Tác Phẩm Lý Tứ

Tứ Thiền

MB 1059 Trần Văn Thắng 23.03.2022

Nói Tứ Thiền vì nó gồm có bốn giai đoạn sơ nhị tam tứ. Vấn đề được đặt ra là: Tứ Thiền giúp gì cho người tu hành, giác ngộ cái gì thì dùng phương tiện này, và kỹ thuật sử dụng ra làm sao?

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ

Tứ Thiền được đời sau đặt cho nhiều tên như thiền nguyên thủy, thiền tiểu thừa, Như Lai thiền. Những tên gọi như vậy không phải vô cớ mà có. Nó xuất phát từ nhiều mục đích khác nhau mà Tứ Thiền có nhiều tên, mỗi tên nói lên một tính cách.

Nói Tứ Thiền vì nó gồm có bốn giai đoạn sơ nhị tam tứ. Nguyên thủy hoặc tiểu thừa vì nó có xuất xứ từ rất lâu xa. Thậm chí trước Phật ra đời và được Phật gia thêm vị giải thoát để dạy cho đệ tử của mình, được coi như phép tu chủ yếu của hệ Phật giáo nguyên thủy. Có tên Như Lai thiền vì Phật và các Bồ Tát sử dụng như một ngôi nhà tĩnh lặng. Nói chung tên gọi chỉ để phân biệt với loại hình tu tập khác.

Vấn đề được đặt ra là: Tứ Thiền giúp gì cho người tu hành, giác ngộ cái gì thì dùng phương tiện này, và kỹ thuật sử dụng ra làm sao?

Khi nói đến Tứ Thiền, người ta mặc nhiên coi đó là thứ thiền của nhị thừa được tu hành để kinh qua bốn giai đoạn của sắc giới, và bốn giai đoạn của vô sắc giới. Cứu cánh là giải thoát của Thanh Văn thừa.

Hiểu như vậy chỉ thấy một mặt của thiền này, thực tế bốn thiền có mặt trong tất cả các thừa, kể cả nhất thừa.  

Lý do khi thân tâm an định lập tức bốn thiền xảy ra. Trong đó sơ thiền có đầy đủ mùi vị hỷ lạc giác quán, đồng một hỷ lạc nhưng tri kiến khác nhau nên vị hỷ lạc sâu cạn cũng khác. Giác quán cũng rất không giống nhau, mỗi tri kiến sẽ cho ra một thứ giác quán, không thể bảo giác quán của Bồ Tát giống giác quán Thanh Văn.

Ví dụ đồng quán thân mà nhị thừa quán thân bất tịnh, còn Bồ Tát Phật dạy quán thân đồng như hư không. Thành ra Tứ Thiền sâu cạn không giống nhau, do đó chỉ một bề khăng khăng nói Tứ Thiền là phép tu của Thanh Văn thì e rằng nhận định này chưa thỏa đáng.

Nếu nhị thừa thì Tứ Thiền là phương tiện chủ đạo để tìm cách vượt ba cõi.

Bồ Tát dùng bốn thiền để vào các tam muội môn. Đó là tam muội có giác có quán, tam muội không giác có quán, hai tam muội này tương đương sơ thiền. Tam muội không giác không quán tương đương nhị tam tứ thiền.

Bồ Tát nhất thừa dùng bốn thiền như hộp báu đựng tri kiến (cách nói của Bồ Tát Long Thọ trong Đại Trí Độ Luận). Cho nên Tứ Thiền tính chất của nó rất linh hoạt, nếu đạt đến cứu cánh thì Tứ Thiền lại là thuộc tính của Niết Bàn vì trong đó có vị lạc giải thoát.

Tứ Thiền của nhị thừa là quy trình tu tập được thuyết chủ yếu trong  tạng Nikaya.

Tứ Thiền của Bồ Tát được tuyên thuyết rải rác trong các kinh đại thừa.

(còn nữa)

Tác Phẩm Lý Tứ

Thiền Của Phật Giáo & Các Loại Thiền

MB 1059 Trần Văn Thắng 26.03.2022

Thiền của Phật giáo được coi như công cụ hỗ trợ giúp người tu hành đạt mục đích. Giống như con người lấy chiếc xe làm phương tiện đi lại.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ

Nếu cách dạy và học thế gian ngoài bài giảng còn có đồ dùng dạy học và các hỗ trợ kỹ thuật để học sinh dễ tiếp thu, thì trong Phật giáo cũng có một số biện pháp hỗ trợ cho người học thực hành những gì mình tiếp thu được nơi người thầy. Biện pháp này vừa là trợ huấn cụ vừa là phần kỹ thuật có giá trị thực nghiệm. Thiền trong Phật giáo là loại công cụ này.

Trước khi tìm hiểu các loại thiền Phật giáo, cũng nên có cái nhìn tổng quát về thiền. Căn cứ kinh điển ta thấy thiền có nhiều loại, mỗi loại tiêu biểu cho một dạng người học và một hình thức giảng dạy nào đó vào thời điểm nhất định gọi là hợp thời, hợp căn cơ.

Mỗi căn cơ trong thời điểm thích hợp, vị thầy sẽ có một số bài giảng tương ứng với tâm tình và trí tuệ người học. Người học đem những điều tiếp thu ứng dụng thực tế để tìm kiếm cứu cánh, công việc này Phật giáo gọi là thiền.

Vì thế thiền của Phật giáo được coi như công cụ hỗ trợ giúp người tu hành đạt mục đích. Giống như con người lấy chiếc xe làm phương tiện đi lại.

Thật ra khi nói thiền chỉ là cách nói vắn tắt của hai từ thiền định. Bởi thiền như cỗ xe, định như bến đỗ, chiếc xe không thể thiếu bến đậu, vì vậy thiền có mục đích của nó.

Cũng chính việc tìm kiếm mục đích mà các loại thiền khác nhau ra đời. Mỗi loại thiền tương thích với một hành trình mà quãng đường và loại hình giao thông quyết định phương tiện. Không thể dùng phương tiện giao thông này cho loại hình giao thông kia. Giống như không thể dùng xe hơi để đi biển, hay không thể dùng xe lớn đi vào đường nhỏ.

Tu thiền nếu không am tường một số khái niệm cơ bản thì sẽ rất khó khăn. Không muốn nói là không khả thi nếu dùng sai phương tiện. Thực tế không thiếu những trường hợp sử dụng loại phương tiện không hợp lý.

Vì sao người tu hành lại không sử dụng đúng phương tiện? Rất đơn giản là vì không biết rõ mục tiêu phải đến, và chưa tìm hiểu cặn kẽ đoạn đường mình phải đi qua.

Vì thế giáo lý cơ bản, cứu cánh của ba thừa, và giác ngộ chính là những điều kiện quyết định phương thức tu hành. Giáo lý cơ bản giống như học lái xe hay thuyền. Cứu cánh ba thừa là nơi chốn phải đến, giác ngộ là biết rành con đường mình đi qua, trạm dừng cuối cùng, và gặp gỡ mục tiêu.

  • Trong tu thiền người thầy hay còn gọi thiện tri thức đóng vai trò rất quan trọng, là người hướng dẫn am tường mọi ngõ ngách của tâm để đưa ra các biện pháp hay phương tiện hợp lý.

Thiếu thiện tri thức người tu thiền tự mày mò tìm cách tu tập giống như người đi biển tự bơi trên con thuyền của mình mà không có thuyền trưởng nhất định sẽ thất bại. Trong đời không thiếu những người tự bơi và lênh đênh nhiều ngày, cuối cùng nhìn lại thấy mình còn ở nguyên chỗ cũ hoặc lạc vào bến bờ nào đó xa lắc không can dự gì đến mục đích tìm kiếm.

  • Có thể thấy điều này khi tiếp xúc với những người mệnh danh là tu thiền, họ kể về hành trình điểm đến hoàn toàn xa lạ với những gì Phật giáo đề ra.

Nói như vậy không có nghĩa không có thiện tri thức thì người tu hành không tu được. Người tu thiền nếu biết dựa vào một số điều cơ bản thì đây chính là thiện tri thức của mình. Những điều cơ bản đó là ‘kinh điển’ và ‘giới luật’. Đây là hai ông thầy quyết định thành công hay thất bại trong hành trình dài để bơi qua biển lớn sanh tử. Mà Phật là vị thuyền trưởng dày dạn kinh nghiệm đã để lại cho người sau.

  • Kinh điển chính là bài học được đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn của vị thuyền trưởng đã khai sinh ra con đường vượt biển sanh tử và là thực tế truyền dạy các học trò của mình. Tất cả đều thành công trong hải trình gian nan đầy sóng dữ.

  • Giới luật như những biện pháp phòng ngừa mọi tai ách nhất định xảy ra. Đây là giáp trụ, là chiếc phao cứu sinh khi gặp bảo tố phong ba, là ngọn hải đăng, là chiếc hải bàn chỉ đường  cho  con  thuyền không lạc lối.

  • Chính xác hơn ‘kinh điển và giới luật’ là những trang bị tối cần thiết cho một chuyến đi xa. Thiếu một thứ mà mong rằng chuyến đi thành công là điều không tưởng.

I. CÁC LOẠI THIỀN

Nếu phân tích cụ thể Phật giáo có mấy loại thiền thì không dễ. Bởi lẽ người tu hành khi giác ngộ thấu đáo sẽ có thể dùng nhiều phương tiện để đạt mục đích cao nhất.

Tùy theo lộ trình khi nào dùng loại phương tiện gì phù hợp sẽ tự biết. Giống như người đi xa qua nhiều lộ trình với nhiều địa hình khác nhau sẽ tùy nghi sử dụng phương tiện hợp lý.

Tuy nhiên vẫn có những phương tiện dẫn khởi, những phương tiện này được coi là tiêu biểu cho các loại thiền. Căn cứ vào sức giác ngộ của ba thừa tạm phân chia để có một vài khái niệm căn bản về thiền.

(còn nữa)

Subscribe to Thiền Của Phật Giáo