Tâm Sự Của Anh Sinh Viên Học Nghề
Con khắc cốt ghi tâm lời Thầy chỉ dạy “NHÂN DIỆU LÝ CHỈ CHO NGƯỜI THẤY DIỆU NGHĨA, NHÂN DIỆU QUAN SÁT KHIẾN NGƯỜI THÀNH TỰU DIỆU MINH.”

Tâm sự huynh đệ số 15
Các bạn !!!
Mình vừa đăng Trò Chơi Trí Tuệ - 03/2020 thì nhận được emails của Phương Anh và Diệu Tâm !!! Theo thông lệ, sau hai ngày mình mới đăng một bài viết mới lên trang để các bạn có thời gian đọc, có thời gian suy gẫm !!!
Thế nhưng, sau khi đọc emails của Diệu Tâm và của Phương Anh, mình “nổi gai ốc đầy mình” !!! Vì thế, hôm nay nhất quyết “phá lệ” đăng thêm bài viết của Phương Anh !!! Thôi thì, mọi người ráng đọc thêm một chút !!!
Các bạn ui !!!
Phương Anh và các bạn chính là những viên ngọc quý mà chư Phật đã ưu ái ban tặng cho Lý Gia trong thời mạt pháp !!! Đọc bài viết của Phương Anh, mình “cầm lòng không đặng”, nhất quyết phải chuyển tốc hành món quà vô giá mà chư Phật đã ban tặng cho Lý Gia đến mọi người, coi như “lợi hoà đồng quân” !!!
Phương Anh ui !!!
Xin cảm ơn Em !!! Cảm ơn sự thấu suốt mà theo mình, sự thấu suốt này rất xứng đáng với câu nói của người xưa: “Thế gian hi hữu” !!! Vườn hoa hi hữu của Lý Gia lại nở thêm một bông hoa mới, bông hoa đó có tên: “Lý Nữ Phương Danh Lý Phương Anh” !!!
Xin chuyển đến mọi người, tâm sự của Phương anh !!!
11/04/2020
LÝ TỨ
Thầy kính,
Tối qua con nói chuyện với mấy bạn tới tận nửa đêm, rồi nằm một mình suy ngẫm lại toàn bộ quãng đường mình đã đi. Cuối cùng ... thức tới sáng và giờ con viết thư gửi Thầy, trình bày với Thầy những thấy biết của con thời gian qua.
Ngày 8/7/2019 con chính thức bái sư xin Thầy thu nhận về làm đệ tử. Tới nay được đúng 9 tháng !!! 9 tháng - là quãng thời gian một đứa trẻ nằm trong bụng mẹ, được nuôi dưỡng cho đến khi đủ cứng cáp, chui ra ngoài tự mình khám phá thế giới. Thì con cũng như vậy, 9 tháng được Thầy dưỡng nuôi bằng dòng nước Pháp, chữa cho khỏi bệnh phiền não, khoẻ mạnh an vui, chui ra khỏi quả trứng, bước những bước đầu tiên của kẻ tự tại, thảnh thơi giữa đời.
Nhớ lại lúc ấy và ngay cả giờ, con tự thấy bản thân mình chẳng còn thích chuyện thế gian, chẳng ưa hội nhóm, chẳng ham tranh luận để được cái hơn thua, chỉ thích một mình, đọc tụng nghe thuyết, không dụng công mà thiền vẫn tự được, thường sinh hỷ lạc, an yên, chẳng còn phiền não.
Tuy nhiên, nghĩ tới công ơn Chư Phật ba đời đã sanh ra giáo pháp, con cứ nhớ mãi câu kinh “nếu như Chư Phật ba đời không quyết định nơi Đại thừa ...”, không quay bánh xe pháp mà chỉ hưởng thụ an vui một mình thì đến đời mình, lượt mình có được cái an vui này không? Mình được an vui nhưng ngoài kia bao chúng sanh còn đang mê mờ, trầm luân trong bể khổ phiền não. Nghĩ suy như vậy mà con thành tâm phát nguyện: Trên cầu thành tựu Phật quả, dưới thệ nguyện độ thoát chúng sanh !!!
Quán thấy cái an vui, tự do, tự tại mình đã có được thật bất khả thuyết, ngữ ngôn thường tình chẳng thể nào đến được. Bất khả thuyết nhưng vẫn cần phải đăng đàn vẫn cần phải thuyết, gọi là tạm thuyết. Bởi nói về mình vậy nhưng chẳng phải vì cầu tôn trọng vì tự đề cao, mà thực chất chỉ là nguyện đem cái thân tâm này làm đóm điếu, làm dầu thắp, nhằm lan toả ngọn đèn Chánh Pháp. Các chúng sanh vì tín tâm, vì tò mò nên hướng tới cây đèn, gần gũi cây đèn mà sau cũng có thể sẽ được sáng, được an vui như mình vậy.
Khi đã có cái tạm gọi là một cộng đồng tín tâm, tò mò quanh mình, thời gian đầu, bản thân con thấy gặp phải nhiều vấn đề. Nổi cộm nhất là “sở tri chướng”, hay tuy đã được Hai vô sanh (vô sanh tâm vô sanh pháp) nhưng chưa được Hai vô ngã (Tâm vô ngã, Pháp vô ngã). Khi gặp một đối tượng mới, luôn luôn mở đầu bằng một chuỗi kiến thức, một tràng các kinh nghiệm tự chứng của bản thân. Mặc dù những kiến thức này là Chánh pháp, những chỗ tự chứng này là chân thật, nhưng rốt cuộc đối tượng nghe xong, tẩu hoả nhập ma, ồ à vài lời khen ngợi tán thán rồi ... vuột khỏi bàn tay!!!! Một khi sự gần gũi không được thiết lập, niềm tin đã suy giảm thì rất khó để có thể xâm nhập lại với cái uy ban đầu này.
Con tự quở trách, quán sát mình, thấy rằng: Ôm lấy những kiến thức mình có, ôm lấy chỗ mình chứng mà nghĩ rằng mình vậy, người khác ai cũng phải như vậy ... chẳng phải là sang sông vẫn đội chiếc bè, mà Thầy đã nhiều lần nhắc nhở. Không tương thông tâm ý, xuống nước nói chuyện thuỷ cung lại cứ diễn thuyết chuyện núi non mây trời, thật không tẩu hoả nhập ma mới là chuyện lạ ??!!! Gặp cây nào cũng chỉ đem đúng một con dao ấy thì cù cưa kéo xẻ mãi khúc gỗ vẫn không đứt lìa âu cũng là chuyện thường tình không có gì khó hiểu !!!!
Đúng như trong bài “Đoạt tâm chế mạng”, Thầy đã viết:
“Giống như một người muốn đi bắt một con thú dữ và họ trình bày cách thức làm thế nào để bắt con thú, nghe xong ta liền BỔ KHUYẾT cho người nhiều cách thức tốt hơn để bắt con thú, hoặc bổ sung các phương tiện thù thắng, dùng để bắt thú. Người kia với số vốn được trang bị mới này, lại tiếp tục đi bắt thú như những lần trước. Và cuối cùng, họ lại thất vọng, vì rằng: Đi mà chẳng biết đi đâu??? Và, làm gì đối với mớ phương tiện này !!!
Tại sao sự tình lại như vậy??? Các bạn, chỉ vì cả hai đều chú ý đến phương tiện, mà không rõ cứu cánh.
Bây giờ chúng ta thử đặt vấn đề: Tại sao khi nghe người kia nói đến chuyện đi bắt thú, chúng ta không hỏi ngược lại họ: “Con thú đó ở đâu, hình dáng màu sắc như thế nào, thời gian xuất hiện, tập tính của con thú ???”
Có nêu những vấn đề này, người đi săn thú mới có dịp tìm hiểu đối tượng cần bắt. Về nguyên tắc, có hiểu biết cụ thể đối tượng, hiểu biết càng nhiều, càng chính xác, nhất định bất kỳ ai, cũng có phương cách để bắt con thú. Khi nào, người đó hết cách, chúng ta mới trao cho họ phương tiện cũng không muộn. Đằng này, cả ta và người chỉ bàn luận chuyện săn thú, mà không hề biết con thú cần bắt là con nào ??? Thì phỏng, bao nhiêu phương tiện đưa ra có hữu ích gì ???” (Trích Anh Lạc Luận I)
Vậy là, con ngộ ra: “TRƯỚC NHẤT PHẢI CHỈ TÂM, SAU MỚI DÙNG PHƯƠNG TIỆN ĐỂ ĐIỀU PHỤC” !!!
Nhưng chỉ Tâm nào đây??? Người đời đa tâm là thế, Nguồn Tâm chảy ào ạt như một dòng thác lũ lượt chồng chất rối rắm là thế, chọn Tâm nào là Quyết định Tâm ???!!! Chỉ thế nào để Chỉ là người phục, thấy được điều cần thấy đây ???!!!
Câu trả lời là LẶNG LẼ QUAN SÁT. QUAN SÁT THẬT KĨ, LẮNG NGHE THẬT KĨ. Giống như người thợ săn lần theo dấu chân của con thú, cúi xuống chăm chú quan sát hình dạng kích cỡ dấu chân, cách thức di chuyển từ đâu tới đâu để hiểu nó ... Khi chú tâm vào lắng nghe và quan sát, những ý niệm về chỗ chứng chỗ hiểu biết của bản thân, cái ham thích nói cái phản xạ nói theo một cách tự nhiên và tất yếu tự tịch diệt. Con cảm thấy trong mình toàn bộ ý thức này bỗng như chuyển dịch, “nhập dòng” vào thác Tâm ấy ... Và rồi bằng trực nhận, con thấy thấu, thấy cảm được cái gì đang làm cho người này hành tâm, cái gì là mạch nước chính giữa muôn vàn tia nước đang phun trào, chỗ nào là cửa vào. Thấy cửa vào rồi, vào bằng cách nào đây? Vào bằng chính con đường của họ, mà lội ngược dòng lại thôi!!! Bằng chính câu chuyện ấy, ngôn từ ấy, suy nghĩ ấy, lật ngược lại, đặt ra vấn đề để dẫn dắt họ tự tư duy!!! Bằng cách ấy, họ sẽ thấy được Phật pháp không phải cái gì xa xôi khó hiểu, mà hết sức gần gũi khoa học, gắn chặt với đời sống của họ, từ ngay chính đời sống này mà thấy vấn đề và cũng từ đời sống này mà thấy con đường giải quyết vấn đề.
Con khắc cốt ghi tâm lời Thầy chỉ dạy “NHÂN DIỆU LÝ CHỈ CHO NGƯỜI THẤY DIỆU NGHĨA, NHÂN DIỆU QUAN SÁT KHIẾN NGƯỜI THÀNH TỰU DIỆU MINH.”
Từ đây, con cảm nhận được rất rõ sự khác biệt giữa: Kiến thức, tri kiến và trí tuệ. Biến kiến thức thành tri kiến, sau đó có được tri kiến rồi mới biến tri kiến này thành trí tuệ, biết phương tiện thích hợp để giúp người. Giống như nguyên liệu thực phẩm và các món ăn: Nguyên liệu thực phẩm dụ cho kiến thức cũng chỉ có một kho như vậy, nhưng các món ăn dụ cho tri kiến và trí tuệ thì vô lượng, không giới hạn tuỳ sức sáng tạo của người đầu bếp. Vị của thức ăn khi đã được hoà trộn, nấu lên thành món, rất khác với vị của nguyên liệu thực phẩm ban đầu. Thì cũng như vậy, tri kiến và trí tuệ chẳng liên quan, rất khác kiến thức. Tuy nhiên nếu không có cái nền móng kiến thức thì cũng không thể có đủ nguyên liệu để ra được thành phẩm tri kiến và trí tuệ. Do vậy, con lại tự dặn mình, phải tinh tấn đọc, học, tư duy, tăng nền tảng kiến thức của mình lên, gắng sức thâm nhập giáo pháp. Có những trường hợp, do kiến thức còn mỏng, kinh nghiệm chưa dầy, để thấy được tri kiến và phương tiện thích hợp, con phải dùng hết sức mình ôm ấp vấn đề, nghĩ suy tư duy trong đầu, nhiều khi giấc ngủ còn chập chờn. Tuy nhiên, khi đã thấy thì rất đã, có Trí mà an vui hi hi hi hi !!!!
Có những đối tượng mà sự thuận lợi đến ngay. Nhưng cũng có những đối tượng mà mọi chuyện không phải dễ dàng và suôn sẻ ngay từ đầu như thế. Nhưng cũng chính vì sự đa dạng của các tình huống mà con học được:
*Từ những điều rất nhỏ như sự uyển chuyển: Tại sao cứ phải là mình thẩm sát thấu thị, hãy để đối tượng tự thấu thị bản thân hoặc khéo léo theo một cách thế nào đó để họ tự khám phá ra, tự xác định một cái đích ở thời điểm hiện tại mà họ mong muốn. Cứ đạt được sự đồng thuận, cứ được cái thoả mãn gần gũi tin tưởng này đã, rồi từ từ trên đường đồng hành sẽ lựa cơ mà điều hướng, chuyển dịch.
*Đến những điều rất lớn như về Sự kham nhẫn: “Kham nhẫn chờ thời cơ, chưa đúng thời thì không tuyên thuyết, chưa biết rõ căn cơ không tuyên thuyết, chưa hiểu rõ câu hỏi chưa nắm vững vấn để không tuyên thuyết, chưa biết chỗ kẹt của người không tuyên thuyết, chưa thấy chìa khoá mở tâm người không tuyên thuyết, chưa đạt được sự đồng thuận giữa người nói và người nghe không tuyên thuyết, chưa thấy lợi ích của sự tuyên thuyết không tuyên thuyết ... “ (trích Luận về bốn Ba la mật- Anh Lạc luận.)
*Về Tứ trí (khổ trí, tập trí, diệt trí, đạo trí): Con nhận ra quá trình tự độ của bản thân chính là nhờ có Tứ đế dẫn đường thì nay để độ tha, có diễn nói gì, chỉ bày chi cho người cũng phải bám thật chặt, không tách rời, không ra ngoài Tứ đế, lần lượt theo tiến trình Tứ đế. Như Thầy đã chỉ dậy chúng con rất rõ ràng từ khổ đến-> tập đế -> diệt đế-> đạo đế: “Tất cả các pháp muốn trở thành Phật pháp phải diễn nói thuyết minh trên ý nghĩa bốn đế. Có nghĩa rằng: Phải chứng minh cho được pháp đó chính là khổ, phải chứng minh cho được pháp đó là nguyên nhân sinh ra kiết sử, phải chứng minh cho được vì pháp đó che chướng mà chơn tâm không hiện, phải chứng minh cho được pháp đó bản lai tự Niết bàn...” (trích bài Luận về tứ trí, Anh Lạc Luận I). Cái vi diệu ở đây là cách thức chứng minh, sự uyển chuyển trong phương tiện. Với người nặng Tâm thì nói lời này, với kẻ trói buộc bởi Pháp thì nói lời kia. Với người cần cầm tay chỉ việc thì hộ trì cách này, với kẻ nhanh nhậy thì hộ trì cách kia. Với đối tượng này, thời cơ này, nói về một thứ có thể tuyên thuyết “không”. Với một đối tượng khác, thời cơ khác, cũng nói về thứ đó mà có thể tuyên thuyết “có”. Các pháp chẳng vọng, chẳng chơn, người trí đối trước các pháp không chơn cũng chẳng vọng. Chơn hay vọng, “dùng” hay “bỏ”, “có” hay “không” cũng chỉ vì lợi ích chúng sanh, dứt mê được giác ngộ thanh tịnh, an vui ngay hiện tiền. Chính từ quá trình thực hành độ tha này mà một cách tự nhiên con thấy cảm nhận được thật nghĩa của Trung đạo. Trung đạo là sự hoạt dụng, khéo léo uyển chuyển để sinh ra các phương tiện giúp người. Trung đạo là Bát Chánh đạo, Trung đạo là Đạo Đế. Bồ tát hạnh là Đế của Đạo. Đạo là Bàn cờ, là Trò chơi Trí Tuệ !!!!
Như trong bài Hữu sơ vô yếu luận, thầy đã khéo minh hoạ cho chúng con thấy:
“Như một con nhện, nó giăng thành cái mạng nhện để bắt mồi và làm chỗ đi lại. Tất cả các con vật bay qua mạng nhận này đều bị mắc kẹt lại và có thể trở thành con mồi !!! Nhưng riêng con nhện, nó tự tại chạy khắp mọi nơi trên mạng, con nhện đứng ở mép rìa mạng nhện, hay đứng đi ở chính giữa mạng đều yên ổn, vô ngại ...!!! Con nhện dụ cho vị tu hành thông tuệ, mạng nhện dụ cho giáo pháp, sự vướng vào dụ cho chúng sanh và ba cõi, con mồi dụ cho vô minh. Nơi con nhện đến và đi dụ cho Trung đạo !!!! Ha ha ha ha !!!! Con nhện thông tuệ, sẽ ăn nuốt vô minh, và vô minh là thức ăn của nó!!!”
Nhìn lại tất cả những bước tiến trong thấy biết ở giai đoạn này, con thấy nó được căn cứ, khởi nguồn từ nhiều thứ, nhưng cơ bản có thể liệt kê những điều sau:
1-Thứ nhất là phải từ quá trình thực chứng chắc thật. Con rất may mắn là thời kì con thực chứng, Thầy liên tục đặt ra các câu hỏi cũng như trò chơi trí tuệ, để con có thể quay lại, đặt cái chỗ chứng của mình lên bàn, nhìn lại, ngắm nghía nó, từ đó con hiểu ra thêm, sâu chuỗi rất nhiều điều.
2-Thứ 2 là kiến thức, từ Thầy, từ kinh tạng Chư Phật. Quá nhiều châu báu Thầy rải khắp trong các cuốn sách, các bài viết, các buổi sinh hoạt. Đọc đi đọc lại, nghe đi nghe lại, tư duy thấu đáo, thấy được rất nhiều điều.
3-Thứ 3 là thực hành và thực hành. Chỉ có thực hành mới có thể biến kiến thức thành tri kiến, từ tri kiến mới phát sinh trí tuệ sản sinh ra phương tiện. Bồ tát đạo là cái đạo thực hành. Đạo trí tuệ là cái đạo “lấy ba cõi làm nhà” không cầu đoạn kiết sử, cũng chẳng nhàm chán sanh tử. Chứ chẳng phải cái đạo ngồi đó, nơi Niết bàn tự thân, mà suy luận trên lý thuyết, từ văn tự. Những suy luận từ lý thuyết, từ văn tự chỉ có thể là sản phẩm của ý căn, chẳng phải mầm Trí tuệ.
4-Thứ 4 là mọi nguồn: Từ chính câu nói câu chuyện của chúng sanh, từ những bài viết những kinh nghiệm cá nhân được các huynh đệ chia sẻ, từ một nhân duyên nào đó trên đời. Tựu trung lại, giống như lời Thầy đã dạy, đại ý: Cái xe nó cứ đi, đi đến đâu gặp cái gì nó cũng dùng cái đó làm nguyên liệu được, thì cái xe ấy cứ chạy, chạy đến khi nào banh xác thì thôi, chứ chẳng có quy tắc hay ngăn ngại gì !!!
Thầy kính,
Con tự thấy mình như anh sinh viên vừa học vừa làm. Chân đã bước đi, tay này đã cuốc nên con đường cũng gọi là bắt đầu được khai phá. Tuy nhiên, bàn tay này còn thô vụng, trí tuệ này còn non trẻ nên chẳng tránh được những cái lọc cọc, ổ gà, ổ trâu. Con trình bày những thấy biết trong thời điểm hiện tại của con, kính mong được Thầy, được các HĐTM chỉ dạy thêm, để con sớm thấy điều cần thấy, thành tựu những điều cần thành tựu!!!
Con chân thành tri ân Thầy và kính lạy Thầy muôn ngàn ức lạy,
Con, Lý Phương Anh