CBL.36 - Hãy Tự Mình Thắp Đuốc Lên Mà Đi
Vì thế, cầu học chánh pháp, hiểu đúng chánh pháp và ứng dụng chánh pháp vào đời sống một cách triệt để. Chính là việc làm cần thiết, quan trọng nhất, giúp người tu hành trong Phật đạo không bị u mê, lạc lối.

Các bạn!
Rất mau chóng chỉ một ngày sau khi gửi đường link mới của chuyên mục đến mọi người... Ban quản trị đã nhận được thắc mắc của độc giả Huỳnh Tâm ở Lâm Đồng. Nội dung câu hỏi như sau...
“Đức Phật từng nói, mỗi người tự thắp đuốc lên mà đi, thì nhiều bạn đã thấy cuộc đời vô thường, cuối cùng qua ải tử cũng 1 mình nên đã 1 mình tu tập, không màng đến bạn đồng tu vì cho rằng qua cửa tử thì mình có đi chung đường với ai đâu. Suy nghĩ như vậy có đúng không ạ và làm sao để khai sáng, hiểu con đường tu tập cho đúng ạ.
Trên con đường tu tập thì vai trò bạn đồng tu và môi trường tu tập là rất quan trọng. Làm sao để nhiều bạn đang tự tu 1 mình, vì cho rằng phải tự thắp đuốc lên mà đi, hiểu rõ tầm quan trọng của bạn đồng tu trong quá trình tu tập ạ. Em cảm ơn ạ.”
02/10/2024 6:32:37
Huỳnh Tâm - Lâm Đồng
*****
Huỳnh Tâm và bạn đọc thân mến!
Lời đầu tiên, thay mặt Ban quản trị, xin tán thán Huỳnh Tâm đã có câu hỏi gửi về Ban quản trị sớm nhất.
Sau khi đọc nội dung, mình có cảm giác các bạn của Tâm đã hiểu lời dạy của Phật “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi” thành ra câu “Hãy tự đi một mình”. Vì thế, các bạn ấy đã rời bỏ bạn đồng tu và môi trường chung để tiến tu đơn độc. Về việc này, mình xin có vài góp ý sau:
1- Ý nghĩa của lời dạy: “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi”:
Để làm sáng tỏ ý nghĩa, xin trích dẫn một đoạn kinh liên quan đến lời dạy trên:
“Này các thầy Tỳ kheo, thế nào là tự mình thắp đuốc mà đi, hãy thắp lên ngọn đuốc chánh pháp, đừng thắp lên từ một pháp nào khác, và hãy nương tựa với chính mình, hãy nương tựa với chánh pháp, đừng nương tựa một pháp nào khác. Ấy là Tỳ kheo quán thân trên thân, siêng năng không biếng nhác, nhớ mãi không quên để trừ tâm tham ưu, sân hận và si mê. Cho đến quán ngoại thân và quán nội thân và quán nội ngoại thân. Siêng năng không biếng nhác, nhớ mãi không quên để trừ tâm tham ưu ở thế gian. (Trích Trường Bộ Kinh - tập 1).
Theo tinh thần đoạn kinh vừa trích thì, Phật dạy người tu hành phải biết nương tựa chánh pháp, phải biết biến chánh pháp thành ngọn đuốc. Và, bản thân người tu hành phải tự thắp ngọn đuốc chánh pháp lên, dùng nó soi rọi tâm thức để chấm dứt tham ưu, sân hận, si mê v.v... Không nên nương tựa vào một pháp (hay cách tu hành) nào khác.
Lời dạy này không hàm ý khuyên người tu hành nên tu tập một mình, hay tu tập trong môi trường chung có các bạn đồng tu.
2- Nên tu tập một mình hay tu tập trong môi trường có nhiều bạn đồng tu?
Về câu hỏi này, theo mình vấn đề đặt ra ở đây là, “làm thế nào để ta có được ngọn đuốc chánh pháp” mới là chiếc “chìa khoá quan trọng” giải mã hai tình huống nêu trên.
Vì rằng, khi đã có ngọn đuốc chánh pháp, và ngọn đuốc chánh pháp ấy đã được thắp lên thì, cho dù tu một mình dưới hình thức độc cư, hay tu tập trong môi trường có bạn đồng tu đều cho ra kết quả tốt đẹp. Đó là, thành tựu các yêu cầu hoặc mục tiêu mà giáo pháp đã đề ra.
Ngược lại, người không được học tập chánh pháp, không biết biến chánh pháp thành ngọn đuốc để soi rọi tâm thức. Cho dù, người ấy có tu một mình, hay tu trong môi trường chung, nhất định không thể thành tựu các mục tiêu giáo pháp đề ra như diệt trừ tham ưu, sân hận, si mê.
Tuy nhiên, tu hành trong Phật đạo giống người chiến binh ra trận giết giặc phiền não tham sân. Như người hàng ngày dùng pháp thực để nuôi lớn pháp thân. Như người mắc bệnh nan y, thường xuyên trông cậy Thầy thuốc và điều dưỡng chăm sóc v.v... Cho nên, tu hành một mình, không có đạo sư và đồng môn hỗ trợ, rất dễ thối chuyển cũng như gặp nhiều trở ngại khách quan từ ngoại duyên mà một người đơn độc tu hành rất khó vượt qua.
Người xưa đã đúc kết các điều trên bằng những câu nói như: “Ăn cơm có canh, tu hành có bạn”, hoặc “hổ li sơn hổ bại, tăng li chúng tăng tàn”. Thiết nghĩ, những đúc kết vừa rồi cũng là lời nhắc nhở quý báu giúp chúng ta biết chọn cho mình môi trường tu tập hợp lí.
3- “Suy nghĩ như vậy có đúng không và làm sao để khai sáng, hiểu con đường tu tập cho đúng?”
- Một người không, hoặc chưa được trang bị các kiến thức cơ bản, vô lậu của chánh pháp một cách đúng đắn để phát sinh chánh tư duy, mà chỉ sử dụng kiến thức ở đời hoặc sức khôn ngoan lanh lợi của bản thân để suy nghĩ (tư duy) về Phật đạo, nhất định việc làm này rất khó thấu đáo các lời dạy mang nội hàm vô lậu của Đấng Vô Lậu. Vì thế, người chưa học tập văn hoá vô lậu, cần coi lại các suy nghĩ chủ quan, hữu lậu từ các hiểu biết mang màu sắc lậu hoặc ấy.
- Để khai sáng tâm thức, hiểu đúng con đường tu tập: Chánh pháp chính là ngọn đuốc tối ưu giúp ta khai sáng tâm thức. Chánh pháp chính là tấm bản đồ hoàn hảo nhất giúp ta hiểu rõ con đường tu hành. Ngoài chánh pháp, nhất định không có ngọn đuốc và tấm bản đồ nào khác có thể chỉ đúng đường và đủ năng lực khai sáng tâm thức.
- Vì thế, cầu học chánh pháp, hiểu đúng chánh pháp và ứng dụng chánh pháp vào đời sống một cách triệt để. Chính là việc làm cần thiết, quan trọng nhất, giúp người tu hành trong Phật đạo không bị u mê, lạc lối.
Hy vọng, những trả lời vừa rồi có thể giúp Tâm và bạn đọc thoả mãn những gì đã thắc mắc.
Chúc các bạn mau chóng tìm thấy chánh pháp và biến chánh pháp thành ngọn đuốc soi sáng tâm thức. Chúc an vui, tinh tấn.
Rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người.
03/10/2024
LÝ TỨ
CBL.35 - Làm Thế Nào Để Bất Thối Chuyển?
Để vị lai không mất đi những quả vị đã đạt được trong hiện tại, người tu hành phải thành tựu một trong sáu chủng tánh của Phật đạo, gọi là “Lục chủng tánh anh lạc”.

Các bạn!
Sau trả lời kì 04/2024, mình lại nhận tiếp một số thắc mắc của bạn đọc Minh An. Nội dung các thắc mắc như sau:
“Dạ con kính chào Thầy !
Con mừng quá vì được Thầy hồi âm và chỉ dạy rõ thêm cho con cùng mọi người rằng để Giác Ngộ chúng ta cần nhận thức đúng và thực chứng từ bản thân.
Qua câu trả lời của Thầy, con mới biết cần cụ thể hóa hơn chỗ NHẬN THỨC ĐÚNG. Không phải chỉ chung chung là nhận thức đúng chánh pháp, mà cần cụ thể: Nhận thức
rõ, chi tiết về tâm của mình, và nhân sinh như kiếp người, đời sống, thân tâm các hữu tình khác. Nếu được, xin Thầy dạy giúp con cần học, nhận tri thức đúng này ở bài dạy nào của Thầy để con được rõ hơn thưa Thầy?
CÂU HỎI THỨ 2:
Con rất mong Thầy dạy để con không vướng đọng, được rõ ràng cách tu tập tiếp theo, bởi cái hiểu hồi giờ của con rằng: Chúng sanh hữu tình theo nghiệp lực, cứ mãi trầm luân đầu thai lên xuống 6 đường.
Vậy có phải con người, con chó sau khi chết có một cái biểu hiện thân tướng gì khác theo nghiệp lực, chẳng hạn như lên trời thành tiên, thần, chó, mèo, cá, ma, quỷ. Giống như câu “Đời sau muốn làm người khó như rùa mù ngàn năm mới gặp bọng cây 1 lần?”
Con gần đây đọc bài dạy của Thầy, được hiều rằng: 3 cõi, 6 đường là chỉ tâm thức, chứ không phải thế giới vật chất? Nhưng có câu chuyện được đọc trong quyển sách Thầy nói về 1 người bạn hỏi về việc báo hiếu của Mục Kiền Liên, vẫn nhờ chư tăng cứu mẹ ở địa ngục? Con lại chưa được rõ lắm về ý Thầy muốn dạy chỗ này?
Rất mong được Thầy dạy thêm cho con!
CÂU HỎI THỨ 3:
Con mong được rõ: Nếu không đạt được cột mốc quả vị bất thối chuyển (Chỉ có tiến tu chứ không bị ảnh hưởng bởi nghiệp lực nữa, mà sẽ vì nguyện lực mà dấn thân hỗ trợ
giúp đỡ chúng sanh - lúc này tâm thức không còn bị ngoại cảnh chi phối tâm trí Giác Ngộ nữa).
a) Cái cột mốc này, trong Lý Gia gọi tên là gì thưa Thầy? Và cách tu tập như thế nào ạ?
b) Tu tập cách nào, tâm ý khởi nguyện thế nào để không mất đi những quả vị tu tập, dù cảnh duyên nào cũng chỉ có tiến chứ không lùi, trầm luân nhiều đời kiếp cứ tu được miếng rồi lại xuống ngu si mãi con thấy giống dã tràng quá?
Rất mong đủ duyên được Thầy giảng dạy cho con và chư vị hữu duyên được rõ 3 câu trên. Chúng con thành tâm kính ơn Thầy” .
28/7/2024 0:01:05
Minh An
*****
Rất vui khi nhận thêm các câu hỏi của bạn! Về các câu hỏi kì này, mình xin được trả lời như sau:
- Hỏi:
1- “Nếu được, xin Thầy dạy giúp con cần học, nhận tri thức đúng này ở bài dạy nào của Thầy để con được rõ hơn thưa Thầy?”
- Trả lời:
Để có thể nhận thức đúng về chánh pháp nhằm giúp bản thân giác ngộ, người này cần trải qua một quá trình học tập như pháp. Việc học tập này giúp người ấy thấu suốt bản chất của nghiệp, thân, tâm, thế giới, các pháp, ba cõi, lậu hoặc v.v... sau đó ứng dụng triệt để những hiểu biết ấy vào đời sống, đến khi thân chứng những gì đã học (trừ trường hợp đặc biệt nhạy bén). Vì thế, không có một bài viết đơn lẻ nào của mình hàm chứa đủ các yêu cầu nêu trên, mà nó bao gồm nhiều tri kiến khác nhau trong nhiều bài viết khác nhau... Minh An có thể tìm đọc các tài liệu đó trong những cuốn sách đã xuất
bản của Lý Tứ.
- Hỏi:
2- “Con rất mong Thầy dạy để con không vướng đọng, được rõ ràng cách tu tập tiếp theo, bởi cái hiểu hồi giờ của con rằng: Chúng sanh hữu tình theo nghiệp lực, cứ mãi trầm luân đầu thai lên xuống 6 đường.
Vậy có phải con người, con chó sau khi chết có một cái biểu hiện thân tướng gì khác theo nghiệp lực, chẳng hạn như lên trời thành tiên, thần, chó, mèo, cá, ma, quỷ. Giống như câu “Đời sau muốn làm người khó như rùa mù ngàn năm mới gặp bọng cây 1 lần?”
Con gần đây đọc bài dạy của Thầy, được hiểu rằng: 3 cõi, 6 đường là chỉ tâm thức, chứ không phải thế giới vật chất? Nhưng có câu chuyện được đọc trong quyển sách Thầy nói về 1 người bạn hỏi về việc báo hiếu của Mục Kiền Liên, vẫn nhờ chư tăng cứu mẹ ở địa ngục? Con lại chưa được rõ lắm về ý Thầy muốn dạy chỗ này? Rất mong được Thầy dạy thêm cho con!”
- Trả lời:
Về câu hỏi này của Minh An, mình xin chia làm hai phần:
a) “Con rất mong Thầy dạy để con không vướng đọng, được rõ ràng cách tu tập tiếp theo, bởi cái hiểu hồi giờ của con rằng: Chúng sanh hữu tình theo nghiệp lực, cứ mãi trầm luân đầu thai lên xuống 6 đường.
Vậy có phải con người, con chó sau khi chết có một cái biểu hiện thân tướng gì khác theo nghiệp lực, chẳng hạn như lên trời thành tiên, thần, chó, mèo, cá, ma, quỷ. Giống như câu “Đời sau muốn làm người khó như rùa mù ngàn năm mới gặp bọng cây 1 lần?”
- Theo quan điểm “tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức” của Phật đạo. Câu này có nghĩa, chúng sanh luân hồi trong ba cõi là các cảnh giới biến hiện từ tâm thức của chúng sanh ấy theo nghiệp riêng (hết thảy do tự tâm hiện - theo kinh Lăng Già), nó xoay vần theo vòng lặp của nghiệp thức (gọi là luân hồi). Tâm thức đau khổ cùng tột tạm gọi là địa ngục, hung ác không thôi tạm gọi là ngạ quỷ, u mê ám chướng tạm gọi là súc sanh v.v... chứ Phật đạo không có mục đích nói đến hay diễn dịch thế giới bên ngoài như chó, mèo, heo, gà v.v... sau khi chết sanh ra thứ gì theo cách hiểu phổ biến của thế gian.
Nếu ta thấy thỉnh thoảng kinh sách có đề cập đến các loài như vậy... đây chỉ là hình ảnh ẩn dụ, mượn ngoại duyên (thế giới bên ngoài) nhằm làm sáng tỏ nội duyên (bên trong tâm thức). Vì thế Phật dạy: “y nghĩa bất y ngữ”, tức nên y theo ý nghĩa để điều phục tâm ý, không nên y vào văn tự, lời nói hay chấp trước hình ảnh câu chuyện cho đây là điều Phật đạo muốn đề cập, nếu tin như vậy sẽ dẫn đến hiểu sai ý chỉ của giáo pháp. Ý chỉ đó là “nhất thiết Phật ngữ tâm”, tức hết thảy lời dạy của Phật, chỉ nói đến tâm này chứ không nói đến thứ khác...
- Hỏi:
b) “Con gần đây đọc bài dạy của Thầy, được hiểu rằng: 3 cõi, 6 đường là chỉ tâm thức, chứ không phải thế giới vật chất? Nhưng có câu chuyện được đọc trong quyển sách Thầy nói về 1 người bạn hỏi về việc báo hiếu của Mục Kiền Liên, vẫn nhờ chư tăng cứu mẹ ở địa ngục? Con lại chưa được rõ lắm về ý Thầy muốn dạy chỗ này? Rất mong được Thầy dạy thêm cho con!”
- Trả lời:
Về câu hỏi này, mình xin trích một đoạn trong phần trả lời câu hỏi hồi năm 2020. Minh An có thể tham khảo!
CHUYỆN MỤC LIÊN CỨU MẸ
Các bạn!
Trong tuần, Ban quản trị nhận được thắc mắc của hai bạn đọc là Tấn Trí và Bình An! Bạn Tấn Trí viết như sau:
“Thưa Thầy Lý Tứ! Con là Tấn Trí tác giả câu hỏi kì trước được Thầy trả lời qua chủ đề chân lí là của ai. Con rất thán phục, phải nói là bội phục cách giải thích vừa hóm hỉnh vừa sâu sắc của Thầy. Lần này con có một câu hỏi liên quan đến câu chuyện Mục Kiền Liên cứu mẹ trong địa ngục liên quan đến lễ Vu Lan. Con hiểu địa ngục ở trong tâm, khi người có tâm ác độc, chết sẽ thấy mình vào địa ngục, địa ngục do tâm hiện chứ không phải có một nơi chốn cụ thể như thế giới vật lý. Người không có tâm ác độc, muốn thấy địa ngục cũng không được, thành ra chuyện Mục Kiền Liên đến địa ngục thấy mẹ ở trong đó và xin Phật cứu có hoang đường quá hay không? Đặt giả sử Mục Kiền Liên muốn đến địa ngục thì đi bằng con đường nào? Mong Thầy lí giải để làm sáng tỏ câu chuyện này.
Con xin chúc Thầy khoẻ mạnh!
25/08/2020 5:05:30
Tấn Trí
1) Tấn Trí thân mến!
Về những gì liên quan đến chuyện Mục Kiền Liên cứu mẹ không riêng gì bạn, mà rất nhiều người cũng có những thắc mắc như vậy!
Như những gì bạn trình bày, mình hoàn toàn đồng ý! Địa ngục chỉ là cảnh giới do tâm mê biến hiện! Nó thuộc loại “độc ảnh cảnh”. Tức chỉ bản thân người tạo ác nghiệp, khi ác quả hiện tự thấy như vậy, những người khác không cùng thấy! Giống như chiêm bao, người nằm chung giường, đắp chung chăn cũng không thấy cảnh chiêm bao của người kia!
Về câu chuyện này có hoang đường hay không? Theo mình thì, ta chỉ nên tìm xem câu chuyện đó muốn gửi gắm điều gì! Vì rằng, cho dù câu chuyện đó có hoang đường, nhưng giúp người nghe hướng thiện, biết hiếu thảo, bỏ ác theo thiện v.v... Như vậy, nội dung câu chuyện đã đạt yêu cầu về mặt giáo dục, cũng như thành công trong việc quảng bá đạo lí thiện lương của nó!
Riêng về các chi tiết trong câu chuyện, bạn hỏi: “Đặt giả sử Mục Kiền Liên muốn đến địa ngục thì đi bằng con đường nào?” Trước khi trả lời câu hỏi này, chúng ta cũng nên tìm hiểu một chút về Mục Kiền Liên!
Ngài Mục Kiền Liên có danh hiệu là Đệ nhất thần thông! Thần thông có hai loại, đó là Thần cảnh trí thông và Thần thông ngôn thuyết!
Muốn học tập Thần cảnh trí thông, người này phải tin sâu và hiểu rõ lí nhân quả theo nguyên lí Thập như thị! Khi nhìn thấy nhân, người này căn cứ vào Thập như thị để quán quả! Khi thấy quả, người này ngược dòng Thập như thị để quán nhân! Quán đến thuần thục, thấy nhân sẽ biết quả và thấy quả sẽ biết nhân!
Thần thông ngôn thuyết, là một trong những phương pháp dùng ngôn thuyết để khiến người nghe tưởng về một hay nhiều cảnh giới nào đó! Trong Phật đạo, các Thiện tri thức thường dùng Thần thông ngôn thuyết để khiến người giác ngộ, đi từ cảnh giới thế gian sang cảnh giới xuất thế! Vì Mục Kiền Liên là Đệ nhất thần thông, và là người rất hiếu thảo! Do vậy, tuy đã theo Phật đạo, nhưng mỗi khi nhớ lại những nhân bất thiện mẹ ông đã gieo trước đây, ông biết chắc mẹ mình không thể thoát khỏi ba đường ác!
Chính từ sự hiếu thảo, đã làm cho Mục Kiền Liên đau xót, bất an (tưởng ra cảnh mẹ mình đang chịu thống khổ trong địa ngục)!
Để giải quyết sự đau xót và bất an trong lòng Mục Kiền Liên! Phật thiện xảo bày phương tiện, dùng sức chú nguyện của các thánh tăng sau lễ Tự tứ để cầu cho mẹ Mục Kiền Liên hết tội! Mục Kiền Liên tin Phật làm theo! Nhờ thế, Mục Kiền Liên tin mẹ đã thoát khỏi ba đường ác! Từ đó, những ray rứt, bất an trong lòng không còn nữa, yên tâm tu tập!
Theo mình, nếu chúng ta tư duy câu chuyện Mục Kiền Liên cứu mẹ theo hướng tích cực ở trên, sẽ đạt được ba yêu cầu, đó là:
- Về yêu cầu giáo pháp: Cách giải thích trên, giúp ta thấy được thế nào là sức thiện xảo của Phật đạo và hiểu rõ Mục Kiền Liên tìm mẹ bằng con đường nào! Cũng như cách giải quyết một hữu vi pháp thông qua phương tiện hình tướng!
- Về yêu cầu giáo dục: Ta thấy trong mẩu chuyện có phần hoang đường đó, lại hàm chứa nội dung hiếu thảo rất cần thiết cho người đời!
- Về yêu cầu tín ngưỡng, văn hoá: Ta không phủ nhận những lợi ích nhất định những gì từ tín ngưỡng cũng như văn hoá bày ra! Giúp ta không tận hữu vi! Tất nhiên, cách giải thích trên hoàn toàn mang tính chủ quan của mình, không hẳn là đúng nhất! Chỉ mong, sau những lời giải thích trên, Tấn Trí có cái nhìn sâu hơn, bao dung hơn, tích cực hơn từ những câu chuyện có vẻ hoang đường nhưng ẩn chứa tinh thần hướng thiện!
..................” (hết trích)
01/09/2020
LÝ TỨ
- Hỏi:
3- “Con mong được rõ: Nếu không đạt được cột mốc quả vị bất thối chuyển (Chỉ có tiến tu chứ không bị ảnh hưởng bởi nghiệp lực nữa, mà sẽ vì nguyện lực mà dấn thân hỗ trợ giúp đỡ chúng sanh - lúc này tâm thức không còn bị ngoại cảnh chi phối tâm trí Giác Ngộ nữa).
a) Cái cột mốc này, trong Lý Gia gọi tên là gì thưa Thầy? Và cách tu tập như thế nào ạ?
b) Tu tập cách nào, tâm ý khởi nguyện thế nào để không mất đi những quả vị tu tập, dù cảnh duyên nào cũng chỉ có tiến chứ không lùi, trầm luân nhiều đời kiếp cứ tu được miếng rồi lại xuống ngu si mãi con thấy giống dã tràng quá?”
- Trả lời:
a) Cột mốc này, trong Lý Gia gọi tên là gì thưa Thầy? Và cách tu tập như thế nào ạ?
- Trong Lý Gia cũng gọi là bất thối. Và cách tu tập, là phải học tập để giác ngộ cảnh giới bất thối, giống như câu hỏi số 1: Để có những nhận thức đúng với chánh pháp nhằm giúp bản thân giác ngộ, điều này bao gồm cả quá trình học tập, thấu suốt và ứng dụng triệt để. Vì thế, không có một bài viết đơn lẻ nào của mình hàm chứa đủ các yêu cầu nêu trên!
Mong Minh An thông cảm!
b) “Tu tập cách nào, tâm ý khởi nguyện thế nào để không mất đi những quả vị tu tập, dù cảnh duyên nào cũng chỉ có tiến chứ không lùi, trầm luân nhiều đời kiếp cứ tu được miếng rồi lại xuống ngu si mãi con thấy giống dã tràng quá?”
- Để vị lai không mất đi những quả vị đã đạt được trong hiện tại, người tu hành phải thành tựu một trong sáu chủng tánh của Phật đạo, gọi là “Lục chủng tánh anh lạc”. Xin trích một đoạn nói về “Lục chủng tánh anh lạc” trong chuyên mục hồi tháng 07 năm 2020!
SÂN CHƠI TRỰC TUYẾN LÝ GIA CHỦ ĐỀ: KHAI TRƯƠNG CHUYÊN MỤC!
Các bạn!
Liên tiếp những buổi sinh hoạt trực tuyến vừa qua của HĐ Lý Gia! Mình theo dõi và quan sát, nhận thấy các buổi sinh hoạt đã đem lại lợi ích vô cùng to lớn cho HĐ chúng ta về nhiều phương diện!
Buổi tối vừa rồi, khi nghe SĐ Lý Minh Pháp trình bày đề tài “Lục chủng tánh anh lạc”, sau đó được nghe các HĐ đặt câu hỏi, tham gia thảo luận. Mình chỉ biết thốt lên: “HĐ chúng ta giỏi quá, không có một câu hỏi nào liên quan đến Phật pháp có thể làm khó được HĐ chúng ta”. Có thể nói, kết quả có được hôm nay, là sự kế thừa của hơn 10 năm miệt mài tu học của HĐ Lý Gia. Hơn 10 năm vun trồng, cây bồ đề Lý Gia đã đến hồi đơm hoa kết trái!
Cho đến giờ này, không phải Lý Gia thắp sáng một hay hai cây đuốc, mà Lý Gia đã thắp sáng rất - rất nhiều cây đuốc. Để rồi mai đây, rừng đuốc của Lý Gia tạo thành đạo tràng Vô Tận Đăng soi sáng cho tất cả những ai hữu duyên! Một thế giới Hoa Tạng tưởng chừng chỉ có trong kinh điển, giờ đây đã trở thành hiện thực nơi cõi đời này!
Xin chân thành cảm ơn tất cả những HĐ tốt của chúng ta, những Phật tử chân chánh đã chung tay làm nên câu chuyện “kì sự hi hữu này!”
Để giúp các HĐ không có điều kiện tham gia các buổi sinh hoạt trực tuyến. Để giúp bạn đọc có dịp tìm hiểu và rồi tự trang bị cho bản thân những kiến thức cần thiết của Phật đạo v.v... Mình quyết định khai trương chuyên mục SÂN CHƠI TRỰC TUYẾN CỦA LÝ GIA trên FANPAGE LÝ TỨ sau mỗi buổi sinh hoạt trực tuyến! Chuyên mục này cũng giống như những kênh học tập khác từ fanpage!
Về nội dung chuyên mục! Bài viết không ghi lại nội dung đề tài chủ toạ trình bày. Mà chỉ ghi lại nội dung các câu hỏi và trả lời của HĐ chúng ta! Cụ thể như sau:
Hỏi:
“Lục chủng tánh anh lạc” là gì? Làm thế nào để biết mình đã thành tựu một chủng tánh nào đó trong sáu chủng tánh?
Trả lời:
“Lục chủng tánh anh lạc” là sáu chủng tánh bất thối (Avaivartika = A Bệ Bạt Trí = Bất thối chuyển) trong Phật đạo! Người tu hành trong Phật đạo chỉ khi nào thành tựu một chủng tánh cho đến sáu chủng tánh, mới được coi là tu tập đúng hướng và đúng chánh pháp!
Gọi “Lục chủng tánh anh lạc” là vì, sáu chủng tánh này giống như sáu viên ngọc quý (ngọc Anh Lạc) được xâu chuỗi để trang nghiêm tự thân!
Sáu chủng tánh Anh Lạc gồm: Tập chủng tánh; Thánh chủng tánh; Tánh chủng tánh; Đạo chủng tánh; Đẳng giác chủng tánh và Diệu giác chủng tánh! Bốn chủng tánh đầu, từ Tập chủng tánh đến Đạo chủng tánh do đạo quả Tứ đế làm nên! Hai chủng tánh sau, do trí tuệ và công hạnh làm thành!
Các chủng tánh Anh Lạc thuộc đạo quả bất thối! Vì thế, người thành tựu một chủng tánh trong sáu chủng tánh, cho dù bất kì ở hoàn cảnh nào, tâm trí của vị đó cũng như chủng tánh mình đạt được mà đón nhận sự việc! Ví như, người đã thành tựu Tập chủng tánh, trong mọi lúc, mọi nơi, mọi thời... cho dù thuận duyên hay nghịch duyên, tâm trí của vị ấy đều không bị kiết sử, phiền não, lậu hoặc chi phối! Đây là dấu hiệu để người ấy nhận biết rằng, bản thân đã thành tựu Tập chủng tánh! Các chủng tánh khác đều có những dấu hiệu nhận biết đặc trưng giúp người tu hành nhận ra thành tựu của mình!
.........” (hết trích)!
29/07/2020
LÝ TỨ
Minh An và bạn đọc thân mến!
Hầu như các câu hỏi của Minh An gởi về lần này, một số thắc mắc có nội dung tương tự đã được bạn đọc hỏi từ những năm trước. Mọi người có thể tìm hiểu đầy đủ các câu trả lời từ Fanpage Lý Tứ, Website Lytu.vn hoặc group Lý Gia. Chúc Minh An bà bạn đọc an vui, tinh tấn!
Rất mong, nhận được nhiều câu hỏi lí thú và bổ ích về Phật đạo từ mọi người.
30/07/2024
LÝ TỨ
CBL.34 - Cận Tử Nghiệp
Tóm lại, nghiệp ác hay thiện tùy thuộc vào hạt nhân đã gieo, hạt nhân này được “lặp đi lặp lại một cách thuần thục” trong đời sống, chứ không phải kết quả của “một sự cố tình cờ” như thuyết “cận tử nghiệp diễn giải”.

Các bạn!
Mình vừa nhận được thắc mắc của bạn đọc có tên Minh An! Nội dung như sau:
“Dạ con kính chào Thầy Lý Tứ!
Lời đầu tiên con Kính chúc Thầy nhiều sức khỏe, và chúc cho chính con được phước đức lớn, Thầy trụ thế dài lâu!
Dạ con là Minh An! Con vô cùng kính ơn những bài chia sẻ, tận tâm giảng dạy sâu sắc, thấu đáo của Thầy cho con có thể đúc kết được con đường học tập Giải Thoát, Giác Ngộ mênh mông mà mình trăn trở bấy lâu, giờ được gói gọn trong 3 từ NHẬN THỨC ĐÚNG là đồng nghĩa với Giác Ngộ phải không thưa Thầy! Đúng về Bản Chất Thân Tâm chính mình và Nhân Sinh. Con chưa được nhận hiểu thấu đáo, nên tạm được hiểu như vậy. Chỉ biết tâm vô cùng mừng rỡ, khi đã có dấu vết của 2 từ “Giác Ngộ”. Rất mong sau có cơ duyên được Thầy làm rõ cho con cũng như những Người Hữu Duyên.
Một suy tư thứ 2:
Con kính mong được Thầy dạy cho chúng con được rõ, về việc Cận Tử Nghiệp, nếu không tỉnh táo, thì đầu thai vào cõi không lành, rồi gián đoạn rất lâu nhiều đời kiếp chí nguyện Tu Tập Giác Ngộ! Cái hiểu trước đây của con như vậy, không biết đã đúng không? Nhưng con rất trăn trở không biết hiện tại đời này, mình có thể tu tập như thế nào để lúc lâm chung đến mình được nhẹ nhàng để tỉnh táo hoặc dù nhẹ nhàng hay bí bách... những duyên không lành, mà mình vẫn có thể tỉnh táo để tiếp tục con đường tiến Tu Giải Thoát Giác Ngộ ở đời sau thưa Thầy!
Con rất mong được Thầy giảng dạy rõ 2 điều trên.
Con Thành Tâm kính ơn Thầy, và lần nữa kính mong Thầy luôn An Vui khỏe mạnh ạ!
Con, Minh An Thành Kính Tri Ơn Thầy!”
21/07/2024 3:30:00
Minh An
*****
Minh An và bạn đọc thân mến!
Về hai câu hỏi của bạn, mình xin được trả lời:
- Hỏi:
1) “Dạ con là Minh An! Con vô cùng kính ơn những bài chia sẻ, tận tâm giảng dạy sâu sắc, thấu đáo của Thầy cho con có thể đúc kết được con đường học tập Giải Thoát, Giác Ngộ mênh mông mà mình trăn trở bấy lâu, giờ được gói gọn trong 3 từ NHẬN THỨC ĐÚNG là đồng nghĩa với Giác Ngộ phải không thưa Thầy! Đúng về Bản Chất Thân Tâm chính mình và Nhân Sinh. Con chưa được nhận hiểu thấu đáo, nên tạm được hiểu như vậy. Chỉ biết tâm vô cùng mừng rỡ, khi đã có dấu vết của 2 từ “Giác Ngộ”. Rất mong sau có cơ duyên được Thầy làm rõ cho con cũng như những Người Hữu Duyên.”
- Trả lời:
Về đoạn văn của Minh An, mình có thể tóm tắt nội dung như sau: “Có phải giác ngộ (trong Phật đạo) là nhận thức đúng về bản chất thân tâm của chính mình và nhân sinh hay không?”
Minh An thân mến!
Nếu ý của Minh An trong đoạn văn giống như phần tóm tắt vừa nêu thì, một người có nhận thức đúng về bản chất thân tâm của mình và nhân sinh chỉ là một trong những yêu cầu cần có của giác ngộ, chứ nhận thức này chưa hoàn toàn đại diện hoặc đầy đủ cho việc giác ngộ. Vì rằng, một người muốn giác ngộ trong Phật đạo, người ấy phải nhận thức đúng và thực chứng bản chất của nhiều thứ như: Thân, tâm, thế giới, ba cõi, nhân sinh, nhân quả, các pháp v.v...
Vấn đề đặt ra ở đây là: Như thế nào mới được coi là “nhận thức đúng” về bản chất của điều gì đó theo tinh thần Phật đạo. Vì rằng, chỉ câu “nhận thức đúng” thôi, chưa nói lên được điều gì. Rất tiếc, bạn không nói rõ, bản thân đã nhận thức như thế nào về thân tâm của bạn và nhân sinh. Chữ “nhân sinh” ở đây không biết Minh An muốn đề cập đến kiếp người, hay đời sống, thân tâm các hữu tình khác nên chúng ta chưa đủ dữ liệu nhằm rộng bàn các vấn đề tiếp theo về giác ngộ.
Hy vọng, sau phần trả lời này, Minh An có thể trao đổi rõ ràng hơn về những gì liên quan đến các nhận thức của bạn đối với các vấn đề đã nêu để chúng ta có đủ thông tin, làm cơ sở trao đổi cụ thể.
- Hỏi:
2) “Con kính mong được Thầy dạy cho chúng con được rõ, về việc Cận Tử Nghiệp, nếu không tỉnh táo, thì đầu thai vào cõi không lành, rồi gián đoạn rất lâu nhiều đời kiếp chí nguyện Tu Tập Giác Ngộ! Cái hiểu trước đây của con như vậy, không biết đã đúng không? Nhưng con rất trăn trở không biết hiện tại đời này, mình có thể tu tập như thế nào để lúc lâm chung đến mình được nhẹ nhàng để tỉnh táo hoặc dù nhẹ nhàng hay bí bách những duyên không lành, mà mình vẫn có thể tỉnh táo để tiếp tục con đường tiến Tu Giải Thoát Giác Ngộ ở đời sau thưa Thầy!”
- Trả lời:
Về thuyết “cận tử nghiệp”, mình xin được nêu lên quan điểm cá nhân: Thuyết này đối với mình có gì đó chưa thuyết phục cũng như không ổn về mặt giáo pháp chính thống. Vì rằng:
Để hình thành một nghiệp (một đời sống, một văn hoá, một nhận thức đầy đủ, một tập quán bền vững v.v...) dù nghiệp đó là tốt hay xấu, không phải là kết quả của một hành động, một tư tưởng nào đó bất chợt trong giây phút thất niệm, bất giác hay mất bình tĩnh trước khi chết v.v... Mà, nghiệp xấu hay tốt là kết quả của một quá trình huân tập (tích luỹ) dài lâu trong đời sống, tích luỹ đến khi nào sự huân tập đó trở thành chủng tử (hạt giống) trong tâm thức, nghiệp ấy mới viên mãn. Khi hạt giống nghiệp viên mãn, đủ duyên hạt giống đó mới có thể nảy mầm...
Vì thế, cho dù trong phút giây nào đó, đối với hạt giống nghiệp đã viên mãn, cho dù người đó có thất niệm, bất giác, hãi sợ hay bình tĩnh các trạng huống nhất thời này “không thể làm thay đổi hay phá hoại” chủng tử nghiệp đã có trong tâm thức. Điều này giống như một người ra sức học tập để trở thành bác sĩ, kĩ sư không thể nào trong giây phút bất giác hay sợ hãi, người này sau đó trở thành người thất học. Ngược lại, một người cả đời lêu lổng, không học tập không thể nào trong phút giây bất chợt, cho dù bình tĩnh đến lạ thường cũng không thể biến người này trở thành bác sĩ, kĩ sư. Hoặc, một người suốt đời làm thiện, nghĩ thiện không lẽ nào, trong phút giây hãi sợ lại biến thành người có tâm địa hay văn hoá của một ác nhân hoặc ngược lại.
Tóm lại, nghiệp ác hay thiện tùy thuộc vào hạt nhân đã gieo, hạt nhân này được “lặp đi lặp lại một cách thuần thục” trong đời sống, chứ không phải kết quả của “một sự cố tình cờ” như thuyết “cận tử nghiệp diễn giải”. Đây là lí do vì sao, Phật đạo đưa ra học thuyết “Chủng Tánh Anh Lạc”, thuyết này giúp người học tập Phật đạo tạo lập cho mình hạt giống tốt ở hiện tại và vị lai mà không bị chi phối bởi bất kì hoàn cảnh nào.
Nếu thuyết cận tử nghiệp là đúng, nó có năng lực thay đổi đời sống một hữu tình từ sự cố tình cờ hay phút giây bất giác nào đó thì, các nền giáo dục mang tính luân lí đạo đức kể cả giáo dục Phật đạo đều trở thành vô ích, vô dụng, vô nghĩa hay sao?
Minh An và bạn đọc thân mến!
Những đề tài như giác ngộ, nghiệp khó có thể trả lời tường tận trong một vài câu hỏi từ bạn đọc gửi về... bởi lẽ đây là các chủ đề lớn trong Phật đạo! Muốn hiểu biết tường tận, cần có quá trình học tập nghiêm túc và giác ngộ chắc thật. Trên đây chỉ là vài luận bàn sơ giao, nếu có cơ duyên, chúng ta sẽ mổ xẻ các đề tài này đến nơi đến chốn!
Chúc Minh An và bạn đọc an vui, tinh tấn!
Rất mong, nhận được nhiều câu hỏi lí thú về Phật đạo từ mọi người.
22/07/2024
LÝ TỨ
CBL.33 - Làm Thế Nào Để Dứt Kiết Sử?
Như vậy, muốn tịch diệt kiết sử ta phải làm gì? Như đã nêu ở trên, kiết sử không thật có, nó chỉ là “bóng dáng của nhận thức sai lầm!” Khi ta nhận thức sai lầm về thân, tâm, các pháp và thế giới nhất định kiết sử sẽ hiện, giống như người ta lầm sợi dây trong bóng tối, mắt nhặm nên thấy đèn có quầng!

Các bạn!
Hôm qua mùng 3 tết Giáp Thìn, mình nhận được thắc mắc của bạn Nguyễn Thị Ngọc Lợi từ địa chỉ email nguyenthingocloi.vn@gmail.com đến Website LyTu.Vn!
Nội dung câu hỏi như sau:
“Cho mình hỏi làm thế nào để gỡ được ái kiết sử ạ. Mình xin cảm ơn tác giả Lý Tứ ạ.”
*****
Ngọc Lợi thân mến!
Từ ngày khởi động chuyên mục. Mình nhận được rất nhiều câu hỏi có nội dung tương tự như nội dung Ngọc Lợi vừa nêu! Mới biết rằng, “làm thế nào để tịch diệt kiết sử” là câu hỏi mà hầu như tất cả người tu hành quan tâm!
Hay khác hơn, kiết sử là một trong “những món nợ” mà người tu hành trong Phật đạo nhận ra “phải giải quyết nó” mới mong có được an vui, hoặc xa hơn mới có thể bước một chân vào cảnh giới giải thoát hay xuất thế...
Về thắc mắc này, mình xin được trả lời như sau:
Kiết sử có 10 món, năm món thuộc lỗi hành vi gồm: Tham, sân, si, mạn, nghi. Người xưa gọi là “độn sử!” Và, năm món thuộc lỗi nhận thức gồm: Thân kiến, biên kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến và tà kiến. Người xưa gọi là “lợi sử”...
Kiết sử là những món trói buộc, người chưa giải quyết được nó không thể chấm dứt lậu hoặc. Mà, lậu hoặc chưa chấm dứt thì không thể an vui, không thể có được đạo quả giải thoát, lại càng không thể thành tựu đạo xuất thế!
Nhận ra hiểm hoạ của kiết sử là như thế! Nên, hầu hết người tu hành đều nhắm thẳng vào nó để tịch diệt (Ngọc Lợi gọi là gỡ)! Chính cách làm này, tức nhắm thẳng vào kiết sử để diệt hầu như không giúp người tu hành “tịch diệt vĩnh viễn” kiết sử, biện pháp này chỉ tạm thời làm cho kiết sử lắng xuống trong một thời gian ngắn, sau đó có cơ hội nó lại hiện lên, thậm chí kiết sử đợt sau cao hơn đợt trước, không khác gì sóng biển trong mùa mưa bão.
Vì sao sự tình lại như vậy? Vì rằng, kiết sử bản chất không thật có! Kiết sử giống như trong bóng tối người ta nhận lầm sợi dây thành con rắn, từ đó đâm ra sợ hãi, rồi tìm cách đuổi xua con rắn ấy! Hoặc, như người mắt nhặm thấy đèn có quầng, rồi từ đó tìm cách đuổi xua cái quầng đèn. Thực chất, kiết sử hiện lên trong tâm thức giống như con rắn hay quầng đèn trong hai ví dụ trên! Chính vì vậy, tìm cách đuổi xua con rắn hay quầng đèn là biện pháp không khả thi, không muốn nói là vô ích.
Như vậy, muốn tịch diệt kiết sử ta phải làm gì? Như đã nêu ở trên, kiết sử không thật có, nó chỉ là “bóng dáng của nhận thức sai lầm!” Khi ta nhận thức sai lầm về thân, tâm, các pháp và thế giới nhất định kiết sử sẽ hiện, giống như người ta lầm sợi dây trong bóng tối, mắt nhặm nên thấy đèn có quầng!
Vì thế, muốn tịch diệt kiết sử, người ta phải học tập giáo pháp để thấu suốt bản chất của thân, tâm, các pháp và thế giới! Học tập để thấu suốt bản chất thân, tâm, các pháp và thế giới chính là biện pháp hữu hiệu làm bóng tối hết tối, con mắt hết nhặm. Một khi, bóng tối không còn, con mắt hết nhặm thì, sợi dây vĩnh viễn không thể là con rắn, cái đèn vĩnh viễn không thể có quầng! Từ đây, muốn tham tham cũng không thể hiện, muốn sân si thì sân si cũng cao chạy xa bay.
Tóm lại!
- Đạo Phật là đạo giác ngộ. Muốn giác ngộ, người tu hành phải học tập Phật pháp một cách chân chánh để không còn mù tối, gọi là chánh giác, có chánh giác sẽ có giác ngộ.
- Đạo Phật là đạo giải thoát. Muốn giải thoát, người tu hành phải học tập Phật pháp một cách chân chánh để biết cái gì cột buộc tâm thức này, từ đó kiết sử không còn hiện khởi, kiết sử không hiện khởi gọi là giải thoát.
- Đạo Phật là đạo trí tuệ. Muốn có trí tuệ, người tu hành phải học tập Phật pháp một cách chân chánh để không còn ngu, mê, lầm. Hết ngu mê lầm, trí tuệ tự hiện, trí tuệ tự hiện như đèn soi bóng tối, ba tầng vô minh (nhuận chi vô minh, căn bản vô minh, vô minh trụ địa) tự dứt.
Hy vọng những trả lời vừa rồi, có thể giúp Ngọc Lợi và bạn đọc tìm thấy con đường học tập để tịch diệt ái kiết sử!
LÝ TỨ
CBL.32 - Phật Tánh - Phật Pháp - Lý Duyên Khởi
Cũng trong kinh Đại Niết bàn, Phật dạy: “Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh!” Lời dạy này có nghĩa, hết thảy chúng sanh đều có những đức tính siêu việt, cao quý như một đức Phật!

Các bạn!
Sau ngày nghỉ tết dương lịch 2024! Mình nhận được thắc mắc của bạn đọc có tên Thiện Nhân! Nội dung như sau:
“Con chào bác Lý Tứ. Con xem kinh có vài chỗ chưa hiểu, mong bác sáng tỏ giúp con!
1) Vì sao trong kinh nói “kiến Phật tánh”, mà không nói “ngộ Phật tánh” hay “chứng Phật tánh?” Ba khái niệm: Kiến, ngộ, chứng phải hiểu như thế nào mới đúng?
2) Trong kinh dạy: “Ai thấy được 12 nhân duyên sẽ thấy pháp. Ai thấy pháp sẽ thấy Phật”. Chữ “pháp” ở đây là thiệt pháp hay là huyễn pháp hay là hữu vi pháp hay là vô vi pháp? Là nguyên nhân sanh, lưu chuyển hay diệt một pháp?
3) Vì sao thấy được 12 nhân duyên không thấy luôn Phật mà phải thấy pháp? Thấy pháp rồi mới thấy Phật?
4) Vì sao 12 nhân duyên luân chuyển 3 thời (quá khứ, hiện tại, vị lai) mà không tự đoạn? Cái gì làm tương tục cho các duyên hiện và lưu chuyển?
5) Còn quá nhiều điều từ 12 nhân duyên mà con chưa thông suốt.
Xin bác Lý Tứ giải nghĩa cho con tổng quát hơn!
Con cảm ơn bác!”
30/12/2023 23:51:06
Thiện Nhân
*****
Bạn đọc và Thiện Nhân thân mến!
Về các câu hỏi của Thiện Nhân, mình xin được trả lời như sau:
- Hỏi:
1) Vì sao trong kinh nói “kiến Phật tánh”, mà không nói “ngộ Phật tánh” hay “chứng Phật tánh?” Ba khái niệm: Kiến, ngộ, chứng phải hiểu như thế nào mới đúng?
- Trả lời:
Để có thể trả lời câu hỏi của bạn, đầu tiên chúng ta cần phải hiểu khái niệm “Phật tánh” trong Phật đạo nhằm chỉ cho điều gì? Một khi hiểu được khái niệm này, chúng ta sẽ hiểu cụm từ “kiến Phật tánh” một cách không khó khăn!
Khái niệm Phật tánh trong Phật đạo, nhằm để chỉ cho các đức tánh siêu việt, cao quý của một đức Phật! Các đức tánh siêu việt, cao quý ấy gồm: “Từ, bi, hỉ, xả, thường, ngã, lạc, tịnh” (xem kinh Đại Niết bàn)! Cũng trong kinh Đại Niết bàn, Phật dạy: “Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh!” Lời dạy này có nghĩa, hết thảy chúng sanh đều có những đức tính siêu việt, cao quý như một đức Phật!
Tuy tất cả chúng sanh đều có những đức tính cao quý, siêu việt ấy! Nhưng, trong quá trình sống ở đời... Chúng sinh do không giác ngộ, nên bị vô minh, điên đảo, mê lầm v.v... nhiễm ô, khiến cho tâm thức bị bao phủ bởi các thứ như khổ, phiền não, kiết sử, lậu hoặc v.v... Do đó, tuy có Phật tánh nhưng chúng sanh không thấy được, mà chỉ thấy các thứ “tâm tánh hư vọng” từ “tâm thức hư vọng” hiện ra như khổ, phiền não v.v... mà thôi! Giống như ngày mùa đông, mặt trời tuy có đó nhưng bị mây đen, sương mù v.v... che khuất, người có mắt nhìn lên trời, chỉ thấy mây đen, sương mù... mà không thấy mặt trời.
Để giúp chúng sanh thấy được thứ cao quý mà mình đã có, hiện tại đang bị che khuất. Phật pháp ra đời giúp chúng sanh giác ngộ! Trong quá trình học tập và giác ngộ! Các thứ che chướng như khổ, phiền não, kiết sử, lậu hoặcv.v... dần dần mỏng nhẹ và tịch diệt vĩnh viễn!
Các thứ vừa nêu mỏng nhẹ rồi tịch diệt, Phật tánh dần dần hiện ra, từ đó người tu hành “kiến” (thấy, nhận ra) các đức tính cao quý ấy hiện hữu trong tâm trí của mình. Như người mù nay sáng mắt thấy được những gì cần thấy. Đây là lí do vì sao Phật đạo sử dụng cụm từ “kiến Phật tánh” (hay thấy Phật tánh), mà không dùng cụm từ “ngộ Phật tánh” hay “chứng Phật tánh!” Tất nhiên, cũng có người sử dụng ba chữ “ngộ Phật tánh” hay “chứng Phật tánh”. Nhưng, cách sử dụng này không chính xác vì thế các vị “đã giác ngộ chân chánh” không thường dùng...
Về ba chữ ngộ, kiến và chứng là từ Hán Nôm, ý nghĩa như sau:
悟 (Ngộ): Hiểu ra, vỡ lẽ, khai mở, làm cho tỉnh thức...
見 (Kiến): Thấy, trông thấy, gặp gỡ...
証 (Chứng): Chứng kiến, chứng thực, bằng chứng, đạt được...
- Hỏi:
2) Trong kinh dạy: “Ai thấy được 12 nhân duyên sẽ thấy pháp. Ai thấy pháp sẽ thấy Phật”. Chữ “pháp” ở đây là thiệt pháp hay là huyễn pháp hay là hữu vi pháp hay là vô vi pháp? Là nguyên nhân sanh, lưu chuyển hay diệt một pháp?
- Trả lời:
Chữ pháp trong câu này có nghĩa: Ai chứng ngộ (thấy) được 12 nhân duyên (hay lý duyên khởi), sẽ thấy được nguyên uỷ phát sinh các nhận thức (pháp)... Ai thấu suốt (thấy) các nhận thức (pháp) từ đâu sanh, sẽ thấy được Phật (Phật đạo, con đường đưa đến Phật quả, chỗ tịch diệt các nhận thức sai lầm). Vì vậy, chữ pháp và chữ Phật trong câu nói trên phải “khéo hiểu”...
- Hỏi:
3) Vì sao thấy được 12 nhân duyên không thấy luôn Phật mà phải thấy pháp? Thấy pháp rồi mới thấy Phật?
Trả lời:
Phật (Phật đạo) và pháp (của Phật) là hai mặt của một vấn đề! Tuy nhiên muốn thấy được Phật (Phật đạo), người tu hành phải thấy (chứng ngộ thông qua) pháp của Phật (Phật pháp). Muốn hiểu rõ (chứng ngộ) pháp của Phật, người tu hành phải chứng ngộ (thấu đạt) lý duyên khởi hay 12 nhân duyên. Vì rằng: 12 nhân duyên hay lý duyên khởi là giáo lí cơ sở quan trọng chỉ ra quy trình sinh diệt của tâm và pháp.
Đây là lí do vì sao kinh không nói “thấy 12 nhân duyên là thấy luôn Phật!”. Mà phải nói “Thấy pháp rồi mới thấy Phật”.
Về lý duyên khởi hay 12 nhân duyên, Phật dạy như sau:
“Một thời, Phật ở tại xóm Điều Ngưu, Câu Lưu Sưu. Bấy giờ có Tỳ kheo đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ Phật, rồi ngồi qua một bên, bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn, pháp duyên khởi mà Ngài nói, là do Thế Tôn làm ra hay do người khác làm ra?
- Phật bảo Tỳ kheo: Pháp duyên khởi chẳng phải do Ta tạo ra, cũng chẳng phải do người khác tạo ra. Nhưng dù Như Lai có xuất hiện hay chưa xuất hiện ở thế gian thì pháp giới này vẫn thường trụ.
Như Lai tự giác ngộ pháp này, thành Đẳng chánh giác, vì tất cả chúng sanh mà phân biệt, diễn nói, chỉ dạy hiển bày; đó là: Cái này có nên cái kia có, cái này khởi nên cái kia khởi. Tức là do duyên vô minh nên có hành... cho đến việc tụ tập thuần một khối khổ lớn. Do vô minh diệt nên hành cũng diệt... cho đến việc thuần một khối khổ lớn tụ tập cũng bị diệt”. (Trích Kinh Tạp A Hàm, kinh số 299)
- Trong kinh Đại Duyên (Trường Bộ III), khi Tôn giả A Nan khen ngợi giáo lý duyên khởi thâm thúy, thì Thế Tôn lại nhấn mạnh hơn:
“Này Ananda, chính vì không giác ngộ, không thâm hiểu giáo pháp duyên khởi này mà chúng sanh hiện tại bị rối loạn như một tổ kén, rối ren như một ống chỉ, giống như cỏ munja và lau sậy babaja, không thể nào ra khỏi khổ xứ, ác thú, đọa xứ, sinh tử”.
- Hỏi:
4) Vì sao 12 nhân duyên luân chuyển 3 thời (quá khứ, hiện tại, vị lai) mà không tự đoạn? Cái gì làm tương tục cho các duyên hiện và lưu chuyển?
- Trả lời:
Vì mê, nên 12 nhân duyên luân chuyển qua 3 thời! Dứt mê, 12 nhân duyên sẽ tự đoạn! Giác ngộ rốt ráo, các duyên tương tục, hiện và chuyển tự trở về bản chơn, thanh tịnh, giải thoát...
- Hỏi:
5) Còn quá nhiều điều từ 12 nhân duyên mà con chưa thông suốt.
- Trả lời:
Để có thể chứng ngộ và liễu tri (thông suốt) 12 nhân duyên hoặc Phật pháp, phải học tập thôi! Trong phạm vi một bài viết của chuyên mục, không thể giảng giải hết mọi thứ.
Để học tập, giác ngộ và thông suốt Phật pháp! Thiện Nhân có thể đăng kí theo học các khoá “Hạnh phúc quanh ta - Giọt mưa đầu mùa” do Lý Gia tổ chức (online). Theo dõi trên các trang truyền thông của Lý Gia để biết chi tiết, thời gian mở lớp và cách thức đăng kí. Sau đó, học tiếp các lớp cao hơn, mọi thứ sẽ minh bạch.
Hy vọng, những trả lời vừa rồi, có thể giúp Thiện Nhân và bạn đọc có cái nhìn khái quát về lý duyên khởi cũng như các thắc mắc đã nêu!
Chúc an vui, tinh tấn!
03/01/2024
LÝ TỨ
CBL.31 - Tam Giới Duy Tâm - Vạn Pháp Duy Thức
Tâm và thức là hai món khác nhau. Thức mê như cái cây, tâm mê như bóng cây. Không cây không bóng, thức hết mê tâm tịch diệt...

Các bạn!
Sau khi gửi trả lời kì 18/2023 có chủ đề Bát Nhã Trí... Mình liên tiếp nhận được các thắc mắc của bạn đọc có nickname Đệ Phạm Thượng và của Tuấn Nguyễn Trà Vinh! Nội dung các câu hỏi như sau:
I- Các câu hỏi của Đệ Phạm Thượng:
“Con đọc bài trả lời câu hỏi của anh Phạm Thượng, có vài điều chưa hiểu mong Thầy giải đáp!
1. Tại sao cũng đồng là thấy biết nhưng lúc lại phân biệt viết thấy biết là tri kiến, có lúc lại viết thấy biết là trí tuệ. Xin hỏi, hai thấy biết này có gì khác nhau không?
2. Trong kinh có nói đến: Tri kiến, trí tuệ, tuệ giác thì 3 loại này giống hay khác nhau? Nên dùng vào trường hợp nào mới đúng nghĩa của nó vậy Thầy?
3. Thầy dạy: “thấy biết người giác ngộ gọi là Bát Nhã Trí, không gọi là trí tuệ”, lúc Thầy dạy: “muốn có Bát Nhã Trí phải cầu học”. Vậy người giác ngộ đã có Bát Nhã Trí chưa? Hay phải cầu học mới có? Bát Nhã Trí là thành tựu của giác ngộ hay là thành tựu của việc cầu học?
4. Thưa Thầy, có phải người giác ngộ chỉ là tương tợ Bát Nhã, muốn có Bát Nhã Trí phải cầu học các môn phương tiện giáo hoá (huyễn trí). Thông thuộc các môn giáo hoá nên gọi là Bát Nhã Trí?
5. Thế nào là Sai Biệt Trí? Thế nào là Nhất Thiết Chủng Trí?
- Từ Khổ Trí đến Đạo Tướng Trí có tính kế thừa nào không? Cái gì kế thừa?
- Tại sao Sai Biệt Trí lại có tính kế thừa còn Nhất Thiết Chủng Trí thì không, mà có đủ công đức thì thành tựu?
Con cảm ơn thầy giải đáp ạ!”
29/08/2023 11:08:03
Đệ Phạm Thượng
II- Các câu hỏi của Tuấn Nguyễn ở Trà Vinh:
“Tôi xin chào Thầy Lý Tứ, xin Thầy giải thêm về Trí Bát Nhã mà Thầy vừa trả lời cho bạn Thượng, trong đó có câu nói rằng: Đây là thời kỳ đưa ba thừa, từ phương tiện tu học khác nhau, quan điểm khác nhau cùng đến một tri kiến chung làm chuẩn mực cho trí tuệ sau này, đó là “Tam giới Duy Tâm, Vạn Pháp Duy Thức!”
1- Khi nói phương tiện khác nhau hay quan điểm khác nhau? Đây có phải nói trên hình tướng có nhiều sai biệt, không thể hoà hợp với nhau (như thiền, tịnh, mật tông) sự khác biệt trên ngọn là như vậy, hay muốn nói cái gốc?
2- Xin hỏi: Câu “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức” ý nghĩa là gì?
3- Xin hỏi Tâm và Thức khác nhau hay giống nhau? Khác nhau ra sao? Giống nhau như thế nào?
Tôi xin cảm ơn sự chia sẻ về Phật pháp của Thầy đến với đọc giả hầu phát triển tinh thần học hỏi giáo lý nhà Phật.”
29/08/2023 12:03:40
Tuấn Nguyễn- Trà Vinh
*****
Đệ Phạm Thượng và Tuấn Nguyễn thân mến!
Về các câu hỏi của hai bạn, mình xin lần lượt trả lời như sau:
I- Các câu hỏi của Đệ Phạm Thượng!
- Hỏi:
1. “Tại sao cũng đồng là thấy biết nhưng lúc lại phân biệt viết thấy biết là tri kiến, có lúc lại viết thấy biết là trí tuệ. Xin hỏi, hai thấy biết này có gì khác nhau không?”
- Trả lời:
* Khi nói về hành trạng (dụng), dùng tri kiến!
* Khi nói về danh xưng (tên gọi), dùng trí tuệ!
* Xin xem kĩ định nghĩa từ bài 18/2023!
“Bát nhã hay Trí Tuệ là từ ngữ được phiên âm từ tiếng Phạn Prajñā (tiếng Nam Phạn: paññā, chữ Hán: 般若). Đây là thuật ngữ đặc trưng của Phật đạo, nhằm chỉ chung cho thấy biết (tri kiến) của một vị đã giác ngộ thành tựu Đạo Xuất Thế đang trên hành trình học Bát Nhã và trí tuệ của bậc Xuất Thế Gian Thượng Thượng!”
- Hỏi:
2. Trong kinh có nói đến: Tri kiến, trí tuệ, tuệ giác. 3 loại này giống hay khác nhau? Nên dùng vào trường hợp nào mới đúng nghĩa của nó vậy Thầy?
- Trả lời:
* Tri kiến, trí tuệ: Từ ngữ khác, ý nghĩa đồng...
* Tuệ giác: “Có thể hiểu đó là cái nhìn bên trong thấy rõ bản chất sự vật hiện tượng hay cái nhìn bằng nhận thức thông tuệ chứ không phải cái nhìn bằng mắt thông thường chỉ thấy cái bên ngoài sự vật hiện tượng”. Theo Wikipedia!
Muốn sử dụng các thuật ngữ tri kiến, trí tuệ, tuệ giác hợp lí trong từng trường hợp cụ thể. Phải thấu suốt ý nghĩa từng thuật ngữ và phải thành tựu các thứ ấy...
- Hỏi:
3. Thầy dạy: “thấy biết người giác ngộ gọi là Bát Nhã Trí, không gọi là trí tuệ”, lúc Thầy dạy: “muốn có Bát Nhã Trí phải cầu học”. Vậy người giác ngộ đã có Bát Nhã Trí chưa? Hay phải cầu học mới có? Bát Nhã Trí là thành tựu của giác ngộ hay là thành tựu của việc cầu học?
- Trả lời: Xem câu trả lời số 2 và 4 - Kì 18/2023!
- Hỏi:
4. Thưa Thầy, có phải người giác ngộ chỉ là tương tợ Bát Nhã, muốn có Bát Nhã Trí phải cầu học các môn phương tiện giáo hoá (huyễn trí). Thông thuộc các môn giáo hoá nên gọi là Bát Nhã Trí?
- Trả lời: Xem toàn bộ các câu trả lời kì 18/2023!
- Hỏi:
5. Thế nào là Sai Biệt Trí? Thế nào là Nhất Thiết Chủng Trí?
- Từ Khổ Trí đến Đạo Tướng Trí có tính kế thừa nào không? Cái gì kế thừa?
- Tại sao Sai Biệt Trí lại có tính kế thừa còn Nhất Thiết Chủng Trí thì không, mà có đủ công đức thì thành tựu?
- Trả lời:
* Sai Biệt Trí: Bồ Tát Trí!
* Nhất Thiết Chủng Trí: Phật Trí!
* Từ Khổ Trí đến Đạo Tướng Trí thuộc về Hữu Sư Trí (Sai Biệt Trí), tức trí này do người dạy mà được nên có tính kế thừa (giữa người dạy và học)!
* Nhất Thiết Chủng Trí thuộc về Vô Sư Trí, do đủ công đức tự thành, nên không có tính kế thừa.
II- Các câu hỏi của Tuấn Nguyễn!
“Tôi xin chào Thầy Lý Tứ, xin Thầy giải thêm về Trí Bát Nhã mà Thầy vừa trả lời cho bạn Thượng, trong đó có câu nói rằng: Đây là thời kỳ đưa ba thừa, từ phương tiện tu học khác nhau, quan điểm khác nhau cùng đến một tri kiến chung làm chuẩn mực cho trí tuệ sau này, đó là “Tam giới Duy Tâm, Vạn Pháp Duy Thức!”
- Hỏi:
1- Khi nói phương tiện khác nhau hay quan điểm khác nhau? Đây có phải nói trên hình tướng có nhiều sai biệt, không thể hoà hợp với nhau (như thiền, tịnh, mật tông) sự khác biệt trên ngọn là như vậy, hay muốn nói cái gốc?
- Trả lời:
Phương tiện và quan điểm khác nhau: Là nói đến cách thức và xu hướng tu hành của ba thừa khác nhau.
Ví dụ:
* Thanh Văn thừa: Lấy yểm li làm phương tiện, quan điểm tu hành “chán khổ tìm vui”...
* Duyên Giác thừa: Lấy đoạn duyên làm phương tiện, quan điểm tu hành tịch diệt các chi thuộc trung tế của 12 nhân duyên, khối ưu bi khổ não sẽ dứt, an vui liền hiện...
* Bồ Tát thừa: Lấy thấu suốt nguyên nhân sinh tâm sinh pháp làm phương tiện, quan điểm ba cõi không thật, ngũ uẩn tự không.
- Hỏi:
2- Xin hỏi: Câu “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức” ý nghĩa là gì?
- Trả lời:
* Tam giới duy tâm: Ba cõi (dục giới, sắc giới, vô sắc giới) chỉ do tâm mê biến hiện!
* Vạn pháp duy thức: Tất cả các điểm, quan niệm từ hiểu biết mà sinh!
- Hỏi:
3- Xin hỏi Tâm và Thức khác nhau hay giống nhau? Khác nhau ra sao? Giống nhau như thế nào?
- Trả lời:
* Tâm: Hiệu ứng tình cảm xảy ra khi ba duyên căn, trần, thức phối ngẫu trong điều kiện mê.
* Thức: Nhận biết, phân biệt khi thức ấm bị mê... Theo giải thích ở trên, tâm và thức là hai món khác nhau. Thức mê như cái cây, tâm mê như bóng cây. Không cây không bóng, thức hết mê tâm tịch diệt...
Hy vọng, những giải thích vừa rồi có thể giúp Đệ Phạm Thượng và Tuấn Nguyễn làm rõ những gì còn thắc mắc.
Chúc hai bạn an vui, tinh tấn.
Rất mong, nhận được các câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người!
30/08/2023
LÝ TỨ
CBL.30 - Ấn Tượng Từ Những Bài Chia Sẻ Giáo Pháp Trên Youtube Của Lý Gia
Về việc tại sao các bạn trẻ của Lý Gia tạm coi là thông suốt một phần giáo pháp. Theo mình thì, có lẽ nhờ Lý Gia có một giáo trình đào tạo bài bản, khoa học, bám sát giáo pháp, đặc biệt chú trọng việc đưa tinh thần giáo pháp đến gần gũi với thực tế cuộc sống.

Các bạn!
Tiếp theo câu hỏi kì 16/2023 của bạn đọc Phạm Thượng. Hôm qua, mình lại nhận được thắc mắc của bạn đọc có tên Văn Quang gởi về chuyên mục trên Website LyTu.Vn bằng địa chỉ vanquang...@yaoo.com!
Có thể nói, trong hai thắc mắc của Phạm Thượng và Văn Quang. Ngoài nội dung giáo pháp, còn có điểm chung là, hai bạn ấy đã quan tâm đến sinh hoạt và học tập của Lý Gia thông qua các phương tiện truyền thông thực tế hay mạng xã hội.
Điều này cho thấy rằng, những thông tin Lý Gia cung cấp đến quý bạn đọc và cộng đồng, ít nhiều cũng có những ích lợi nhất định trong việc giúp người tìm hiểu Phật pháp và ứng dụng vào cuộc sống đời thường! Điều này, là nguồn động viên quý báu, là những khích lệ rất lớn, giúp toàn thể HĐ Lý Gia nói chung và công tác truyền thông, khoa giáo nói riêng có thêm động lực trong mục tiêu hướng đến cộng đồng của mình.
Lời đầu tiên, thay mặt HĐ Lý Gia, chân thành gửi đến Phạm Thượng và Văn Quang cũng như bạn đọc quan tâm đến hoạt động hướng về cộng đồng của Lý Gia lời biết ơn sâu sắc nhất. Chúc các bạn an vui, tinh tấn, thành ở đời, đạt ở đạo...
Nội dung email của Văn Quang như sau:
“Thưa Thầy, do hữu duyên, tôi được nhìn thấy những video của khóa học Hạnh Phúc Quanh Ta trên Youtube. Suốt hơn một tháng nay tôi thường xuyên xem các chia sẻ của HĐ Lý Gia thông qua Youtube. Tôi đặc biệt ấn tượng với những chia sẻ của các giảng viên khoa học. Càng ấn tượng hơn nữa khi còn được nghe những bài trình bày khác về Phật Pháp của những HĐ tuổi đời còn chưa đến 30. Tôi có thắc mắc, tại sao những người trẻ như vậy lại có thể thông suốt giáo pháp như vậy? Đây là điều mà có những người mái đầu đã bạc trắng vẫn không thể làm được.
Điều này đã từng xuất hiện trong Phật Sử hay kinh điển nào chưa? Xin Thầy cho dẫn chứng. Những người mà tuổi trẻ mà đã thấu suốt Phật Pháp, do nhân duyên gì mà được quả báo thù thắng như vậy, xin Thầy giải nói giúp”.
*****
Văn Quang và bạn đọc thân mến!
Các thắc mắc của Văn Quang, mình xin tạm thời chia thành từng tiểu mục để trả lời như sau:
- Hỏi:
1) “Suốt hơn một tháng nay tôi thường xuyên xem các chia sẻ của HĐ Lý Gia thông qua Youtube. Tôi đặc biệt ấn tượng với những chia sẻ của các giảng viên khoa học.
Càng ấn tượng hơn nữa khi còn được nghe những bài trình bày khác về Phật Pháp của những HĐ tuổi đời còn chưa đến 30. Tôi có thắc mắc, tại sao những người trẻ như vậy lại có thể thông suốt giáo pháp như vậy? Đây là điều mà có những người mái đầu đã bạc trắng vẫn không thể làm được”.
- Trả lời:
Thay mặt Ban khoa giáo, Nhóm Giáo pháp nhập môn, Lớp “Hạnh phúc quanh ta - Giọt mưa đầu mùa”. Lý Tứ và HĐ Lý Gia rất vui khi biết Văn Quang cùng đông đảo bạn đọc đã ghé thăm trang nhà, đồng thời có những đánh giá tích cực về những gì kênh Youtube Lý Gia đăng tải...
Về việc tại sao các bạn trẻ của Lý Gia tạm coi là thông suốt một phần giáo pháp. Theo mình thì, có lẽ nhờ Lý Gia có một giáo trình đào tạo bài bản, khoa học, bám sát giáo pháp, đặc biệt chú trọng việc đưa tinh thần giáo pháp đến gần gũi với thực tế cuộc sống. Nhờ thế, các bạn ấy học đến đâu thấu đáo đến đó rồi ứng dụng nhuần nhuyễn vào đời thường. Chính sự thấu đáo những gì đã học và ứng dụng nhuần nhuyễn này sẽ giúp các bạn ấy thông suốt giáo pháp như một quy luật tự nhiên của giáo dục là “học đi đôi với hành”.
- Hỏi:
2) “Điều này đã từng xuất hiện trong Phật sử hay kinh điển nào chưa? Xin Thầy cho dẫn chứng”.
- Trả lời:
Theo mình biết, thời Thế Tôn còn tại thế, các môn đệ của Ngài là Bồ Tát còn rất trẻ thông suốt giáo pháp rất nhiều như: Nàng Long Nữ trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Thắng Man Phu Nhân trong kinh Thắng Man, Vô Uý Đức trong kinh Đại Bảo Tích, Thiện Tài Đồng Tử trong kinh Hoa Nghiêm, Tát Đà Ba Luân trong kinh Đại Bát Nhã v.v...
Nói chung, dưới thời Phật các Đại Bồ Tát thông suốt có thể thay mặt Phật giảng nói giáo pháp nhiều vô số. Về các Bồ Tát tuổi đời chưa đến 30 mà có thể lãnh hội trọn vẹn lời dạy của Đạo Sư, sau đó tuyên nói trước đại chúng điều mình đã lãnh hội cũng không phải là ít. Theo mình, hai việc này cũng đâu có gì là lạ đối với bất kì một nền giáo dục minh triết, khoa học, khai phóng và chân chánh nào trên thế gian này.
- Hỏi:
3) Những người mà tuổi trẻ mà đã thấu suốt Phật Pháp, do nhân duyên gì mà được quả báo thù thắng như vậy, xin Thầy giải nói giúp”.
- Trả lời:
Theo kinh điển, những người tuy tuổi đời còn trẻ nhưng đã thấu suốt giáo pháp. Là do, những vị đó nhiều đời kiếp quá khứ đã từng gieo trồng căn lành dưới nhiều đức Phật. Thời nay nhờ duyên lành ấy, ra đời gặp được bạn lành (Thiện Tri Thức). Chính nhờ vào hai thứ công đức này, cây trí tuệ hiện đời của các vị ấy tiếp tục đơm hoa kết trái. Ta có thể hiểu, giống như một ngôi nhà xây dựng xong, hệ thống chiếu sáng đã được đấu nối hoàn hảo, chỉ cần đủ duyên, có người ấn công tắc, lập tức ngôi nhà tràn ngập ánh sáng.
Hy vọng, những giải thích vừa rồi, có thể giúp Văn Quang và bạn đọc mau chóng tìm thấy bạn lành trợ duyên, để ngọn đèn trí tuệ sớm soi sáng nhân gian.
Rất mong, nhận được các câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người!
19/08/2023
LÝ TỨ
CBL.29 - Pháp Không Hai
Riêng khái niệm không hai hay bất nhị của Phật đạo, là tên gọi để chỉ cảnh giới của người giác ngộ! Cảnh giới ấy ra ngoài nhị nguyên đối đãi của “thế gian tâm thức” như: Đúng sai, phải quấy, thiện ác, anh tôi, hữu vi vô vi, có không, bờ này bờ kia v.v...

Các bạn!
Mình vừa nhận được một vài thắc mắc của bạn đọc có tên Phạm Thượng! Nội dung câu hỏi như sau:
“Thưa Thầy Lý Tứ!
Em tên Phạm Thượng, vừa rồi về dự đám cưới của một đứa em tại Đà Nẵng, trên đường đến lễ cưới vô tình nhìn thấy hai hàng banner giới thiệu sự kiện của Thầy.
Vì tò mò sau khi vào đám cưới một hồi, em chạy sang xem sự kiện tổ chức về việc gì mà sân khấu hoành tráng, ăn uống linh đình. Một hồi thật lâu, em mới mang máng hiểu ra là học trò tổ chức sinh nhật cho Thầy của mình và kỉ niệm 15 năm Lý Gia gì đó.
Có thể nói đây là lần đầu tiên em nhìn thấy lễ sinh nhật do học trò tôn vinh Thầy của mình hoành tráng, bài bản và trang trọng như vậy. Sau đó em được một học trò của Thầy giới thiệu vắn tắt về Thầy, chương trình giáo dục và còn dặn có thắc mắc gì về đạo Phật có thể gởi câu hỏi trong chuyên mục hỏi đáp, Thầy trả lời tất cả. Khi nói chuyện, em nhận ra học trò của Thầy kính trọng Thầy một cách lạ thường, thể hiện sự mến thương trong từng câu nói, sau đó em có xin số điện thoại của người bạn ở Hà Nội và hẹn trao đổi thêm nếu có cơ hội.
Em cũng là một người đang trong quá trình tìm hiểu đạo Phật để chọn cho mình một hướng đi. Nên gặp sự kiện của Thầy em nghĩ đây có thể là nhân duyên lành. Thầy có thể giải đáp cho em một vài thắc mắc được không? Em xin cảm tạ!
1- Thầy có điều gì khác lạ mà học trò của Thầy tôn vinh đến như vậy? Làm sao trở thành học trò của Thầy như các bạn tham dự sự kiện?
2- Em nghe có người nói, “Phật pháp cho rằng nhân sinh và thế giới đều huyễn giả”. Thầy cho em hỏi nếu nhân sinh và thế giới là huyễn giả, thì tại sao từ xa xưa đến giờ thế giới và nhân sinh vẫn tồn tại, đến bao giờ sự huyễn giả mới hiện ra để chứng minh Phật pháp nói đúng?
3- Em cũng nghe họ nói “Phật pháp là pháp phủ định, không 2, không 1, không ngã, không ta”. Xin hỏi Thầy điều này đúng không?
Em kính chúc Thầy thêm tuổi mới khoẻ mạnh”
15/08/2023 21:21:00
Phạm Thượng
*****
Phạm Thượng và bạn đọc thân mến!
Về các câu hỏi của bạn, mình xin được trả lời như sau:
- Hỏi:
1- Thầy có điều gì khác lạ mà học trò của Thầy tôn vinh đến như vậy? Làm sao trở thành học trò của Thầy như các bạn tham dự sự kiện?
- Trả lời:
Sau khi nghe Phạm Thượng đặt câu hỏi, mình mới có dịp nhìn lại bản thân! Ha ha ha ha! Dòm tới ngó lui, chẳng thấy bản thân có gì khác lạ! Nói chung, Lý Tứ cũng giống như mọi người trên cõi đời, không ăn thì ốm tong ốm teo, không ngủ thì mặt mày hốc hác, không học thì dốt đặc cán mai, không thở thì chết ngủm củ tỏi.
Còn chuyện vì sao học trò tôn vinh mình thì, “tôn sư trọng đạo” là đạo của người học trò từ ngàn xưa đến nay đều như vậy. Ca dao cũng nói:
“Muốn sang thì bắc cầu Kiều,
Muốn con hay chữ phải yêu mến Thầy”.
Vì thế theo mình, học trò tôn vinh và yêu thương mình như bạn đã nghe thấy từ sự kiện, chắc tại họ thuộc lòng mấy câu trên.
Để có thể làm học trò của mình, làm HĐ Lý Gia, bạn có thể đăng kí vào học khoá “Hạnh phúc quanh ta - Giọt mưa đầu mùa”. Sau khi học xong, xét thấy phương pháp, nội dung giáo dục v.v... có phù hợp với bản thân hay không.
Chừng ấy nếu Phạm Thượng thấy phù hợp, có nguyện vọng, các HĐ sẽ hướng dẫn cụ thể để bạn chính thức làm học trò của mình! Khóa học chừng 2 tháng không mất tiền, tài liệu học tập hoàn toàn miễn phí!
- Hỏi:
2- Em nghe có người nói, “Phật pháp cho rằng nhân sinh và thế giới đều huyễn giả”. Thầy cho em hỏi nếu nhân sinh và thế giới là huyễn giả, thì tại sao từ xa xưa đến giờ thế giới và nhân sinh vẫn tồn tại, đến bao giờ sự huyễn giả mới hiện ra để chứng minh Phật pháp nói đúng.
- Trả lời:
Theo mình biết, Phật pháp không nói rằng “nhân sinh và thế giới đều huyễn giả!” Mà, Phật pháp chỉ dạy rằng “các pháp”, trong đó cả “pháp nhân sinh” và “pháp thế giới” đều huyễn giả (không thật)! Ví dụ các câu: “Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn, bào, ảnh...” (Kinh Kim Cang)!
Hoặc Phật dạy trong kinh Tương Ưng III: “Này các ông, cái gì được thấy, được nghe, được nghĩ, được biết, được tìm cầu, được ý tư duy, cái ấy là thường hay vô thường?
- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
- Cái gì vô thường là khổ hay vui?
- Là khổ, bạch Thế Tôn.
- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không chấp thủ cái ấy, thì có thể khởi lên suy nghĩ: Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?
- Thưa không, bạch Thế Tôn!”
Xét hai lời dạy trên, ta thấy rằng, Phật chỉ dạy các pháp là huyễn giả, còn thế giới và nhân sinh là vô thường! Theo mình, có lẽ vị nào đó “nói lộn” các pháp thành thế giới và nhân sinh vô thường thành huyễn giả. Nên một phen vô tình làm bạn phát sinh thắc mắc.
Mà, đã nói lộn thì, cái câu hỏi của bạn: “Thầy cho em hỏi nếu nhân sinh và thế giới là huyễn giả, thì tại sao từ xa xưa đến giờ thế giới và nhân sinh vẫn tồn tại, đến bao giờ sự huyễn giả mới hiện ra để chứng minh Phật pháp nói đúng”. Coi như... như... như... huyễn giả luôn, hỏi...
cho... vui cửa... vui nhà.
Chú ý: Pháp là quan niệm về cái ấy chứ không phải cái ấy! Huyễn giả là không thật (như trò ảo thuật)! Vô thường là biến hoại, không bền chắc (nay còn mai mất)! Hiểu lộn ba khái niệm này thì cái sự hiểu ấy cũng huyễn... giả... luôn...
- Hỏi:
3- Em cũng nghe họ nói “Phật pháp là pháp phủ định, không 2, không 1, không ngã, không ta”. Xin hỏi Thầy điều này đúng không?
- Trả lời:
Phật pháp là pháp chơn thiệt, không phải pháp phủ định, cũng không phải pháp khẳng định! Pháp chơn thiệt là, chỉ thẳng thiệt tướng của pháp ấy! Mà thiệt tướng thì siêu quá hai mệnh đề mang tính phủ định và khẳng định của thế gian!
Riêng khái niệm không hai hay bất nhị của Phật đạo, là tên gọi để chỉ cảnh giới của người giác ngộ! Cảnh giới ấy ra ngoài nhị nguyên đối đãi của “thế gian tâm thức” như: Đúng sai, phải quấy, thiện ác, anh tôi, hữu vi vô vi, có không, bờ này bờ kia v.v... Chữ “không hai” hay “bất nhị” trong Phật đạo là cảnh giới chứ không phải con số toán học. Vì thế, đặt hai hay một theo ý nghĩa toán học ở đây là hoàn toàn không phù hợp! Vì rằng, cảnh giới ấy ra khỏi tứ cú (bốn câu hay bốn mệnh đề) gồm: 1. Có (有; hữu); 2. Không (無; vô); 3. Vừa có vừa không (亦有亦無; diệc hữu diệc vô), 4. Chẳng phải có cũng chẳng phải không (非有非無; phi hữu phi vô). Mà, vị nào đó đã nói lộn cái vụ bất nhị này thì... thì... thì... cũng cho phép mình miễn bàn đúng sai luôn.
Cuối cùng! Cảm ơn duyên lành đã đưa Phạm Thượng đến tham dự sự kiện 15 NĂM LÝ GIA MỘT KHOẢNH KHẮC - 70 NĂM LÝ TỨ MỘT HÀNH TRÌNH - CỦA LÝ GIA - TỔ CHỨC TẠI ĐÀ NẴNG!
Và, mình cũng trân trọng cảm ơn những đánh giá tốt đẹp của bạn đối với sự kiện vừa rồi qua buổi tao ngộ đầy bất ngờ ấy!
Hy vọng, những giải thích ở trên, giúp Phạm Thượng và bạn đọc có cơ hội hiểu đúng một vài khái niệm cơ bản của Phật đạo. Cũng như tránh việc dùng ý chí chủ quan suy lường cảnh giới xuất thế thành phép tính... toán... học.
Chúc mọi người an vui, tinh tấn!
Rất mong, nhận được các câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người!
17/08/2023
LÝ TỨ
CBL.28 - Vì Sao Người Ngủ Nằm Mơ?
Các mục tiêu của Phật đạo, không có mục tiêu nào liên hệ đến giấc mơ. Vì thế, Phật đạo không chú trọng đến việc một người ngủ nằm mơ, giấc mơ đó là tốt hay xấu, là thiện hay ác, có đúng với thực tế hay không!

Các bạn!
Trong tuần, mình nhận được câu hỏi của bạn đọc có nickname Hoài Anh! Bạn ấy thắc mắc như sau:
“Xin chào bác Lý Tứ. Tôi có câu hỏi này mong bác giải đáp giúp. Tôi thường có nhiều giấc mơ, có những giấc mơ lặp đi lặp lại, và có một số giấc mơ nó đã đúng sau 1 thời gian. Vậy dưới góc nhìn Phật đạo có thể giải thích như thế nào về những hiện tượng này?
Mong bác giải đáp giúp, cám ơn bác!”
04/08/2023 15:21:00
Hoài Anh
*****
Hoài Anh và bạn đọc thân mến!
Không riêng gì Hoài Anh, mà bản thân mình, cũng vài lần từ một giấc mơ, mấy ngày sau, sự việc trong đời xảy ra gần như đúng 100% với giấc mơ đó. Thậm chí, còn nghe rất nhiều người kể những hiện tượng tương tự như vậy. Về việc này, xin được trả lời theo góc nhìn cá nhân như sau!
1) Cơ chế ghi nhận thông tin của một hữu tình (con người)?
Theo quan điểm của Phật đạo. Con người có 9 thức gồm: Nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý, mạt na, a lại gia và lưu chú thức.
Trong đó, các thức thuộc về sáu căn là nhãn thức (nhận thức thuộc về con mắt), nhĩ thức (nhận thức thuộc về lỗ tai), tỉ thức (nhận thức thuộc về lỗ mũi), thiệt thức (nhận thức thuộc về cái lưỡi), thân thức (nhận thức thuộc về thân) và ý thức (nhận thức thuộc về suy nghĩ). Có công dụng giúp người ta nhận biết khi căn xúc đối với trần cảnh (gồm nội trần và ngoại trần). Mạt na thức (thức chấp ngã), có nhiệm vụ phân biệt tốt xấu, thiện ác, đúng sai, chọn lựa v.v... A lại gia thức (Hàm tàng thức), có nhiệm vụ ghi nhận và lưu trữ các thông tin đã bắt gặp trong đời sống như một ổ cứng máy tính. Lưu chú thức, có công dụng chuyển các thông tin đã lưu trữ từ quá khứ về hiện tại khi tâm ý có nhu cầu.
Thật ra, nói có 9 thức để người học dễ nhận biết. Chứ thực tế, hữu tình chỉ có 1 thức nhưng làm đến 9 chức năng. Như một người kiêm nhiệm 9 công việc khác nhau. Thành ra, khi 1 thức dứt mê, 9 cái kia đồng hết mê.
2) Vì sao người ngủ nằm mơ?
Cũng theo quan điểm của Phật đạo. Khi người ta ngủ, năm căn hay năm giác quan trên thân (gồm con mắt, lỗ tai, lỗ mũi, cái lưỡi và thân) tạm nghỉ ngơi, không hoạt động, nên tiền ngũ thức (nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức, thân thức) không thể nhận thức thế giới bên ngoài. Bây giờ, thức nghiệp nương tánh giác quay lại tiếp xúc thế giới bên trong (tiềm thức). Điều này, kinh Phật gọi là “tập nhân chiêu cảm với giao báo”. Từ đó sản sinh ra các giấc mơ.
3) Phật đạo lí giải thế nào về “sự đúng sai” các giấc mơ so với thực tế?
Ngoài những giải thích ở trên về việc vì sao người ta ngủ mơ. Bản thân mình, chưa từng đọc qua một bài kinh hay lời dạy nào nào được coi là chính thống của Phật đạo bàn luận, lí giải về “sự đúng sai” hay hiện tượng của một giấc mơ.
Kể cả các mục tiêu giúp người thành tựu những đạo quả hoặc các cảnh giới trong Phật đạo như: Giúp người hết khổ (8 món khổ nhân sinh); Giúp người dứt tập (phiền não, kiết sử, lậu hoặc); Giúp người chứng diệt (chứng ngộ Niết bàn); Giúp người thành tựu trí tuệ vô tướng (Bát Nhã Trí) v.v... cũng không có một mục tiêu nào liên hệ đến các giấc mơ hay hiện tượng nằm mơ.
Vì thế, mình không thể trả lời yêu cầu từ nội dung câu hỏi của Hoài Anh trên quan điểm Phật đạo: “Vậy dưới góc nhìn Phật đạo có thể giải thích như thế nào về những hiện tượng này?” Mong Hoài Anh và bạn đọc thông cảm!
4) Quan điểm của Phật đạo đối với các giấc mơ?
Như những gì đã giải thích ở trên. Các mục tiêu của Phật đạo, không có mục tiêu nào liên hệ đến giấc mơ. Vì thế, Phật đạo không chú trọng đến việc một người ngủ nằm mơ, giấc mơ đó là tốt hay xấu, là thiện hay ác, có đúng với thực tế hay không! Và, Phật đạo cũng không khuyến khích người học tập giáo pháp của mình bỏ công tìm hiểu, phân tích, giải thích các hiện tượng như vậy.
Vì rằng, đối với Phật đạo, tất cả những gì “căn trần thức” hoà hiệp (ba duyên hoà hiệp) cho dù trong lúc ngủ hay thức đều là “hữu vi pháp”. Mà, một hữu vi pháp tự nó không tánh, vô thường, biến hoại, không bền chắc, không chân lí và vô ngã. Cho nên, Phật đạo luôn cảnh báo đối những ai học tập trong đạo của mình rằng: Đối với các hữu vi pháp, không nên lấy đó “làm ta, ngã của ta và tự ngã của ta”. Nếu, những ai lấy các sự việc hay hiện tượng hữu vi làm ta, làm ngã của ta, làm tự ngã của ta đều không thể thấy được bản chất (thiệt tướng), không thể có được an vui vĩnh hằng và giác ngộ như pháp.
Đoạn kinh Tương Ưng III sau đây nêu rõ quan điểm này:
“Phật dạy:
- Này các ông, cái gì được thấy, được nghe, được nghĩ đến, được biết, được tìm cầu, được ý tư duy. Cái ấy là thường hay vô thường?
- Là vô thường, bạch Thế Tôn!
- Cái gì vô thường là khổ hay vui?
- Là khổ, bạch Thế Tôn!
- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không chấp thủ cái ấy, thì có nên khởi lên suy nghĩ: Cái này là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta?
- Thưa không, bạch Thế Tôn! Tất cả các thứ ấy đều vô thường, vô ngã, nên người trí không nên niệm tưởng hay tìm cầu ý nghĩa từ các thứ ấy!”
Đây cũng là lí do vì sao, Phật đạo không lí giải, không cắt nghĩa, không khuyến khích môn đồ của mình tìm hiểu, giải thích những hiện tượng như bạn đã hỏi.
Hy vọng, những giải thích sơ lược vừa nêu, có thể giúp Hoài Anh và bạn đọc nhận ra quan điểm của Phật đạo về những giấc mơ hay các hiện tượng liên quan đến nó.
Chúc Hoài Anh và bạn đọc an vui, tinh tấn!
Rất mong, nhận được các câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người!
07/08/2023
LÝ TỨ
CBL.27 - Người Chết Có Phật Tánh Không?
Cũng theo quan điểm của Phật đạo, “Phật tánh là thường”. Vì là thường, nên Phật tánh không bị ảnh hưởng bởi các thân nghiệp khác nhau! Cho nên, thân này cho dù có chết đi, cũng không vì thế mà Phật tánh mất theo thân nghiệp.

Các bạn!
Mình vừa nhận được ba câu hỏi từ một bạn đọc có tên là Tân, địa chỉ Email: thanhtan....@icloud.com gởi đến từ website LyTu.Vn! Nội dung câu hỏi như sau:
“Tôi muốn hỏi Thầy Lý Tứ vài vấn đề?
1) Thầy đã Giác Ngộ chưa?
2) Tôi có đọc lướt qua sách của Thầy có nói: Loài vô tình không có Phật tánh, chỉ có loài hữu tình (con người) mới có Phật tánh. Câu hỏi? Con người có Phật tánh vậy người chết có Phật tánh không?
3) Niệm mê (vô minh) là một niệm lầm chấp có một cái ngã và có một cái ngã đi luân hồi sinh tử. Niệm vô minh tuân theo quy luật vô thường, có rồi không, sinh rồi diệt, điều này có nghĩa là vô minh chẳng thể thường trụ mãi mãi, có tu hay không thì cũng sẽ có lúc sẽ không còn.
Niệm giác (ngộ) là cái thấy tánh, thấy vô thường vô ngã, thấy bổn lai vô nhứt vật, thấy vô sở đắc, thấy tu vô tu tu, chứng vô chứng chứng. Cái giác thấy này nó cũng vô thường, có rồi không, sinh rồi diệt. Vậy thì chẳng niệm mê và niệm giác nào mãi mãi thường trụ, cho dù có tu hay không. Người tu là người cầu chuyển mê khải ngộ, hoá ra chuyện tu hành là chuyện dã tràng se cát hay sao? Vấn đề tu cũng như “dã tràng se cát” này chúng ta giải quyết thế nào đây?
*****
Tân và bạn đọc thân mến!
Về các câu hỏi nêu trên, mình sẽ lần lượt trả lời như sau!
- Hỏi:
1) Thầy đã Giác Ngộ chưa?
- Trả lời:
Câu hỏi này, trong đời mình gặp rất, rất, rất nhiều. Và, đây là câu “rất khó trả lời” để “bạn đọc thoả mãn”.
Bởi lẽ, muốn biết chắc thật một người đã giác ngộ hay chưa, không thể căn cứ vào tuyên bố của người ấy... Mà, điều kiện tiên quyết phải là: Một, đạo sư của người đó! Hai, người có giác ngộ bằng hoặc cao hơn! Ba, người đó đã dạy mình giác ngộ.
Nó giống như chỉ có người thợ săn lành nghề hoặc học trò người thợ săn lành nghề, khi thấy bóng dáng, dấu chân, tiếng kêu v.v... của một con thú nào đó, người thợ săn lành nghề lập tức biết được chủng loại, tập tính cùng cách săn bắt. Còn những ai không phải thợ săn lành nghề, cho dù có nghe qua cũng khó mà biết chắc các thứ ấy. Cho nên, đối với câu hỏi này, mình xin không chính thức trả lời rằng, “bản thân đã giác ngộ hay chưa!”
Tuy nhiên, cũng xin “mách” với Tân rằng: Từ ngày khai sinh Lý Gia đến nay (15 năm), mình đã dạy cho rất nhiều HĐ Lý Gia giác ngộ với nhiều tầng bậc khác nhau. Bạn có thể kết nối với các HĐ ấy trên Group Lý Gia để tìm hiểu cụ thể hơn!
- Hỏi:
2) Tôi có đọc lướt qua sách của Thầy có nói: Loài vô tình không có Phật tánh, chỉ có loài hữu tình (con người) mới có Phật tánh. Câu hỏi? Con người có Phật tánh vậy người chết có Phật tánh không?
- Trả lời:
Theo quan điểm của Phật đạo, một hữu tình (con người) được coi là “chết”, chỉ là hiện tượng người ấy từ bỏ thân nghiệp hiện tại sau khi mãn duyên, để đón nhận thân nghiệp ở vị lai sau khi đủ duyên, chứ không phải hữu tình ấy “đoạn diệt vĩnh viễn”.
Cũng theo quan điểm của Phật đạo, “Phật tánh là thường”. Vì là thường, nên Phật tánh không bị ảnh hưởng bởi các thân nghiệp khác nhau! Cho nên, thân này cho dù có chết đi, cũng không vì thế mà Phật tánh mất theo thân nghiệp.
Giống như một người thay chiếc áo hoặc đến một nơi ở khác, chiếc áo có thay đổi, nơi cư trú có thay đổi trong mắt mọi người nhưng những gì thuộc về bản chất của người ấy thì không thay đổi!
- Hỏi:
3) Niệm mê (vô minh) là một niệm lầm chấp có một cái ngã và có một cái ngã đi luân hồi sinh tử. Niệm vô minh tuân theo quy luật vô thường, có rồi không, sinh rồi diệt, điều này có nghĩa là vô minh chẳng thể thường trụ mãi mãi, có tu hay không thì cũng sẽ có lúc sẽ không còn.
Niệm giác (ngộ) là cái thấy tánh, thấy vô thường vô ngã, thấy bổn lai vô nhứt vật, thấy vô sở đắc, thấy tu vô tu tu, chứng vô chứng chứng. Cái giác thấy này nó cũng vô thường, có rồi không, sinh rồi diệt.
Vậy thì chẳng niệm mê và niệm giác nào mãi mãi thường trụ, cho dù có tu hay không. Người tu là người cầu chuyển mê khải ngộ, hoá ra chuyện tu hành là chuyện dã tràng se cát hay sao? Vấn đề tu cũng như “dã tràng se cát” này chúng ta giải quyết thế nào đây?
- Trả lời:
Đúng là, niệm mê hay niệm giác đều vô thường, sanh diệt.
Nhưng với một người “giác ngộ chân thật” thì:
- “Giác lực” là thường, nên “không sanh diệt”.
- “Bát Nhã lực” ra khỏi sanh diệt, nên cũng “bất sanh bất diệt”.
Như vậy ta có thể hiểu, người tu hành chuyển mê thành giác để sau đó thành tựu Giác lực và Bát Nhã lực. Chứ không phải thành tựu niệm giác rồi thôi! Cho nên, câu hỏi “dã tràng xe cát” không phù hợp với cảnh giới “giác ngộ chân thật”.
Hy vọng, những giải thích vừa rồi, có thể giúp Tân và bạn đọc thoả mãn các thắc mắc của mình về một vài vấn đề liên quan.
Chúc an vui, tinh tấn!
Rất mong, nhận được các câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người!
31/07/2023
LÝ TỨ