời như sau:

- Hỏi:

1) Bát Nhã Trí là gì?

- Trả lời:

Bát nhã hay Trí Tuệ là từ ngữ được phiên âm từ tiếng Phạn Prajñā (tiếng Nam Phạn: paññā, chữ Hán: 般若). Đây là thuật ngữ đặc trưng của Phật đạo, nhằm chỉ chung cho thấy biết (tri kiến) của một vị đã giác ngộ thành tựu Đạo Xuất Thế đang trên hành trình học Bát Nhã và trí tuệ của bậc Xuất Thế Gian Thượng Thượng!

- Hỏi:

2) Vì sao Phật đạo không gọi thấy biết của những vị đã giác ngộ là Trí Tuệ mà lại gọi là Bát Nhã Trí?

- Trả lời:

Đối với Phật đạo, thấy biết hay trí tuệ được chia thành 3 loại.

* Một là, thấy biết của người thế gian, gọi là Thế Trí (không gọi là Bát Nhã Trí)! 

* Hai là, thấy biết của bậc xuất thế đang học Nhất Thiết Trí, gọi là Xuất Thế Trí hay Tương Tợ Bát Nhã (xem kinh Đại Bát Nhã)! 

* Ba là, thấy biết của bậc thành tựu Xuất Thế Gian Thượng Thượng, gọi là Bát Nhã Trí hay Nhất Thiết Chủng Trí! 

Trên đây cũng chỉ là cách tạm phân chia (đặt tên) để tránh nhầm lẫn giữa những thấy biết (trí tuệ) khác nhau trong các tầng bậc tu chứng khác nhau!

- Hỏi:

3) Người chưa giác ngộ có Bát Nhã Trí hay không?

- Trả lời:

Người chưa giác ngộ trong Phật đạo chưa có Bát Nhã Trí. Người có được Sơ Giác Ngộ chỉ có Giác Trí chứ chưa được Bát Nhã Trí! Người thành tựu Đạo Quả Xuất Thế (chứng Diệt Đế) mới thành tựu Căn Bản Trí (Căn Bản Trí là hạt giống căn bản để từ đây làm cơ sở học Nhất Thiết Trí để thành tựu Tương Tợ Bát Nhã)!

- Hỏi:

4) Muốn có Bát Nhã Trí, cần những điều kiện gì?

- Trả lời:

Điều kiện để có được Bát Nhã Trí, người tu hành cần phải hội đủ các yêu cầu sau:

* Một: Phải thành tựu Đạo Quả Xuất Thế!

* Hai: Sau khi thành tựu Đạo Quả Xuất Thế phải phát tâm cầu học Bát Nhã Trí hay Nhất Thiết Trí!

* Ba: Sau khi phát tâm cầu học Bát Nhã Trí phải đủ duyên lành gặp được bậc Thiện Tri Thức có năng lực dạy Nhất Thiết Trí!

- Hỏi:

5) Sau khi có được Bát Nhã Trí (tương tợ Bát Nhã), muốn viên mãn Bát Nhã Trí phải làm những gì?

- Trả lời:

Sau khi có được Bát Nhã (tương tợ Bát Nhã), muốn viên mãn Bát Nhã Trí (Nhất Thiết Chủng Trí). Vị này phải phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, phát nguyện hoá độ chúng sanh. Sau khi phát tâm, phát nguyện. Vị ấy, quên mình thực hiện hạnh nguyện... Đến khi công đức đầy đủ, Nhất Thiết Chủng Trí hay Bát Nhã Trí tự viên mãn.

- Hỏi:

 6) Học Bát Nhã Trí hay học Nhất Thiết Trí là học những gì?

- Trả lời:

Học Bát Nhã Trí hay học Nhất Thiết Trí là, học các pháp lành, học các Tam Muội Môn, học các Giải Thoát Môn của Chư Phật, đồng thời học 8 môn học đặc trưng của Đạo Đế gồm: 

1. Thấu thị môn 
2. Thẩm sát môn 
3. Đẳng ngữ môn 
4. Đại hạnh môn 
5. Đại Đạo Môn
6. Thật Nghĩa Môn 
7. Đẳng Trì Môn
 8. Chân Giác Môn

- Hỏi:

7) Trong quá trình học Bát Nhã Trí, người học lần lượt thành tựu những điều gì?

- Trả lời:

Người học Bát Nhã Trí sẽ lần lượt thành tựu 10 thứ trí... Trí thứ 11 tự thành, gồm:
1. Khổ trí
2. Tập trí
3. Diệt trí
4. Đạo trí
5. Tỷ trí 
6. Pháp trí
7. Tận trí
8. Vô Sanh Trí
9. Nhất Thiết Trí
10. Đạo Tướng Trí
11. Nhất Thiết Chủng trí
 

Trong đó 10 trí đầu thuộc về Sai Biệt Trí (Hữu Sư Trí)... Trí thứ 11 thuộc về Tự Nhiên Trí (Vô Sư Trí)!

- Hỏi:

8) Bát Nhã Trí khác Thế Gian Trí như thế nào?

- Trả lời:
 

Bát Nhã Trí dạy người thành tựu các mục tiêu của Phật đạo gồm Giác Ngộ, Giải Thoát và Trí Tuệ! Thế Trí hay Thế Gian Trí giúp người thế gian có cuộc sống thế tục thông qua các pháp thế gian!

- Hỏi:

9) Người tu hành vận dụng Trí Bát Nhã như thế nào để giải quyết mọi vấn đề?

- Trả lời:
 

Bát Nhã Trí không giải quyết mọi vấn đề! Mà, Bát Nhã Trí giúp người thấy được thiệt tướng (bản chất) của mọi vấn đề! Vì thế, Bát Nhã Trí không phải một thứ “công cụ” để người đời “vận dụng” như Thế Gian Trí!

- Hỏi:

10) Căn cứ vào đâu để nói rằng, thành tựu Đạo Quả Xuất Thế xong mới đủ điều kiện học Bát Nhã Trí?

- Trả lời:

Giáo trình giảng dạy Phật pháp của Đấng Pháp Vương thông qua 5 thời kì, đó là:

* Thời Hoa nghiêm (21 ngày đầu tiên sau khi Phật thành đạo)! Đây là thời kì, tuyên thuyết Pháp Lệnh Giáo Dục Phật Pháp!

* Thời A hàm (12 năm kế tiếp)! Đây là thời kì, dạy người chứng Thánh Quả, thành tựu Đạo Quả Xuất Thế!

* Thời Phương đẳng (8 năm kế tiếp)! Đây là thời kì, đưa ba thừa từ các phương tiện tu học khác nhau, quan điểm khác nhau cùng đến một tri kiến chung làm chuẩn mực cho trí tuệ sau này, đó là “Tam Giới Duy Tâm, Vạn Pháp Duy Thức!”

* Thời Bát nhã (22 năm kế tiếp)! Đây là thời kì, giúp ba thừa sau khi chứng thánh quả, vào biển Nhất thừa, tiếp cận với Bát Nhã Trí (của Phật) để thành tựu Tương Tợ Bát Nhã!

* Thời Pháp hoa và Niết bàn (8 năm cuối cùng)! Đây là thời kì, tuyên thuyết thật nghĩa Phật Tri Kiến, Phật tánh giúp thánh chúng đồng ngộ nhập... Sau đó thọ kí để họ thành tựu viên mãn Bát Nhã Trí ở vị lai!

Căn cứ vào 5 thời kì nêu trên, ta có thể hiểu, chỉ khi nào người tu hành thành tựu Đạo Quả Xuất Thế mới có thể (đủ điều kiện) nghe giảng nói và học tập Bát Nhã.

Hy vọng, những giải thích vừa rồi, có thể giúp Phạm Thượng và bạn đọc có thêm những hiểu biết cơ bản về Bát Nhã Trí! 

Chúc an vui, tinh tấn!

Rất mong, nhận được các câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người!

29/08/2023

LÝ TỨ

Tác Phẩm Lý Tứ

CBL.40 - Sau Khi Nhập Niết Bàn - Đức Phật Đi Về Đâu?

MB 857 Lý Diệu Sinh 23.08.2025

Trong Kinh Đại Bát Niết bàn, phẩm Nguyệt Dụ, Phật dạy: “Giống như mặt trăng, mặt trăng ấy không có tròn hay khuyết, không có lặn hay mọc. Thấy có tròn khuyết, mọc lặn v.v... là do chúng sanh ở các vị trí khác nhau trên trái đất thấy như vậy.”

Các bạn!

Trong tuần, Ban quản trị nhận được một số câu hỏi của bạn đọc có tên là Minh An ở Bình Dương. Nội dung 
các câu hỏi như sau:

“Dạ Thưa Thầy, con là Minh An ạ! Con có hai câu hỏi, mong Thầy giải đáp dùm ạ!

Câu hỏi 1:

Vậy có phải thành Phật, sau khi giác ngộ viên mãn rồi, thì vẫn sống làm người, như người Việt Nam, châu Phi hay một nơi nào đó theo dạng thân tướng của nơi đó?

Vị ấy vẫn chịu quy luật sanh, già, bệnh, chết giống như mọi người... Chỉ khác là vị ấy không hề khổ, vẫn an vui, tự tại, thông tuệ trong mọi ứng xử? 

Và sau khi hết thọ mạn, thì tùy ý nguyện mà hóa hiện thân tướng ở một nơi nào đó để giúp chúng sanh ở xứ ấy cũng giác ngộ như mình?

Rồi ngoài những khi không hóa hiện thì vị Phật ấy sẽ ở nơi nào, cảnh giới nào, hay gọi là gì thưa Thầy?

Con kính mong Thầy dạy để tâm con cũng như những ai đang cùng trăn trở các khúc mắc nêu trên được thấu tỏ!

Câu hỏi 2:

Xin Thầy cho con hỏi, muốn mua sách của Thầy thì mua ở đâu? Con cần đọc cuốn nào của Thầy trước để nắm vững các kiến thức cơ bản?

Dạ con tên Minh An Bình Dương
Con cảm ơn Thầy!

30/10/2024 22:40:19 
Minh An - Bình Dương”

*****

Minh An và bạn đọc thân mến!

Về các câu hỏi của Minh An, mình xin được trả lời như sau:

Câu hỏi 1:

- Hỏi:

“Vậy có phải thành Phật, sau khi giác ngộ viên mãn rồi, thì vẫn sống làm người, như người Việt Nam, châu Phi hay một nơi nào đó theo dạng thân tướng của nơi đó?”

- Trả lời:

Đức Phật còn có danh xưng là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác! Danh xưng này có nghĩa, đức Phật là vị đã đạt được mục tiêu cao nhất của Phật đạo, mục tiêu này chân chánh, bình đẳng với tất cả các đức Phật khác...

Và, đây cũng là mục tiêu tối thượng của đạo, không có mục tiêu nào cao hơn.

Thích Ca Mâu Ni là điển hình của việc thành tựu này! Sau khi thành Phật, theo kinh điển ghi lại, Phật Thích Ca Mâu Ni sống đến 80 tuổi rồi mất (kinh gọi là nhập Niết bàn) như mọi người Ấn Độ thời ấy.

Kinh cũng đề cập, sau khi thành Phật, Phật đi du hoá với thân tướng của một người Ấn Độ xuất gia (Sa Môn) như bao người Ấn Độ xuất gia thời ấy, chứ không trở thành con người có thân hình (thân tướng) của một người xứ khác, đặc biệt hay dị thường. Thậm chí, trong khi đi giáo hoá, nhiều người vô tình gặp Thế Tôn trên đường hoặc trong rừng, họ cũng không hề nhận ra đó là Phật. Xin xem các câu chuyện điển hình về các trường hợp này như: “Chàng Trai Trẻ Tìm Phật và Gặp Phật Trong Lò Gốm Bỏ Hoang” hay “Người Giữ Rừng Và Đức Phật” v.v... được ghi lại trong kinh tạng Nikaya.

Từ đây ta có thể suy ra, người Ấn Độ thành Phật cũng mang thân tướng Ấn Độ, Việt Nam thành Phật cũng mang thân tướng Việt Nam, Phi, Mỹ hay người xứ nào khác v.v... sau khi thành Phật, cũng mang hình tướng của con người xứ ấy.

- Hỏi:

“Vị ấy vẫn chịu quy luật sanh, già, bệnh, chết giống như mọi người... Chỉ khác là vị ấy không hề khổ, vẫn an vui, tự tại, thông tuệ trong mọi ứng xử?”

- Trả lời:

Đọc kinh, mình cũng thấy kinh nói các ý nghĩa như vậy! Ngoài ra, kinh dạy Phật còn có 8 đức tính siêu việt, gồm: Vô lượng từ, vô lượng bi, vô lượng hỉ, vô lượng xả, chân thường, chân ngã, chân lạc, chân tịnh.

- Hỏi:

“Và sau khi hết thọ mạn, thì tùy ý nguyện mà hóa hiện thân tướng ở một nơi nào đó để giúp chúng sanh ở xứ ấy cũng giác ngộ như mình? Rồi ngoài những khi không hóa hiện thì vị Phật ấy sẽ ở nơi nào, cảnh giới nào, hay gọi là gì thưa Thầy? Con kính mong Thầy dạy để tâm con cũng như những ai đang cùng trăn trở các khúc mắc nêu trên được thấu tỏ!”

- Trả lời:

Về điều này, Kinh Đại Bát Niết bàn, phẩm Nguyệt Dụ, Phật dạy: “Giống như mặt trăng, mặt trăng ấy không có tròn hay khuyết, không có lặn hay mọc. Thấy có tròn khuyết, mọc lặn v.v... là do chúng sanh ở các vị trí khác nhau trên trái đất thấy như vậy.” Lời dạy này có nghĩa rằng, một đức Phật thành Phật là thành ở trí tuệ (Phật đạo gọi là Pháp thân)...Trí tuệ hay Pháp thân của Phật là thường, vì là thường nên không bị chi phối bởi thời gian, không gian. Do vậy, đủ công đức, chúng sanh thấy Phật có sinh ra, lớn lên, giác ngộ, thành Phật, giáo hoá v.v... ở một nơi nào đó, như con người thấy mặt trăng có mọc, có khuyết, có tròn, có soi sáng nhiều hay ít. Đến khi hết duyên, lại thấy Phật già yếu rồi nhập Niết bàn, giống như người ta thấy mặt trăng hết tròn, lại khuyết, rồi lặn mất.

Thật ra, mặt trăng ta thấy lặn ở nơi đây, chính là lúc người ở phương khác thấy mặt trăng ấy mọc ra... Lúc ta thấy mặt trăng mọc ở nơi đây, chính là lúc phương khác thấy mặt trăng ấy lặn mất. Nhưng kì thật, mặt trăng bản chất chẳng hề mọc hay lặn, tròn hay khuyết. Để xác chứng ý nghĩa này, cũng trong kinh Đại Bát Niết bàn, Phật dạy: “Như Lai (Phật) không rốt ráo (không hoàn toàn) nhập Niết bàn (diệt mất)”. Lời dạy này, giống như chuyện mặt trăng tròn, khuyết, lặn, mọc v.v... và sinh ra “các hình tướng sai biệt” đều do cái thấy của con người mà ta đã phân tích ở phần trên.

Câu hỏi 2:

- Hỏi:

“Xin Thầy cho con hỏi, muốn mua sách của Thầy thì mua ở đâu? Con cần đọc cuốn nào của Thầy trước để nắm vững các kiến thức cơ bản?”

- Trả lời:

a) Sách của mình, Minh An và bạn đọc có thể tìm mua tại các địa chỉ sau:

- Nhà sách Ngân Nga, 7A Đinh Lễ, Hà Nội.

- Nhà sách Minh Thắng 808 Láng, Trung Hoà, Đống Đa, Hà Nội.

- Nhà sách Thái Hà, 119C5 Tô Hiệu, P. Nghĩa Tân, Q. Cầu Giấy, TP. Hà Nội.

- Công ty phát hành sách Fahasa trên toàn quốc.

- Các sàn thương mại điện tử như: Shopee, Tiki, Tiktok Shop, Lazada v.v...

b) Để nắm vững các kiến thức cơ bản, Minh An có thể đọc những cuốn sách của mình như: Giáo Pháp Nhập Môn, Phật Giáo Và Thiền, Vô Đối Môn...

Minh An và bạn đọc thân mến!

Những gì bạn hỏi về một đức Phật, khó có thể trả lời tường tận trong phạm vi một bài viết... Vì đây là đề tài mang tính rộng sâu của Phật đạo.

Để có thể thấu suốt những ý nghĩa như vậy, thông thường người học phải trải qua quá trình dài học tập cũng như thân chứng...

Tuy vậy, trong bài viết này, mình cố gắng nêu lên những gì được coi là đại cương, dễ cảm nhận nhất. Mong Minh An và bạn đọc thông cảm.

Chúc an vui, tinh tấn.

Rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người.

31/10/2024

LÝ TỨ

Tác Phẩm Lý Tứ

CBL.39 - Các Thứ Trí Trong Phật Đạo

MB 857 Lý Diệu Sinh 23.08.2025

Muốn thành tựu mỗi thứ trí người học phải thực chứng. Đạo Phật là đạo thực chứng, chứ không do học thuộc hay nắm vững lí thuyết như học pháp thế gian.

Các bạn!

Trong tuần, Ban quản trị đã nhận được một số thắc mắc của bạn đọc có tên Như Thiệt Trí ở Quảng Ngãi! Nội dung các câu hỏi như sau:

“Con chào bác Lý Tứ!

Con đọc sách bác viết có vài chỗ chưa hiểu con xin bác chỉ dạy con rõ ràng hơn ạ!

Câu 1: Nhị thừa thấy cái gì vô thường thì quán vô ngã.

Bồ tát thấy cái gì vô ngã thì quán vô thường.

- Vô thường và vô ngã ở hai phép quán trên muốn nói đến điều gì?

- Tại sao lại có sự sai khác đầu đuôi của hai phép quán như vậy?

- Hai phép quán đầu đuôi sai khác như vậy chỗ thành tựu có giống nhau không? Chỗ thành tựu là gì?

Câu 2: Con đọc Vô Đối Môn có nói đến 3 loại trí: Giác trí, Huyễn trí, Thật trí.

- Thưa bác 3 loại trí ấy là 1 thứ trí phát ra tự chúng sanh cảm nhận thành 3 hay có sai khác từng bậc trí phải thành tựu từ thấp lên cao? Phải nắm rõ lý thuyết từng loại trí thì mới gọi là thành tựu?

- Nếu thành tựu từng bậc từ thấp đến cao thì sao phải thành tựu Thật trí rồi mới biết mình thành tựu Huyễn trí? Đáng lý theo thứ bậc phải thành tựu Huyễn trí trước, Thật trí sau?

Con cảm ơn bác Lý Tứ.

22/10/2024 18:52:24 
Như Thiệt Trí - Quảng Ngãi”

*****

Như Thiệt Trí và bạn đọc thân mến!

Về các câu hỏi của Như Thiệt Trí, mình xin được trả lời như sau:

- Hỏi:

1- Nhị thừa thấy cái gì vô thường thì quán vô ngã? Bồ tát thấy cái gì vô ngã thì quán vô thường?

- Trả lời:

a) Nhị thừa thấy ngũ ấm vô thường, nên quán ngũ ấm cũng vô ngã.

b) Bồ tát thấy các pháp vô ngã, nên quán các pháp cũng vô thường.

- Hỏi:
 2- Vô thường và vô ngã ở hai phép quán trên muốn nói đến điều gì?

- Trả lời:
Hai phép quán trên muốn nói đến: Cái gì vô thường thì cũng vô ngã. Cái gì vô ngã thì cũng vô thường.

- Hỏi:
3- Tại sao lại có sự sai khác đầu đuôi của hai phép quán như vậy?

- Trả lời: 
Nhị thừa và Bồ tát thừa do căn trí, tâm nguyện, cách giáo hoá, cách học tập, đối tượng quan sát v.v... sai khác nên, cách chọn đối tượng để quán sát cũng không giống nhau.

- Hỏi:

4- Hai phép quán đầu đuôi sai khác như vậy chỗ thành tựu có giống nhau không? Chỗ thành tựu là gì?

- Trả lời:

a) Cũng giống, cũng khác:

* Chỗ giống: Đồng hết chấp nhất thân tâm này.
* Chỗ khác: Tri kiến sâu cạn sai khác.

b) Chỗ thành tựu: Đây là tiền đề để tiếp tục học tập các tri kiến cao hơn của từng thừa.

- Hỏi:
5- Con đọc Vô Đối Môn có nói đến 3 loại trí: Giác trí, Huyễn trí, Thật trí. Thưa bác 3 loại trí ấy là 1 thứ trí phát ra tự chúng sanh cảm nhận thành 3 hay có sai khác từng bậc trí phải thành tựu từ thấp lên cao? Phải nắm rõ lý thuyết từng loại trí thì mới gọi là thành tựu? 

- Trả lời:
a) Đây là ba thứ trí sai biệt được người học thực chứng trong quá trình học tập và giác ngộ từ thấp lên cao.
 

b) Muốn thành tựu mỗi thứ trí người học phải thực chứng. Đạo Phật là đạo thực chứng, chứ không do học thuộc hay nắm vững lí thuyết như học pháp thế gian.

- Hỏi:
6- Nếu thành tựu từng bậc từ thấp đến cao thì sao phải thành tựu Thật trí rồi mới biết mình thành tựu Huyễn trí? Đáng lý theo thứ bậc phải thành tựu Huyễn trí trước, Thật trí sau?

- Trả lời: 
Theo thứ bậc thì thành tựu Huyễn trí trước, Thật trí sau. Nhưng, để nhận biết đó là trí gì thì, phải thành tựu Thật trí rồi mới chân thật biết đâu là Huyễn trí, đâu là Thật trí. Giống như vàng 9999 (Thật trí) và vàng 999 (Huyễn trí)... Chỉ khi nào có vàng 9999 làm cơ sở đối chiếu, mới biết vàng kia là 999 hay 9999.

Hy vọng, những giải thích vừa rồi, có thể giúp Như Thiệt Trí và bạn đọc thoả mãn những thắc mắc đã nêu.

Chúc các bạn an vui, tinh tấn! Rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người.

25/10/2024

LÝ TỨ

Tác Phẩm Lý Tứ

CBL.38 - Quả Vị Li Thân Trong Phật Đạo

MB 857 Lý Diệu Sinh 23.08.2025

Li thân tuy là quả vị đầu tiên trong Phật đạo, nhưng nó lại là quả vị cực kì quan trọng đối với người tu hành. Bởi thân là tài sản quý nhất đối với một chúng sanh. Khi tài sản quý nhất ấy không thể làm ta mê muội thì, các thứ khác sẽ khó có thể làm ta mê muội.

Các bạn!

Ban quản trị vừa nhận được thắc mắc của bạn đọc Huỳnh Tâm ở Lâm Đồng... Nội dung câu hỏi như sau:

“Dạ con chào Thầy và Ban quản trị ạ!

Con đã nghe các video bài giảng được chia sẻ trên youtube của Lý Gia và con có phần chưa rõ nên nhờ Thầy và Ban quản trị chỉ dẫn thêm ạ.

Thân và tâm là hai thứ tách rời nhau. Và khi chưa ly thân được 2 thứ này thì ta sẽ bị dính mắc. Vậy làm sao để ta có thể tách Thân và Tâm này ra khi có cảnh nào đó đến ạ. Ví dụ: Trong gia đình, ý kiến ba mẹ thì là phải mời thầy, pháp sư về để cúng bái cho gia đạo an yên. Trường hợp này, nếu Thân, Tâm con không để cảnh này vướng mắc và để ba mẹ cứ mời thầy, cứ cúng bái, tốn tiền thì việc con áp dụng phương pháp ly thân như vậy có phải là con đang thờ ơ và để việc ba mẹ cúng bái cầu thần linh như thế cứ diễn ra thì có phù hợp việc học Phật và áp dụng đạo Phật không ạ. 

Con cảm ơn Thầy và Ban quản trị ạ. 

08/10/2024 8:07:09 
Huỳnh Tâm - Lâm Đồng

*****

Huỳnh Tâm và bạn đọc thân mến!

Về câu hỏi của bạn, mình xin được trả lời như sau.

Theo quan điểm của Phật đạo, một hữu tình được cấu tạo bởi năm thành tố, đó là: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức (ta quen gọi là ngũ ấm hay ngũ uẩn)... Năm thành tố này đại diện cho ba hình thái tiêu biểu của con người là: Thân (sắc); Tâm (thọ, tưởng, hành) và Trí (thức). Và, năm thành tố ấy bản chất tự giải thoát, không có mối liên hệ nào với nhau, bởi chúng đều có những đặc tính cơ bản đó là: Không tự tánh, không tự tướng và không tự ngã.

Nhưng, khi trí (thức) mê muội thì, thân và tâm câu sanh với nhau, thuật ngữ Phật đạo gọi là “câu sanh lưỡng chấp”, tức thân chấp tâm, tâm chấp thân. Từ đó, khi thân xảy ra chuyển biến bất như ý, tâm sẽ buồn khổ. Khi tâm bất an, thân sẽ hao gầy. Hệ quả của sự câu sanh này là, hư vọng tâm sanh, hư vọng pháp sanh và hư vọng ngã sanh. Ba món tâm, pháp, ngã hư vọng sanh, nhất định ưu bi, khổ não, tham sân, trói buộc sẽ sanh... Các món này sanh, thanh tịnh, an vui, Niết bàn không hiện.

Để giải quyết vấn nạn này, người học tập trong Phật đạo phải học tập các pháp cơ bản (của Phật pháp) nhằm thay đổi nhận thức và thấy rõ bản chất của năm thành tố ấy.

Khi thấy rõ bản chất của năm thành tố ấy (không tự tánh, không tự tướng, không tự ngã), người này không bị mê muội trước thân tâm của chính mình, từ đó tuy thân, tâm, trí cùng chung sống với nhau nhưng không bị hệ phược (lệ thuộc, đinh mắc) lẫn nhau. Không hệ phược lẫn nhau, hư vọng tâm không sanh, hư vọng pháp không sanh, hư vọng ngã không sanh. Ba món này không sanh, ưu bi, khổ não, triền phược, tham sân v.v... không sanh. Ưu bi, khổ não, triền phược, tham sân v.v... không sanh. Thanh tịnh, Niết bàn, an vui sẽ hiện khởi.

Thân, tâm, trí tuy chung sống với nhau mà không hệ phược lẫn nhau, Phật đạo gọi là “cộng trú mà không cộng sinh”. Cảnh giới này chính là quả vị “li thân” trong Phật đạo.

Li thân tuy là quả vị đầu tiên trong Phật đạo, nhưng nó lại là quả vị cực kì quan trọng đối với người tu hành. Bởi thân là tài sản quý nhất đối với một chúng sanh. Khi tài sản quý nhất ấy không thể làm ta mê muội thì, các thứ khác sẽ khó có thể làm ta mê muội. Mà, hết mê muội, hay hết vô minh chính là một trong những yêu cầu đặt ra đối với người học tập trong Phật đạo.

Để giúp người học tập trong Phật đạo không bị mê muội bởi năm món sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Để giúp môn đệ thấy rõ bản chất của năm món ấy. Từ đó thân, tâm, trí không còn câu sanh với nhau, có thể tự chứng quả vị li thân (yểm li triệt để thân tâm), thành tựu đạo quả giải thoát Đức Phật đã dạy:

“Sắc, này các Tỳ kheo, là vô ngã. Này các Tỳ kheo, nếu sắc là ngã, thời sắc không thể đi đến bệnh hoạn, và có thể được các sắc như sau: “Mong rằng sắc của tôi là như thế này! Mong rằng sắc của tôi chẳng phải như thế này!

Và này các Tỳ kheo, vì sắc là vô ngã, do vậy, sắc đi đến bệnh hoạn, và không thể có được các sắc: “Mong rằng sắc của tôi như thế này! Mong rằng sắc của tôi chẳng phải như thế này!

Thọ, này các Tỳ kheo, là vô ngã. Này các Tỳ kheo, nếu thọ là ngã, thời thọ không thể đi đến bệnh hoạn, và có thể được thọ như sau: “Mong rằng thọ của tôi như thế này! Mong rằng thọ của tôi chẳng phải như thế này!

Và này các Tỳ kheo, vì thọ là vô ngã, do vậy, thọ đi đến bệnh hoạn, và không thể có được các thọ: “Mong rằng thọ của tôi như thế này! Mong rằng thọ của tôi chẳng phải như thế này!

Tưởng là vô ngã. Các hành là vô ngã, này các Tỳ kheo, nếu các hành là ngã, thời các hành không thể đi đến bệnh hoạn, và có thể được các hành như sau: “Mong rằng các hành của tôi như thế này! Mong rằng các hành của tôi chẳng phải như thế này!

Và này các Tỳ kheo, vì các hành là vô ngã, do vậy, các hành đi đến bệnh hoạn, và không thể có được các hành như sau: “Mong rằng các hành của tôi như thế này! Mong rằng các hành của tôi không phải như thế này!

Thức là vô ngã, này các Tỳ kheo, nếu thức là ngã, thời thức không thể đi đến bệnh hoạn, và có thể có được thức như sau: “Mong rằng thức của tôi như thế này! Mong rằng thức của tôi chẳng phải như thế này!

Và này các Tỳ kheo, vì thức là vô ngã, do vậy, thức đi đến bệnh hoạn, và không có thể có được thức: “Mong rằng thức của tôi như thế này! Mong rằng thức của tôi chẳng phải như thế này!

.........

Này các Tỳ kheo, các ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?

- Là vô thường, bạch Thế tôn.

- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

- Là khổ, bạch Thế tôn.

- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?“

- Thưa không, bạch Thế tôn.

.....

Thức là thường hay vô thường?

- Là vô thường, bạch Thế tôn.

- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

- Là khổ, bạch Thế tôn.

- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?

- Thưa không, bạch Thế tôn. Do vậy, này các Tỳ kheo, phàm sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh trí huệ như sau: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi.

..........

Thấy vậy, này các Tỳ kheo, bực Ða văn Thánh đệ tử yểm ly đối với sắc, yểm ly đối với thọ, yểm ly đối với tưởng, yểm ly đối với các hành, yểm ly đối với thức. Do yểm ly, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã được giải thoát.“ Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.

Thế tôn thuyết như vậy. Nhóm năm vị Tỳ kheo hoan hỷ, tín thọ lời Thế tôn dạy. Trong khi lời dạy này được nói lên, tâm của nhóm năm vị Tỳ kheo được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ....” (Trích Ðại Tạng kinh Việt Nam - Tương Ưng Bộ - Quyển 3 - Phẩm Tham Luyến - VII - trang 125 129 - Tạng Pali: Samyutta Nikaya, S,iii, 66)

Tóm lại, muốn giác ngộ các đạo quả trong Phật đạo. Ly thân tuy chưa phải là cảnh giới xuất thế, tuy chỉ là cảnh giới tiên khởi có được từ việc yểm li, thậm chí nó không được coi là chính thống trong hệ thống quả vị của Phật đạo. Vì rằng, cảnh giới này chỉ tương đương đệ tứ thiền trong thiền định, chỉ tương đương càn tuệ địa trong việc dùng ý chí dập tắt ý thức v.v... Nhưng, nó lại là bước khởi đầu không thể thiếu, nó là bàn đạp giúp người tu hành tiến đến những giác ngộ cao hơn để thể nhập các cảnh giới thuộc đạo quả vô lậu, xuất thế, hay giải thoát.

Giống như một người muốn lên đường đi xa, mà không thể cất bước ra khỏi ngôi nhà của mình thì, chuyến đi chỉ là chuyện... kể... cho... vui. Đây là lí do vì sao Phật dạy: “Để điều phục tâm thức chúng sanh, Như Lai đặt yên người tu hành ở cõi trời Sắc Cứu Cánh...” Đặt yên người tu hành ở Sắc Cứu Cánh Thiên hay quả vị Ly Thân chính là bệ phóng tốt nhất, là bước khởi đầu thắng diệu giúp người tu hành đủ điều kiện chiến thắng lực hấp dẫn của thân kiến, sẵn sàng rời xa sắc ấm để bay vào quỹ đạo vô lậu, giải thoát... thành tựu Sắc Vô Lậu, Sắc Giải Thoát và Sắc Thường Trụ.

Riêng, ví dụ mà Huỳnh Tâm đã nêu trong bài viết:

“Ví dụ: Trong gia đình, ý kiến ba mẹ thì là phải mời thầy, pháp sư về để cúng bái cho gia đạo an yên. Trường hợp này, nếu Thân, Tâm con không để cảnh này vướng mắc và để ba mẹ cứ mời thầy, cứ cúng bái, tốn tiền thì việc con áp dụng phương pháp ly thân như vậy có phải là con đang thờ ơ và để việc ba mẹ cúng bái cầu thần linh như thế cứ diễn ra thì có phù hợp việc học Phật và áp dụng đạo Phật không ạ. Con cảm ơn Thầy và Ban quản trị ạ” (hết ví dụ).

Huỳnh Tâm thân mến!

Mình đọc đi đọc lại mà chẳng hiểu ví dụ này có liên quan gì đến quả vị “li thân” hiện tại chúng ta đang luận bàn.

Hình như Huỳnh Tâm đã chưa thể tách bạch trong lòng giữa việc học tập Phật pháp của bản thân với các sinh hoạt tâm linh từ gia đình.

Theo mình, học tập Phật pháp và sinh hoạt tâm linh của gia đình là hai việc làm mang hai ý nghĩa khác nhau. Trong quá trình học tập, ta không nên “để tâm trí rơi vào cực đoan” rằng, ta nên tôn trọng điều này hoặc phủ nhận điều kia, mà phải biết dung hòa giữa việc riêng là học tập của bản thân và sinh hoạt chung của gia đình mới không đưa đến các xung đột không đáng có.

Cần nhất là, dung hòa trong mọi sinh hoạt, nhưng bản thân “không mê muội” trước những thứ ta đang dung hoà ấy. Làm được như thế, mọi thứ có diễn ra thế nào cũng không làm ta vướng bận.Từ đó, cuộc sống gia đình sẽ tốt đẹp thêm, việc học tập sẽ dễ dàng hơn.

Hy vọng, những giải thích vừa rồi, có thể giúp Huỳnh Tâm và bạn đọc thoả mãn những thắc mắc đã nêu.

Chúc an vui, tinh tấn, thành ở đời, đạt ở đạo!

Rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người.

09/10/2024

LÝ TỨ

Tác Phẩm Lý Tứ

CBL.37 - Sự Khác Nhau Giữa Tứ Đạo Và Tứ Quả

MB 857 Lý Diệu Sinh 23.08.2025

Tóm lại bốn đạo lộ hay “tứ đạo” mà bạn đã hỏi chính là bốn con đường, bốn giai đoạn, bốn giáo trình học tập nhằm giúp người học hoàn thành bốn cấp học của thánh đạo, gồm: 1) Gia hạnh đạo; 2) Vô gián đạo; 3) Giải thoát đạo; 4) Thắng tiến đạo.

Các bạn!

Trong tuần, Ban quản trị đã nhận được hai thắc mắc của bạn đọc có tên TN Hoà Nhã gởi về theo địa chỉ hotline của Lý Gia...

Nội dung câu hỏi như sau:

“Adidaphat! Cho con xin hỏi Tứ Đạo khác Tứ Quả như thế nào ạ?” 

05/10/2025!
TN Hoà Nhã

*****

Về câu hỏi của TN Hoà Nhã. Mình xin trả lời như sau!

“Tất cả các thánh quả trong Phật đạo đều có đạo lộ của nó. Từ đạo lộ này, người tu hành từng bước theo đạo lộ ấy tiến tu cho đến viên mãn từng thánh quả gọi là thánh đạo.

Việc học tập giáo pháp, cũng giống như học tập ở đời. Mỗi cấp lớp đều có khởi điểm và kết thúc. Ví dụ, người học trò muốn hoàn thành cấp tiểu học, đạo lộ của họ bắt đầu từ lớp một, kết thúc ở lớp năm. Các cấp học sau đều như vậy. Đối với các thánh quả của Phật đạo, khởi điểm của mỗi đạo quả gọi là “hướng quả”, kết thúc gọi là “quả vị”. Tiến trình từ hướng quả đến quả vị gọi là “thánh đạo”.

Người xưa tạm gọi con đường hay đạo lộ của tứ thánh quả (Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán) bằng khái niệm chuyên môn có tên “bốn đôi tám vị”.

Bốn đôi tám vị gồm:

1- Nhập lưu (hướng Tu đà hoàn) thánh đạo, đến Nhập lưu thánh quả (Tu đà hoàn quả); Đạo lộ từ Nhập lưu thánh đạo đến Nhập lưu thánh quả, có tên gọi là Gia hạnh đạo.

2- Nhất lai (hướng Tư đà hàm) thánh đạo, đến Nhất lai thánh quả (Tư đà hàm quả); Đạo lộ từ Nhất lai thánh đạo đến Nhất lai thánh quả, có tên gọi là Vô gián đạo.

3- Bất lai (hướng A na hàm) thánh đạo, đến Bất lai thánh quả (A na hàm quả); Đạo lộ từ Bất lai thánh đạo đến Bất lai thánh quả, có tên gọi là Giải thoát đạo.

4- A la hán (hướng A la hán) thánh đạo, đến A la hán thánh quả (A la hán quả); Đạo lộ từ A la hán thánh đạo đến A la hán thánh quả, có tên là Thắng tiến đạo.

Tóm lại bốn đạo lộ hay “tứ đạo” mà bạn đã hỏi chính là bốn con đường, bốn giai đoạn, bốn giáo trình học tập nhằm giúp người học hoàn thành bốn cấp học của thánh đạo, gồm: 1) Gia hạnh đạo; 2) Vô gián đạo; 3) Giải thoát đạo; 4) Thắng tiến đạo.

Việc dạy và học trong Phật đạo phải căn cứ vào tứ đạo này để lần lượt giúp người học chứng tứ quả thánh là: Tu đà hoàn (Nhập lưu); Tư đà hàm (Nhất lai); A na hàm (Bất lai) và A la hán (Vô sanh).

Xét về Tứ thánh quả của Nhị thừa và Thập trụ quả của Bồ tát thừa. Ta thấy có sự tương đồng như sau: (Đây là học trình mà tất cả HĐ Lý Gia đều phải học tập trong các lớp Giáo Pháp Căn Bản đến Giáo Pháp Nâng Cao, thành viên BKG chú ý).

1- Đạo lộ Gia hạnh đạo (hướng Tu đà hoàn đến Tu đà hoàn quả): Tương đương Sơ phát tâm trụ đến Tu hành trụ của Tư lương vị Bồ tát. Đây là giai đoạn học tập để chuẩn bị hành trang tiến về Vô lậu quả bằng các pháp căn bản của đạo pháp.

2- Đạo lộ Vô gián đạo (hướng Tư đà hàm đến Tư đà hàm quả): Tương đương Sanh quý trụ đến Chánh tâm trụ của Kiến đạo vị Bồ tát. Đây là giai đoạn học tập để hoàn thành các đạo quả Vô lậu trong Phật đạo.

3- Đạo lộ Giải thoát đạo (hướng A na hàm đến A na hàm quả): Tương đương Chánh tâm trụ đến Bất thối trụ của Xuất thế vị Bồ tát. Đây là giai đoạn học tập “hậu Kiến đạo vị”. Việc học tập trong giai đoạn này, gồm các học phần giúp người học bước từ Vô lậu đạo đến Xuất thế đạo, viên mãn “Bất cộng phàm phu pháp”.

4- Đạo lộ Thắng tiến đạo (hướng A la hán đến A la hán quả): Tương đương Đồng chơn trụ đến Quán đảnh trụ của Tu đạo vị Bồ tát. Đây là giai đoạn học tập giúp Nhị thừa chứng rốt ráo Đạo quả giải thoát (sau đó Nhị thừa được khai Diệu pháp để thể nhập Phật tri kiến); Riêng giai đoạn này, ngoài việc học tập Phật tri kiến, Bồ tát còn được Đạo sư khai thị để chứng rốt ráo hai Vô sanh (minh tâm kiến tánh), đồng thời Đạo sư dùng Tam Muội Giác Gia Trì, giúp Bồ tát một lần nữa nhận ra con đường học tập để chứng Vô thượng trí mới là bản hoài của chư Phật, thoát khỏi Niết bàn Chơn đế.

Kết luận, “Tứ đạo” chính là bốn học trình giúp người học thành tựu “Tứ quả” (Tứ thánh quả).
 

Hy vọng, những giải thích vừa rồi, có thể giúp TN Hoà Nhã và bạn đọc thoả mãn những thắc mắc đã nêu.

Chúc an vui, tinh tấn!

Rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người.

07/10/2024

LÝ TỨ

Subscribe to