CBL.64.2 - Khái Niệm Phật Quốc Độ Hay Thế Giới Thiện Trị Là Gì?
Phật quốc độ, chính là xã hội Thiện trị truyền thống của Phật Giáo. Ở đó, mọi thành viên được bình đẳng sống, bình đẳng học tập và bình đẳng an hưởng trên tinh thần lấy thiện pháp để chế ngự tự tâm rồi thành tựu trí tuệ cao nhất.

Tiểu Luận: Vai Trò Của Tứ Chánh Cần Trong Hệ Thống Giáo Pháp, Và Làm Thế Nào Để Xác Định Đâu Là Thiện, Đâu Là Ác Đối Với Các Tầng Bậc Tu Hành
2. Khái Niệm Phật Quốc Độ Hay Thế Giới Thiện Trị Là Gì?
Trong kinh Phật để lại, chúng ta thấy đề cập đến rất nhiều cõi Phật. Và hầu như mọi người đồng nghĩ rằng, thế giới đó ở cách xa chúng ta, thậm chí con người không thể đến đó trong lúc còn sống. Hoặc giả, người ta đánh đồng hay liên tưởng đến các Phật quốc độ giống những Thiên đường, nơi được cai quản bởi một đấng bề trên đầy uy lực.
Hiểu biết về một Phật quốc độ hay xã hội Thiện trị như vậy, là mặc nhiên tước đoạt quyền tự định đoạt số phận của mỗi hữu tình, nó thiên về khuynh hướng cầu xin hay ban bố ơn phước. Điều này đi ngược lại khẩu hiệu “các ông là Phật sẽ thành” và “hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi”. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Phật dạy: “Đại sự nhân duyên Phật ra đời là để khai thị ngộ nhập Phật tri kiến cho chúng sanh”. Câu này có nghĩa rằng, hoài bão của Chư Phật là, giúp hết thảy chúng sanh có được thấy biết như một Đức Phật. Chính thấy biết này, vị chúng sanh đó sẽ tự thành một vị Phật, và tự thiết lập cho mình một Phật quốc, trước khi thành Phật, vị ấy cũng là thành viên của Phật quốc. Và cũng trong kinh này, phẩm Thọ Ký ra đời, Thọ Ký của Đức Phật chính là sự xác chứng năng lực thành Phật của một hữu tình, điều này nói lên rằng, thành Phật không phải là một đặc ân dành riêng cho một chúng sanh cá biệt nào, mà nó là hệ quả tất yếu của quá trình đi theo sự soi rọi của ngọn đuốc Giáo Pháp bằng chính nỗ lực của vị chúng sanh ấy.
Phật quốc độ, chính là xã hội Thiện trị truyền thống của Phật Giáo. Ở đó, mọi thành viên được bình đẳng sống, bình đẳng học tập và bình đẳng an hưởng trên tinh thần lấy thiện pháp để chế ngự tự tâm rồi thành tựu trí tuệ cao nhất. Dùng thiện pháp để chế ngự tự tâm và thành tựu trí tuệ cao nhất, là hình thức của Thiện trị. Thành tựu tối thượng thiện hay thành Phật để đạt cứu cánh rốt ráo chân thiện mĩ là mục tiêu cuối cùng của xã hội này. Muốn đạt được mục tiêu cao cả, các thành viên trong xã hội đó tích cực chế ác tăng thiện, ta quen gọi là tinh tấn hay Tứ Chánh Cần. Tinh tấn hay Tứ Chánh Cần vừa là động lực, vừa là định hướng giúp người tu hành lần lượt chiếm lĩnh từng quả vị từ thấp lên cao, cho đến khi nào vị ấy đạt được mục tiêu cuối cùng. Vì thế Tứ Chánh Cần trong xã hội Thiện trị trở thành thể chế quản lý xã hội, vừa là định chế phát huy các quyền căn bản trên tinh thần tự giác của mỗi thành viên.
(còn nữa)
CBL.64.1 - Phật Đạo Dưới Góc Nhìn Vĩ Mô
Ngọn đuốc giáo pháp của Đức Phật, mà cụ thể là triết lý tăng thiện đoạn ác tức Tứ Chánh Cần, đã đáp ứng được yêu cầu này trong thực tế về cả hai phương diện, đó là thành tựu tối thượng chân thiện mĩ trong mỗi con người...

Tiểu Luận: Vai Trò Của Tứ Chánh Cần Trong Hệ Thống Giáo Pháp, Và Làm Thế Nào Để Xác Định Đâu Là Thiện, Đâu Là Ác Đối Với Các Tầng Bậc Tu Hành
1. Phật Đạo Dưới Góc Nhìn Vĩ Mô
Khát vọng xây dựng một “xã hội Thiện trị hay Phật quốc độ”, để tất cả mọi người cùng chung sống hạnh phúc trong xã hội đó, là khát vọng cao cả nhất của nhân loại. Nhân loại luôn luôn ước mơ được sống trong một thế giới mà, tất cả các thành viên bình đẳng đạt đến mục tiêu cuối cùng của “chân thiện mĩ”, đây là khát vọng từ trước đến nay, con người chưa bao giờ thôi tìm kiếm.
Mọi người đều biết rằng, chỉ khi nào mỗi con người thành tựu tối thượng chân thiện mĩ ngay trong bản thân họ, thì bây giờ những con người ấy chính là nhân tố hình thành một Thiện thế giới, và lúc đó xã hội Thiện trị sẽ trở thành hiện thực. Và người ta cũng ý thức được rằng, chỉ có một xã hội Thiện trị, các giá trị nhân bản mới có thể phát huy tuyệt đối bằng chính trí tuệ tối thượng. Và cũng chỉ có một Thiện xứ như vậy, mới là điểm đến cuối cùng đủ sức làm thoả mãn tất cả ước vọng của con người.
Khát vọng này, đã được nhân loại đeo đuổi từ bao đời nay, người ta dùng nhiều hình thức, nhiều triết lý để cố tạo dựng một xã hội như vậy. Nhưng kết quả từ thực tế cho thấy, con người chưa bao giờ và có lẽ sẽ không bao giờ có thể đạt được ước nguyện của mình, nếu không có một phép mầu hay một triết lý đủ mạnh để làm phương châm thực hiện. Chính vì lẽ đó, trước những bế tắc của thực tế, con người lại tìm đến việc cậy nhờ thần linh, hay cậy nhờ một chủ thể siêu hình xa xôi nào đó thiết lập một xã hội Thiện trị, với hy vọng làm sống lại khát vọng được chung sống trong một Thiện xứ đầy đủ những điều tốt đẹp nhất.
Thế nhưng, thần linh hay siêu hình trong sâu thẳm của những khái niệm này ở mỗi con người, chỉ là một trong những hình thức của “tự an ủi” khi nỗ lực bản thân trở thành vô vọng. Và từ trong sâu thẳm đó, con người cũng biết chắc rằng, các đấng như vậy nếu có, họ cũng chỉ sống trong thế giới riêng của họ, và thần linh hay siêu hình trong thực tế, không thể chung sống với con người bằng lý do này hay lý do khác, và các đấng siêu hình lại càng không thể nắm tay từng con người bằng xương bằng thịt trên tinh thần cứu rỗi để đưa con người đến cõi của ước mơ Thiện trị ngay trong hiện tại.
Vì thế, các hình thức cứu rỗi từ trước đến nay, đều mang nặng triết lý siêu hình, và hầu như người ta chỉ được nghe nói đến thế giới này qua những phán truyền hay là lời hứa, những phán truyền hay lời hứa cứu rỗi cũng chỉ sẽ được thực hiện trong một vị lai rất xa, thậm chí sau khi con người không còn hiện diện trên cõi đời khổ đau này nữa, lúc ấy may ra con người mới có thể được đấng siêu nhiên nào đó dẫn lối để họ chạm tay vào cánh cửa Thiện xứ. Và sự cứu rỗi ấy, cũng chỉ cứu rỗi với những ai hội đủ các điều kiện của nó, và cho dù đã được cứu rỗi, hay đang sống trong xã hội Thiện trị xa xăm nào đó, sự buộc ràng cuối cùng cũng chưa vì thế được tháo gỡ, có nghĩa rằng ở đó, “anh luôn luôn thuộc về tôi và luôn luôn là của tôi!”
Trong cơn tuyệt vọng của nhân loại về một xã hội Thiện trị, với những con người hoàn hảo chân thiện mĩ, tuyệt vọng này đã thôi thúc một Đẳng Chánh Giác ra đời. Với khẩu hiệu “các ông là Phật sẽ thành”, khẩu hiệu này đã làm sống lại hy vọng được sống trong một xã hội Thiện trị ngay trong hiện tại này, chứ chẳng phải những lời hứa mơ hồ sau khi con người chết đi. Một Thiện xứ hiển nhiên được thiết lập ngay trong hiện tại, không riêng gì đối với nhân loại, mà hết thảy hữu tình cũng biết rằng, rồi chính mình cũng sẽ hưởng rất nhiều lợi ích từ một xã hội như vậy.
Với khẩu hiệu “hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi”, Đức Phật đã tận tay trao ngọn đuốc giáo pháp cho hết thảy những ai có mong muốn đi đến hoặc tự thiết lập một Thiện xứ, và được sống hoặc chung sống trong một xã hội Thiện trị. Ngọn đuốc giáo pháp của Đức Phật, mà cụ thể là triết lý tăng thiện đoạn ác tức Tứ Chánh Cần, đã đáp ứng được yêu cầu này trong thực tế về cả hai phương diện, đó là thành tựu tối thượng chân thiện mĩ trong mỗi con người, mà Phật Đạo gọi đó là Vô Thượng Trí, và thiết lập một thiện thế giới theo thể chế Thiện trị, Phật Đạo gọi là Thiện quốc độ, Tịnh quốc độ hay Thiện xứ.
(còn tiếp)
CBL.64 - Tiểu Luận: Vai Trò Của Tứ Chánh Cần Trong Hệ Thống Giáo Pháp, Và Làm Thế Nào Để Xác Định Đâu Là Thiện, Đâu Là Ác Đối Với Các Tầng Bậc Tu Hành
Phát nguyện trước khi viết tiểu luận.

Phát nguyện trước khi viết tiểu luận:
“Còn một ngày sống thừa trên trần gian, con xin nguyện cúng dường thân tâm này, dùng làm dầu thắp sáng ngọn đèn Chánh Pháp”
15/02/2016
LÝ TỨ
CBL.63 - Thói Quen Tư Duy Vào Đầu Hôm
Mình nghiệm ra, nửa đêm là lúc con người ta sáng suốt nhất. Trong cái thanh vắng của đêm khuya, năng lượng được phục hồi, đây là điều kiện tối ưu để người tu hành khám phá những nghĩa lý thâm diệu trong Phật đạo.

Các bạn!
Thói quen nửa đêm thức dậy uống trà, tư duy Phật pháp đã hình thành trong con người mình mấy chục năm rồi, hình như thói quen này có từ rất lâu. Hồi mới bắt đầu tu tập.
Ngày xưa, lúc mới bắt đầu tu tập, để ngồi thiền không bị buồn ngủ, mình uống cà phê đen thật đậm mỗi buổi tối. Có những đêm mình và Lão Đại (Thầy của mình) rủ nhau ra quán uống cà phê đen, nói chuyện đến khuya, sau đó về nhà và bắt đầu kéo chân lên ngồi. Cứ thế, ngày qua ngày gần ba mươi năm, công việc lặp đi lặp lại như một cỗ máy!
Bây giờ, mỗi tối mình không còn uống cà phê để khỏi buồn ngủ nữa, cũng lâu lắm rồi, mình không có “cảm giác buồn ngủ”. Một vài năm trở lại đây, mình có thói quen tập thể dục buổi chiều, đêm về mệt quá, mình lên giường nằm cho cơ thể nghĩ ngơi, phục hồi. Và, nửa đêm lại bò dậy uống trà, đọc kinh, nghiên cứu Phật đạo hay tư duy một điều gì đó...
Hôm nay, cũng thói quen này. Nửa đêm, mình nhận được hình ảnh thọ Bồ Tát Giới của HĐ miền Trung và email của chị Ba thông báo việc tu tập ngày mai của HĐ bên Mỹ. Mình đã chuyển hình ảnh đó đến các bạn, trả lời chị Ba và viết email này...
Mình nghiệm ra, nửa đêm là lúc con người ta sáng suốt nhất. Trong cái thanh vắng của đêm khuya, năng lượng được phục hồi, đây là điều kiện tối ưu để người tu hành khám phá những nghĩa lý thâm diệu trong Phật đạo. Bao nhiêu bài viết cho các bạn, đã được mình thực hiện từ thời gian này đến sáng, nhờ đó chúng ta có được rất nhiều tư liệu bổ ích!
Mình ngẫm nghĩ, không biết giờ này các bạn đang làm gì nhỉ? Có HĐ nào đã tận dụng cái “thanh vắng của lúc nửa đêm” để tu học hay không? Các bạn hãy thử một lần, sẽ thấy sự sáng suốt của trí não lúc nửa đêm tốt hơn bất kỳ thời gian nào trong ngày!
06-04-2017
LÝ TỨ
CBL.62 - Tụng Đọc, Cảm Nhận ‘Kinh Viên Giác’
Đoạn kinh cho thấy, hình ảnh một Thiện Tri Thức đích thực không giống những gì do túi khôn người đời vẽ ra, mà hình như nó có một chút gì đó khác với những nhận định về một Thiện Tri Thức từ cái túi khôn ở đời thường hình dung! Xin chuyển đến các bạn để tham khảo...

Các bạn!
Mình cũng nhận được đoạn trích trong Kinh Viên Giác do một HĐ gửi về.
Đoạn kinh cho thấy, hình ảnh một Thiện Tri Thức đích thực không giống những gì do túi khôn người đời vẽ ra, mà hình như nó có một chút gì đó khác với những nhận định về một Thiện Tri Thức từ cái túi khôn ở đời thường hình dung! Xin chuyển đến các bạn để tham khảo...
Trích Kinh VIÊN GIÁC [*dẫn trích]
Chương PHỔ GIÁC.
“Lúc đó, Bồ Tát Phổ Giác, ở trong đại chúng, từ tòa ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, nhiễu phía hữu 3 vòng, quỳ dài chắp tay mà bạch Phật rằng:
Đại bi Thế Tôn! Ngài đã nói về căn bệnh của thiền thật là thấm thía, khiến cho hết thảy đại chúng, được nghe những việc chưa từng có, tâm ý chúng con đều rất đỗi vui mừng, được chỗ an ổn thật lớn lao.
Bạch Thế Tôn! Chúng sinh đời mạt, cách Phật ngày một xa, hiền thánh lại ẩn náu, tà pháp càng xí thịnh, vậy nay phải khiến cho mọi chúng sinh, tìm đến những hạng người nào? Y vào pháp gì? Thực hành hạnh gì? Trừ bỏ những bệnh gì? Và phải phát tâm như thế nào? Khiến cho những quần manh kia, không đọa vào tà kiến.
Nói như thế rồi, 5 vóc gieo xuống đất, thỉnh cầu như thế, trước sau 3 lần.
Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo Bồ Tát Phổ Giác rằng:
Tốt lắm thay! Tốt lắm thay! Thiện nam tử! Như các ông mới có thể hỏi về cách tu hành như thế ở Như Lai, để hay ban cho hết thảy chúng sinh đời sau con mắt đạo vô úy, khiến cho tất cả chúng sinh kia, được thành Thánh đạo. Ông nay nghe cho kỹ, ta sẽ vì ông nói.
Khi đó Bồ Tát Phổ Giác vui mừng, vâng lời Phật dạy và chư đại chúng đều im lặng lắng nghe.
Thiện nam tử! Chúng sinh đời mạt pháp, muốn phát tâm rộng lớn, những người muốn tu hành, tìm thiện tri thức, phải nên tìm người có hết thảy chính tri kiến. Người này, tâm không trụ ở tướng, không đắm ở cảnh giới Thanh văn, Duyên giác, tuy hiện vào chốn trần lao mà tâm hằng thanh tịnh. Tỏ ra có mọi lỗi, mà vẫn tán thán phạm hạnh, không để cho chúng sinh phải trái phạm luật nghi.
Người cầu đạo như thế, tức được thành tựu A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Chúng sinh đời mạt, thấy người như thế, nên phải cúng dường, không tiếc thân mệnh.
Bậc thiện tri thức kia, ở trong 4 uy nghi, thường hiện thanh tịnh. Rồi lại thị hiện ra mọi thứ lỗi lầm (như người thế gian), mà tâm không kiêu mạn. Nữa là, lại như việc ăn uống, của cải, vợ con quyến thuộc (mà coi rằng thực có) vậy ư?
Nếu thiện nam tử! Đối với thiện tri thức kia, không khởi mối nghĩ xấu, người này sẽ rốt ráo thành tựu được chính giác, hoa lòng nở rộ, chiếu sáng cả mười phương cõi...”
(Trích Kinh Viên Giác, HT. Thích Trí Quang)
CBL.61 - Luận Về ‘Túi Khôn’ Của Người Đời
Thực tế trong giao tiếp, hai người chưa đến nơi, chưa gặp mặt, nhưng “cái túi khôn” đến trước! Vì thế, khi những cái túi khôn gặp nhau, không xảy ra bất ổn mới là chuyện lạ!

Các bạn!
Nhân câu chuyện “túi khôn” của người đời, hôm qua mình có buổi trao đổi với một số HĐ về đề tài này.
Trong lúc trao đổi, một kết luận được đưa ra, đó là:
“Người tu hành hết ngu, nội tâm sẽ an.
Bỏ túi khôn xuống, thế giới sẽ ổn! Vì vậy:
Muốn được an ổn thì phải hết ngu, ...và:
Đừng có làm tài khôn vặt!”
Thực tế trong giao tiếp, hai người chưa đến nơi, chưa gặp mặt, nhưng “cái túi khôn” đến trước! Vì thế, khi những cái túi khôn gặp nhau, không xảy ra bất ổn mới là chuyện lạ!
Trong cuộc sống khi đối diện với chính mình, người ta lại mê muội, cái túi khôn bỗng dưng “cao chạy xa bay”, dành chỗ cho cái ngu thống trị. Nên: Bất an là... anh hàng xóm tốt nhất của... tự... thân!
Khuya nay, đọc được đoạn văn ngắn của Tâm Pháp cũng luận về việc “khôn và ngu”. Bài viết cho thấy HĐ chúng ta cũng trăn trở chuyện này, và những kiến giải của Tâm Pháp ‘tạm coi là thấu tình đạt lý’!
Ha ha ha ha! Kẻ nào luận được chuyện khôn ngu, nhất định sẽ có ngày hết ngu!
CBL.60 - Chung Tay
Viết những dòng tâm sự này, mình rất mong trong mỗi HĐ chúng ta, hãy chung tay vì cái chung, vì Giáo Pháp, tất cả cùng ngồi lại, bỏ cá nhân xuống, chung sức tìm phương án tốt nhất, để mỗi kỳ sinh hoạt đạt chất lượng tốt hơn, lớn mạnh hơn và thu hút hơn.

Các bạn!
Chiều hôm qua, trời mưa lớn. Rỗi rảnh, ngồi xem trận bóng đá coi như “chung kết ngược” của hai đội cuối bảng giải V-League. Đội nào thua, sẽ có nguy cơ xuống đá giải hạng nhất.
Trong hai đội tranh chung kết ngược, tránh đứng cuối bảng xếp hạng, có một đội trẻ được đào tạo rất bài bản nhiều năm ở một học viện bóng đá nổi tiếng của xứ ta. Có nghĩa rằng, những cầu thủ này hơn hẳn các cầu thủ đội khác về chuyên môn, kỹ thuật, do được đào tạo chuyên nghiệp.
Thế nhưng, từ đầu giải đến giờ, đội bóng trẻ này càng đá càng thua, thua ngay trên sân nhà. Tất nhiên, với sân khách thì họ chỉ biết thua và thua!
Trong lúc mắt thì xem bóng đá, nhưng đầu óc miên man nghĩ đến HĐ. Mình có cảm giác, phần lớn HĐ chúng ta giống như những cầu thủ trẻ này. Tuy được đào tạo bài bản, tuy được rèn luyện trong môi trường bóng đá chuyên nghiệp nhiều năm. Nhưng cứ đá là thua!
Như vậy, cái gì đã làm họ không chiến thắng? Mình nhận ra, lực lượng này chưa trở thành một tập thể gắn kết, nặng cá nhân, thiếu khôn ngoan, chưa có chiến thuật cho riêng từng trận đấu, không nắm vững từng đối thủ để có cách khắc chế. Cứ trận nào cũng như trận nào, chỉ có một lối đá, có một miếng chiến thuật. Để rồi, những ngày đầu giải, khán giả hâm mộ rất đông, đặt kỳ vọng vào họ, nhưng càng đá càng thua, thua đến độ khán giả thất vọng và chán nản!
Nhìn tình cảnh của HĐ chúng ta sinh hoạt ở vài nơi, có cái gì đó hao hao giống đội bóng trẻ. Từng cầu thủ một thì rất hay, nhưng để trở thành một đội bóng lại quá dở! Cái khắc nghiệt của bóng đá là, tính đồng đội rất cao, phải đặt lên trên hết, cái giỏi của một cá nhân phải biết phát huy cùng với tập thể, mọi thứ phải được thống nhất, thì từng con người ấy mới làm nên chiến thắng. Giống như câu chuyện bó đũa, một chiếc đũa dễ bẻ gãy, một bó đũa mới vững chắc.
Viết những dòng tâm sự này, mình rất mong trong mỗi HĐ chúng ta, hãy chung tay vì cái chung, vì Giáo Pháp, tất cả cùng ngồi lại, bỏ cá nhân xuống, chung sức tìm phương án tốt nhất, để mỗi kỳ sinh hoạt đạt chất lượng tốt hơn, lớn mạnh hơn và thu hút hơn.
10-08-2015
LÝ TỨ
CBL.59 - Giáo Đa Thành Oán
Bây giờ là lúc, chúng ta phải chấp nhận mài dũa, chấp nhận làm cho hết những tỳ vết không đáng có trong một viên ngọc. Cái đã quý rồi, nhất định phải bắt nó trở thành quý nhất.

Các bạn!
Người xưa vẫn thường nói: “Giáo đa thành oán”. Câu này có nghĩa, giáo huấn nhiều thì bị chúng ghét. Sau này, người ta đọc trại ra thành “gáo tra dài cán” (Gáo: Vật dụng múc nước ngày xưa làm bằng vỏ trái dừa. Cán: Tay cầm, phần lớn làm bằng tre, được gắn xuyên qua cái gáo để dễ múc nước...)
Xưa nay, mình vẫn thường áp dụng phương châm “gáo tra”, chứ không đặt nặng “giáo đa”. Nhưng, nếu cứ áp dụng phương châm này, suốt ngày ve vuốt nhau, chỉ biết tán thán khen ngợi cho vừa lòng mọi người, tra thêm cái cán cho nó dài một tý để mọi người hoan hỷ. Thì, biết đến bao giờ, những “viên ngọc của Phật Đạo mới có thể là những viên ngọc đẹp nhất và chiếu sáng nhất đây”.
Bây giờ là lúc, chúng ta phải chấp nhận mài dũa, chấp nhận làm cho hết những tỳ vết không đáng có trong một viên ngọc. Cái đã quý rồi, nhất định phải bắt nó trở thành quý nhất.
Viết đến đây, mình trực nhớ chưởng pháp “cách sơn đả ngưu”. Chưởng pháp này, người đứng bên này núi, phát công lực, con trâu bên kia núi, ngã cái đùng, chết queo! Chưởng lực mà đánh chết trâu, thì chẳng thứ gì còn.
Có việc tréo ngoe, đó là người học thần công, chẳng ai mong muốn dùng sở trường này để giết trâu bao giờ mà chỉ mong dùng nó để khắc chế bọn ác. Nhưng mà, ở đời nhiều khi tổ trác, công lực phát ra, bọn ác không chết, mà con trâu lại... chết... queo! Ha ha ha ha!
31-07-2015
LÝ TỨ
CBL.58 - Chuyện Làng Ta
Muốn chiến lược thành công, chiến thuật của mỗi trận đánh phải cầm chắc phần thắng, muốn chắc thắng phải “biết mình biết người”. Biết mình trong trường hợp này là “năng lực tư duy”, biết người trong trường hợp này là “khả năng quan sát”.

Các bạn!
Trong Phật Đạo, Tứ Đế và ba mươi bảy phẩm là giềng mối quan trọng để đưa người từ địa vị một phàm phu, như pháp tiến về Vô Thượng Trí Tuệ.
Ta có thể hình dung Tứ Đế và ba mươi bảy phẩm như là “chiến lược tổng thể của một mặt trận lớn”. Trong đó mỗi một đế, mỗi một phẩm là “chiến thuật cụ thể cho từng trận đánh”.
Muốn chiến lược thành công, chiến thuật của mỗi trận đánh phải cầm chắc phần thắng, muốn chắc thắng phải “biết mình biết người”.
Biết mình trong trường hợp này là “năng lực tư duy”, biết người trong trường hợp này là “khả năng quan sát”. Khi chuyển các câu hỏi đến HĐ, mình muốn làm một cuộc “khảo sát hai điều trên” từ các HĐ thông qua những gì chúng ta đã học tập bấy lâu nay. Đọc trả lời của HĐ, mình có vài nhận xét sau:
Phần lớn các HĐ trình bày một cách dàn trải, nặng về kiến thức mà thiếu thực dụng, thể hiện được chiều rộng nhưng bỏ sót chiều sâu.
Bản thân mình, kiến thức Phật Pháp không tệ, thế nhưng có nhiều bài khi đọc lên, mình không hình dung nổi các bạn muốn trình bày điều gì. Chỉ toàn là lý mà thiếu hẳn phần sự, vì thế “tính thực dụng” không cao, hiệu quả chiết phục và dẫn người không đạt. Như thế, nếu một người sơ cơ, thì họ biết đâu mà ứng dụng?
Trong khi đó, câu hỏi nêu rất rõ đối tượng là ai, những gì là trọng tâm cần trình bày, để người nghe có thể nắm bắt và ứng dụng. Các bạn lại không chú ý đến điều này, các bạn chỉ chú trọng đến “cái hiểu của mình”.
Điều này nói lên rằng: Các bạn có tư duy, nhưng lại không quan sát. Nếu chỉ dừng lại ở địa vị tự cứu, thì có thể chỉ cần tư duy là đủ. Nhưng đây là giai đoạn chúng ta học độ tha, ngoài việc tư duy, còn phải biết quan sát đối tượng. Mình thường hay nhắc một điều mà các bạn lại quên, điều đó là: Tự độ thì chỉ cần “như vầy”, nhưng độ tha thì phải biết “như kia”...
Đọc bài viết của các bạn, mình liên tưởng đến câu chuyện ngoài đời. Xin kể lại cho vui.
“Vị lãnh đạo trung ương về thăm một làng quê nghèo. Vị lãnh đạo hỏi ông xã trưởng:
• Vụ mùa này, bà con ta xuống giống có thuận lợi không?
Vị xã trưởng nghe xong, bèn hào hứng báo cáo nguyên cả chủ trương lớn của toàn xã hội, đó là: “Chiến lược xây dựng nông thôn mới từ nay đến năm 2030 và định hướng đến năm 2050...”
Vị lãnh đạo và toàn thể bà con nghe xong:
???”
Các bạn!
Hy vọng, chúng ta sẽ rút ra được điều gì đó trong đợt câu hỏi này. Lợi mình đã xong, nay ta phải tính đến chuyện lợi người chớ.
Trong Tâm Pháp có nói rằng: “Phật đạo không chủ trương tồn tại trên những lý luận”. Chiến lược tổng thể, cái vĩ mô trong Phật Giáo và Thiền không thiếu. Nếu đọc kỹ Tâm Pháp, các bạn sẽ thấy từng chiến thuật một, được áp dụng cho từng đối tượng cụ thể.
Bây giờ là lúc, chúng ta tập ra chiêu, tung đòn quyết định, hạ gục đối thủ. Những gì thuộc về “chiến lược tổng thể” thời gian trước các bạn đã nhuần nhuyễn rồi. Phải vận dụng một “tư duy mới” thôi các bạn ạ! Võ sĩ lên đài, đứng trước đối thủ mà “chơi nguyên một bài quyền” thì: Thể hiện xong bài quyền, vị võ sĩ đó cũng bị “lỗ mũi ăn
trầu” và trận đấu kết thúc... sớm... bửng!
21-08-2014
LÝ TỨ
CBL.57 - Kinh Nghiệm Trận Mạc
Cho nên, gần đây HĐ chúng ta ra công nghiên cứu, tìm hiểu giáo pháp, để tự mình có được một số vốn kiến thức nhất định của Phật Đạo là việc làm đúng đắn đối với mỗi HĐ chúng ta trong giai đoạn này. Cho đến khi nào, những kiến thức này trở thành kỹ năng thì nhất định trăm trận trăm thắng!

Các bạn!
Hôm qua nhân đi chinh chiến phương xa với một số HĐ. Chiều đến, trận chiến đã tàn, địch quân rút hết nhân mã. Mình và các HĐ đã tham chiến, bèn ngồi lại mổ xẻ, rút kinh nghiệm trận đấu.
- Một số kết luận được rút ra từ trận đánh: Vì sao địch quân mau chóng thảm bại ngay từ nhát gươm đầu tiên?
1) Đối phương không được trang bị một hệ thống lý luận đủ mạnh và có sức thuyết phục. Vì thế khi tác chiến, ngay từ đầu đã bị quân ta tước vũ khí trên tay của họ.
2) Nếu đối phương có một chút lý luận thì, lý luận này không có cơ sở vững chắc, thiếu thực tế, vì thế không thể tự bảo vệ. Giống như thanh gươm không có chuôi gươm, cũng không có miếng thép đủ cứng để làm vật chắn ở đầu chuôi nhằm tránh đứt tay khi hai thứ vũ khí va chạm vào nhau.
- Vì thế, để mọi trận đánh đều dành được thắng lợi, một số ý kiến sau được nêu lên:
1) Điều đầu tiên, muốn chiến thắng, người chiến binh phải được trang bị một hệ thống lý luận vững chắc, hệ thống lý luận này là vũ khí, là khiên, là giáp. Giúp chúng ta thủ và công toàn diện.
2) Phải nắm vững chiến lược tổng quát, và áp dụng từng chiến thuật hợp lý cho mỗi trận đánh, tuỳ vào mỗi loại đối tượng. Sẽ không có mặt trận nào giống mặt trận nào.
Cho nên, gần đây HĐ chúng ta ra công nghiên cứu, tìm hiểu giáo pháp, để tự mình có được một số vốn kiến thức nhất định của Phật Đạo là việc làm đúng đắn đối với mỗi HĐ chúng ta trong giai đoạn này. Cho đến khi nào, những kiến thức này trở thành kỹ năng thì nhất định trăm trận trăm thắng!
Điều này giống như một người muốn rèn luyện để có đôi tay khéo léo, bàn tay vàng. Điều đầu tiên, người này phải có đủ hai tay, và hai bàn tay phải toàn vẹn, không tật nguyền, thì sự rèn luyện mới đạt được thành quả như ý.
Hai bàn tay đủ mười ngón chính là cơ sở lý luận, không khuyết tật tức là kiến thức này phải chuẩn, không khiếm khuyết, không sai lệch. Đủ hai điều trên, nhất định sẽ rèn luyện thành công!
24-02-2014
LÝ TỨ